Chương
7
LUÂN
LÝ VỀ HẠNH
Tôi
từng đề nghị, nếu chúng ta muốn hạnh phúc chân thật,
thì giới luật nội tại rất cần thiết. Tuy thế, chúng ta
không thể ngưng ở giới luật. Mặc dù nó có thể ngăn ngừa
ta thực hiện các hành sai quấy rất tiêu cực, nhưng chỉ
giới luật không chưa đủ khiến ta đạt hạnh phúc với đặc
tánh an bình nội tại. Muốn chuyển hóa được chính mình
— các thói quen và xu hướng — sao cho mọi hành động đều
từ bi, cần phải phát huy được điều có thể gọi là "luân
lý về hạnh". Cùng lúc với sự giới chế ý niệm và cảm
xúc tiêu cực, ta còn cần phải vun trồng và tăng cường các
phẩm hạnh tích cực. Các phẩm hạnh tích cực đó là gì?
Các phẩm tánh cơ bản của loài người, hoặc đức hạnh
tâm linh.
Sau
từ bi (nying je), hạnh chủ yếu kế tiếp tiếng Tây tạng
gọi là "so pa". Một lần nữa, ta lại có một chuyên từ có
vẻ không sẵn có từ tương đương trong ngôn ngữ khác, mặc
dù ý nghĩa tiềm chứa vốn rất phổ thông. Thông thường,
"so pa" được dịch là "nhẫn nại," mặc dù tự nghĩa của
nó là "có thể chịu đựng" hoặc "có thể chống lại." Nhưng
từ này còn chứa một khái niệm về sự quyết định. Nó
nói lên một phản ứng cẩn trọng (đối nghịch với phản
ứng phi lý) chống lại ý niệm và cảm xúc tiêu cực mạnh
mẽ có xu hướng trổi dậy khi ta gặp nguy hiểm. Như thế,
"so pa" là thứ tạo cho ta sức mạnh để chống kháng đau khổ
và bảo vệ khỏi đánh mất tâm từ bi ngay dù đối với kẻ
làm hại ta.
Trong
hạn định này, tôi nhớ lại thí dụ của Lopon-la, một tăng
sĩ ở Namgyal, tu viện riêng của Đạt lai Lạt ma. Sau khi tôi
thoát khỏi Tây tạng, Lopon-la là một trong nhiều ngàn tăng
ni và viên chức bị các lực lượng xâm chiếm bắt giam. Cuối
cùng được phóng thích, ông được phép đến Ấn độ, nơi
đó, ông tái nhập tu viện cũ của mình. Hơn hai mươi năm
kể từ lần cuối được gặp ông, giờ tôi thấy Lopon-la
cũng chẳng khác gì trong hồi ức của tôi là bao. Ông già
hơn, dĩ nhiên, nhưng về vật lý không bị hư hao, và về tinh
thần, tình cảnh tệ hại đã không ảnh hưởng ông chút nào.
Sự nhẹ nhàng và thanh tịnh vẫn còn nơi ông. Trong khi trò
chuyện, tôi được biết ông đã phải chịu đựng sự đối
xử vô cùng khắc nghiệt trong suốt những năm dài bị giam
cầm. Giống như những người khác, ông là đối tượng để
"học tập cải tạo," trong suốt thời gian đó ông bị bắt
buộc phải từ bỏ tôn giáo, và nhiều lần bị hành hạ tra
tấn. Khi tôi hỏi có khi nào ông sợ hãi chăng, ông nhìn nhận
chỉ có một điều khiến ông lo sợ: đó là có thể bị mất
đi tâm từ bi và quan ngại đến các kẻ giam cầm mình.
Tôi
rất cảm động vì điều đó, và rất cảm hứng. Nghe câu
chuyện của Lopon-la càng xác quyết điều tôi hằng tin. Đó
là không phải chỉ có thân thể vật lý của một người,
hoặc trí thông minh hay giáo dục, hoặc cả đến điều kiện
xã hội, có thể cho phép họ chịu đựng gian khổ. Điều
ý nghĩa hơn nhiều chính là trạng thái tâm linh của họ. Và
trong khi một số có thể sanh tồn bằng nghị lực đơn thuần,
thì những người đau khổ ít nhất chính là người đạt
đến một trình độ cao của "so pa".
Nhẫn
nại và nghị lực (can đảm đối diện cùng kẻ địch) là
hai chữ tương đối gần với ý nghĩa của "so pa" ở trình
độ thứ nhất. Nhưng khi một người triển khai được nhiều
hơn, đó là thái độ trong khi đối kháng, một cảm thức
về sự không bị quấy nhiễu, phản ánh một sự cố tình
chấp nhận tân khổ hầu theo đuổi một mục tiêu tâm linh
cao hơn. Điều đó bao gồm việc chấp nhận thực tế của
trạng huống qua nhận thức rằng, bên dưới đặc thái đó,
là một mạng lưới phức tạp của các nhân duyên và điều
kiện liên hệ với nhau.
"So
pa" như thế là phương tiện giúp chúng ta thật hành chân bất
bạo động. Nó cho phép chúng ta không những giới chế được
các phản ứng vật lý khi bị kích động, mà còn cho phép
ta buông bỏ được các ý niệm và cảm xúc tiêu cực. Chúng
ta không thể nói đến "so pa" khi chịu thua cho một người
qua sự thù hiềm hoặc oán hận. Thí dụ, một viên chức cao
cấp trong sở cứ làm ta khó chịu mà ta bắt buộc phải trì
hoãn phản ứng mặc dù có cảm tưởng xấu, như thế không
phải là "so pa". Tinh túy của "so pa" là sự nhẫn nại kiên
quyết trước mặt đối phương. Nói cách khác, người hành
kiên trì chịu đựng vốn quả quyết không chịu thua trước
các thúc đẩy tiêu cực (được kinh nghiệm như cảm xúc phiền
nhiễu dưới hình thức của giận dữ, thù ghét, muốn trả
thù, vân vân) mà chỉ chống trả cảm thức bị thương tổn
và ý muốn dĩ oán báo oán.
Không
điều nào trên đây có ý muốn phủ nhận cũng có những lúc
thích đáng để phản ứng lại cùng kẻ khác bằng các biện
pháp mạnh. Cũng không phải thật hành nhẫn nại theo nghĩa
mô tả trên, là phải chấp nhận tất cả mọi điều kẻ
khác làm và chỉ chịu thua đơn giản.
"So
pa" không nên bị lẫn lộn với sự thụ động đơn thuần.
Trái lại, còn phải chọn nhận một thái độ đối kháng
mạnh mẽ mới đúng nghĩa thật hành "so pa". Có những lúc
trong đời của bất kỳ ai, các ngôn từ cứng rắn — thậm
chí cả sự va chạm vật lý — phải được dùng đến. Nhưng
vì sự bình tỉnh bên trong đã được bảo toàn, chứ không
bị tràn ngập bởi các ý niệm và cảm xúc tiêu cực, nên
"so pa" có nghĩa là ta ở một vị thế mạnh mẽ hơn để lượng
định một phản ứng bất bạo động thích đáng. Do vậy,
ta thấy đó chính là đối cực của sự hèn nhát. Hèn nhát
trổi dậy khi ta mất tự tin do bởi sợ sệt. Nhẫn nại chịu
đựng có nghĩa là chúng ta vẫn kiên định cho dù có sợ.
Khi
nói đến chấp nhận, tôi không ngụ ý là chúng ta không thể
làm bất cứ điều gì trong quyền lực hầu giải quyết các
vấn đề đến lúc khả thi. Nhưng trong trường hợp hiện
đang đau khổ — mà ta đã nhận chịu trước đó — chấp
nhận có thể giúp đảm bảo cho kinh nghiệm không bị trộn
vào thêm các thứ gánh nặng đau khổ tinh thần và cảm xúc.
Thí dụ, không có điều gì ta có thể làm được trước tuổi
già. Tốt hơn là chấp nhận các điều kiện của nó thay vì
sợ hãi. Thật vậy, tôi thường cảm thấy sự kiện các người
già lão cứ muốn làm ra vẻ trẻ trung là điều hơi rồ dại.
Nhẫn
nại chịu đựng, như thế, là một phẩm hạnh giúp chúng
ta ngăn ngừa các ý niệm và cảm xúc tiêu cực đến xâm nhập.
Nó bảo toàn cho an bình nội tại trước trở lực. Khi thật
hành nhẫn nại bằng cách đó, hành vi của ta có tánh thiện
lành hợp luân lý. Như ta đã thấy, bước đầu trong việc
thật hành luân lý là kiểm soát phản ứng trước ý niệm
và cảm xúc tiêu cực khi chúng khởi dậy. Bước kế tiếp
— điều phải làm sau khi đã đạp thắng — là đối kháng
lại sự thách đố bằng sự nhẫn nại.
Ở
đây, độc giả có thể phản đối là chắc chắn có những
trường hợp không thể làm được. Có những lúc kẻ thân
cận ta nhất, biết hết các nhược điểm của ta, đối xử
với ta một cách không thể nào ngăn được cơn giận tràn
đến vượt mọi khả năng kháng chế? Trong các trường hợp
đó, thật ra ta có thể thấy không sao giữ được tâm từ
bi đối với kẻ khác, nhưng ít ra ta nên giữ gìn đừng phản
ứng bạo động hoặc hung hăng. Rời phòng và ra ngoài đi bộ,
hoặc đếm hai mươi hơi thở dài, có thể là điều tốt nhất:
ta cần tìm cách nào đó để lắng dịu xuống một chút. Đó
là vì sao ta cần phải đặt việc thật hành nhẫn nại làm
trọng tâm trong đời sống hàng ngày. Đó là vấn đề thân
quen cùng nó ở trình độ sâu xa nhất, sao cho mỗi khi gặp
hoàn cảnh khó khăn, mặc dù cho phải nỗ lực thêm, ta vẫn
còn nhận biết có những gì dính dấp trong đó. Mặt khác,
nếu ta cứ lơ là việc thật hành nhẫn nại cho đến khi phải
kinh nghiệm trở ngại, hẳn ta rất khó thành công trong việc
khắc phục thách đố.
Một
trong các phương cách tốt nhất để khởi sự làm quen cùng
đức tánh nhẫn nại, hoặc "so pa", đó là bỏ thời giờ quán
chiếu có hệ thống về các lợi lạc của nó. Nó là nguồn
của sự tha thứ. Hơn nữa, không gì có thể vượt qua "so
pa" trong việc bảo toàn sự quan tâm đến tha nhân của ta,
cho dù họ hành xử ra sao. Khi "so pa" được phối hợp cùng
khả năng phân biệt giữa hành động và tác nhân, tha thứ
tự nhiên khởi dậy. Nó cho phép ta vẫn giữ được sự phán
đoán về hành động, và cho phép ta có được tâm từ bi đối
với người. Tương tự, khi ta triển khai được khả năng
chịu đựng một cách nhẫn nại, ta thấy mình phát huy được
một bảo toàn cân phân sự điềm tĩnh và an nhiên. Ta sẽ
bớt tánh đối kháng và dễ hòa hợp hơn. Điều đó sẽ tạo
một không khí tích cực quanh ta khiến cho người khác dễ
liên hệ hơn. Và nhờ căn bản cảm xúc vững chắc qua việc
thật hành, chúng ta thấy chẳng những tinh thần và tâm linh
trở nên vững vàng, mà cả vật lý cũng khỏe mạnh. Tôi có
sức khỏe tốt chắc chắn nhờ tôi thường có tâm điềm
tĩnh và an bình.
Nhưng
lợi lạc quan yếu nhất của "so pa", hay nhẫn nại, nằm ở
sự kiện nó hành xử như một kháng dược mạnh mẽ trước
sự phiền nhiễu của sân hận — đe dọa lớn nhất cho sự
an bình nội tại và hạnh phúc. Thật vậy, chúng ta thấy nhẫn
nại là phương tiện tốt nhất để tự bảo vệ nội tâm
của mình chống lại các ảnh hưởng tàn hại do sân hận.
Thử quán xét: giàu có không thể nào bảo vệ khỏi sân hận.
Học thức cũng không, cho dù người đó uyên bác hoặc thông
minh đến đâu. Ngay cả luật pháp cũng không giúp gì được
trong vấn đề này. Và danh vọng cũng vô ích. Chỉ có sự
bảo vệ nội tâm của chịu đựng nhẫn nại mới có thể
giúp ta khỏi kinh nghiệm hỗn loạn của ý niệm và cảm xúc
tiêu cực. Tâm thức, hoặc tinh thần ("lo"), không phải là
vật lý. Nó không thể sờ chạm hoặc tác hại một cách trực
tiếp. Chỉ có ý niệm và cảm xúc tiêu cực có thể làm hại
nó. Do đó, chỉ có một phẩm tánh tích cực tương ứng mới
có thể bảo vệ được nó.
Trong
bước thứ nhì trong việc thân quen cùng đức tánh nhẫn nại,
rất cần nghĩ rằng nghịch cảnh không phải là mối đe dọa
lớn lao cho an bình nội tâm, ngược lại còn có thể dùng
như phương tiện hầu đạt được sự nhẫn nại. Qua phối
cảnh đó, chúng ta thấy những kẻ hại mình, trong một ý
nghĩa nào đó, lại là thầy của sự nhẫn nại. Những người
đó dạy chúng ta rằng, ta không bao giờ có thể học khi nghe
người khác nói, dù rằng họ khôn ngoan hay thánh thiện đến
đâu. Cũng như độc giả không thể hy vọng học được đức
hạnh chỉ nhờ việc đọc quyển sách này — trừ phi, dĩ
nhiên, nó buồn nản đến độ đòi hỏi phải kiên trì mới
đọc được! Đứng trước trở lực, chúng ta có thể học
giá trị của sự chịu đựng nhẫn nại. Và, đặc biệt,
kẻ hại ta lại cho ta cơ hội tốt để thật hành thái độ
giới luật.
Điều
đó không có nghĩa kẻ đó không chịu trách nhiệm về hành
động của họ. Nhưng chỉ để nhắc nhở rằng họ có thể
hành động phần lớn vì vô minh. Một đứa bé lớn lên trong
môi trường bạo động có thể không được biết cách hành
xử nào khác. Kết quả, vấn đề trách cứ trở thành thừa
thãi. Phản ứng thích đáng đối với người tạo khổ cho
ta — ở đây dĩ nhiên tôi không bàn đến các trường hợp
đối phương chống ta hợp lý, hoặc từ khước các yêu cầu
vô lý của ta — là nhận thức rằng trong khi tác hại, cuối
cùng họ đã đánh mất sự an bình nội tâm, sự quân bình,
và từ đó hạnh phúc của họ. Và điều tốt nhất chúng
ta làm được là khởi tâm từ bi đối với họ, đặc biệt
phải nhận biết nếu chỉ ước ao đơn giản nhìn thấy họ
bị đau sẽ không thể làm hại họ thật sự. Nó lại còn
chắc chắn sẽ làm hại cả chúng ta.
Thử
tưởng tượng hai người láng giềng đang tranh chấp nhau. Một
người xem nhẹ chuyện cãi cọ đó. Người kia bị ám ảnh
và âm mưu toan tính kế hoạch làm hại đối phương. Nhưng
điều gì xảy ra? Nuôi dưỡng nghiền ngẫm ác niệm trong lòng,
chẳng bao lâu người đó sanh bệnh. Khởi đầu là mất ăn,
rồi đến mất ngủ. Dần dà sức khỏe suy sụp. Người đó
ngày đêm khổ sở — kết quả đáng tức cười là — cuối
cùng đã giúp ước muốn của đối phương được trọn vẹn.
Thật
vậy, khi chúng ta suy nghĩ tận tường, có một điều gì không
hoàn toàn hợp lý khi đơn cử các cá nhân như là đối tượng
của sự sân hận. Thử làm một thực tập đơn giản bằng
sự tưởng tượng. Quán xét trường hợp một người dùng
lời lẽ ngược đãi chúng ta. Nếu ta cảm thấy nghiêng về
sân hận trong trường hợp bị thương tổn đó, phải chăng
tiêu điểm của cảm xúc ta là các lời lẽ đó, bởi vì chính
chúng làm thương tổn ta? Hoặc ta sân hận đối với cá nhân
đã la lối với ta? Có thể phản đối rằng, chính cá nhân
đó đã la lối, và chúng ta đúng khi đặt trách nhiệm đạo
đức lên kẻ đó chứ không phải lên lời của hắn. Điều
đó có thể đúng. Nhưng đồng thời, nếu ta giận vì điều
thật sự tạo ra cơn đau, thì chính lời lẽ mới là nguyên
nhân trực tiếp. Hơn nữa, ta có thể trút cơn giận của mình
lên điều đưa kẻ đó đến hành động ngược đãi ta, tức
là các cảm xúc tiêu cực hay không? Bởi vì nếu kẻ đó điềm
tĩnh và an bình, hắn sẽ không hành xử như thế. Vậy mà
trong ba yếu tố đó — lời lẽ gây thương tổn, người la
lối chúng, và các động cơ tiêu cực thúc đẩy chúng —
ta lại hướng cơn giận của mình vào người đó. Có một
điều gì ở đây không được thông suốt lắm.
Nếu
phản đối như là bản chất của kẻ ngược đãi mới chính
thật là nguyên nhân của sự thương tổn, thì ta lại không
có căn cứ hợp lý cho cơn giận đối với cá nhân đó. Nếu
bản chất tối hậu của người đó là ác cảm đối với
chúng ta, thì họ không thể nào hành xử khác đi. Trong trường
hợp này, giận họ chỉ là vô nghĩa. Nếu ta bị đốt cháy,
thật vô nghĩa nếu nổi giận cùng lửa. Bởi vì bản chất
của lửa là đốt cháy. Nhưng để nhớ lại rằng khái niệm
về ác cảm cố hữu hoặc sự tà ác cố hữu là điều giả
tạo, chúng ta thử xét trường hợp trong các hoàn cảnh khác
nhau, một người từng làm hại ta vẫn có thể trở thành
bạn tốt. Chẳng có gì là lạ khi nghe các câu chuyện về
các chiến sĩ của hai phe thù địch lại trở thành đồng
minh trong thời bình. Và hầu hết chúng ta đều có kinh nghiệm
gặp được những người từng có tiếng xấu lại trở thành
rất dễ mến.
Dĩ
nhiên tôi không đề nghị chúng ta phải luôn nên đưa các
quán chiếu trên vào bất cứ hoàn cảnh nào. Khi ta bị đe
dọa thân thể, tốt nhất nên tập trung năng lực, không phải
vào việc lý luận như trên, mà nên bỏ chạy đi! Nhưng rất
hữu ích nếu chịu bỏ thì giờ làm quen cùng các khía cạnh
và lợi ích đa diện của sự nhẫn nại. Điều này có thể
giúp ta đương đầu cùng mọi trở lực với một thái độ
xây dựng.
Tôi
đã nói đến "so pa", hoặc nhẫn nại, tác động như một
đối lực trước sân hận. Thật vậy, đối với bất cứ
trạng thái tiêu cực nào, chúng ta đều có thể nhận ra một
thứ đối kháng cùng nó. Thí dụ, khiêm tốn đối kháng kiêu
mạn; hài lòng đối kháng tham dục; tinh tấn đối kháng phóng
dật. Do đó, nếu chúng ta muốn vượt qua trạng thái bất
thiện khởi từ sự bành trướng của các ý niệm và cảm
xúc tiêu cực, thì việc vun trồng đức hạnh không thể tách
rời khỏi giới luật phản ứng trước cảm xúc tiêu cực.
Chúng đi sát bên nhau.
Chính
vì vậy mà kỷ luật luân lý không thể thu hẹp chỉ trong
sự giới chế hoặc chỉ qua sự xác định các phẩm tánh
tích cực.
Để
thấy rõ tiến trình giới luật song đôi cùng hành động đối
kháng như thế nào, thử quán xét về sự lo âu. Có thể mô
tả đó là một hình thái của lo sợ, nhưng có một cấu tạo
tinh thần phát huy cao hơn. Ta bị buộc phải đối kháng cùng
các kinh nghiệm và sự kiện đã từng quan tâm đến. Nhưng
từ sự quan tâm chuyển thành lo âu khi ta bắt đầu nghiền
ngẫm và để cho trí tưởng thêm vào các phản ảnh tiêu cực.
Rồi ta bắt đầu cảm thấy lo âu và phiền muộn.
Và
nếu càng buông thả vào phiền muộn, ta lại càng tìm thấy
nhiều lý do hơn cho nó. Cuối cùng, ta sẽ thấy mình đang ở
trong một trạng thái khốn khổ thường xuyên. Trạng thái
này càng phát triển, thì ta càng giảm khả năng hành động
đối kháng, và nó càng mạnh mẽ hơn lên. Nhưng nếu suy nghĩ
cẩn thận, chúng ta thấy bên dưới tiến trình này là một
nhãn quan hạn hẹp và thiếu phối cảnh thích đáng.
Điều
này khiến ta quên khuấy là sự vật và sự kiện vốn hiện
hữu như kết quả của vô số nguyên nhân và điều kiện.
Ta cứ tập trung vào chỉ một hoặc hai khía cạnh của hoàn
cảnh. Khi làm vậy, ta khó tránh tự hạn chế trong việc tìm
ra phương thức vượt qua các khía cạnh đó. Vấn đề là
nếu ta không thể làm vậy, sẽ có nguy cơ mất hẳn đạo
đức. Như thế, bước đầu để vượt khỏi lo âu là triển
khai được một phối cảnh thích đáng cho hoàn cảnh của
ta.
Điều
đó có thể làm bằng nhiều phương cách khác nhau. Một cách
hữu hiệu nhất là cố chuyển trọng điểm ra khỏi cái ngã
và hướng về tha nhân. Khi thành công trong điều này, chúng
ta sẽ thấy tỷ lệ khó khăn của vấn đề riêng tư giảm
bớt. Không phải chúng ta nên quên đi nhu cầu tổng quát của
mình, mà đúng hơn nên cùng lúc nhớ đến cả nhu cầu của
tha nhân, cho dù đang bị cấp bách đến đâu. Điều này hữu
ích, vì khi sự quan tâm đến tha nhân được chuyển vào hành
động, ta tức khắc tìm được sự tự tin, và phiền muộn
lo âu giảm bớt. Thật vậy, hầu hết các đau khổ tinh thần
và cảm xúc đều như một nét chính của đời sống hiện
đại — bao gồm cả cảm thức tuyệt vọng, cô đơn, vân
vân — sẽ giảm thiểu khi ta bắt đầu dấn thân vào hành
động với động lực quan tâm đến tha nhân. Theo ý tôi, điều
đó giải thích được, nếu chỉ thể hiện hành động tích
cực bằng bề ngoài, không đủ để giảm thiểu lo lắng.
Khi động cơ bên dưới vượt quá mục tiêu ngắn hạn của
ta, thì ta chỉ gia tăng thêm vấn đề mà thôi.
Còn
những trường hợp cảm thấy như bất mãn cả trọn đời,
và có lúc đau khổ ngập tràn — điều mà thỉnh thoảng xảy
đến cho tất cả mọi người với mức độ khác nhau? Nếu
điều này xảy ra, quan trọng nhất là phải nỗ lực tìm cách
nâng cao tinh thần. Chúng ta có thể làm thế bằng cách hồi
tưởng các sự may mắn trong đời. Chúng ta có thể, chẳng
hạn như, từng được người nào thương yêu; có thể có
tài năng nào đó; có thể nhận được một nền giáo dục
tốt; có thể có đầy đủ các nhu cầu căn bản — thức
ăn, áo quần, nhà cửa —; có thể làm được vài việc thiện
trong quá khứ. Không khác nào một ngân hàng thu tiền lời
cho dù trên các món nợ nhỏ nhất, chúng ta có thể cứu xét
mỗi khía cạnh tích cực dù nhỏ nhặt nhất trong đời mình.
Bởi vì nếu thất bại trong việc nâng cao tinh thần, ta sẽ
gặp nguy cơ chìm đắm vào trong ý nghĩa bất lực. Điều này
khiến ta sẽ tin tưởng mình hoàn toàn bất lực. Từ đó tạo
thành điều kiện của sự tuyệt vọng. Ở điểm đó, tự
tử là điều duy nhất để lựa chọn.
Trong
nhiều trường hợp vô vọng và tuyệt vọng, chúng ta thấy
vấn đề chính do nhận thức của cá nhân về hoàn cảnh của
họ hơn là do thực tế. Thật vậy, không thể giải quyết
thiếu sự cộng tác của người khác. Trong trường hợp đó,
vấn đề trở thành yêu cầu người khác giúp đỡ. Tuy nhiên,
quả thật có những hoàn cảnh hầu như vô vọng. Đây là
lúc đức tin tôn giáo có thể trở thành nguồn an ủi, nhưng
đó lại là một đề tài khác.
Một
luân lý về hạnh gồm có những gì khác nữa? Như nguyên tắc
tổng quát, điểm trọng yếu là tránh cực đoan. Tương tự
như ăn nhiều quá hoặc ít quá đều có hại, sự theo đuổi
và thật hành đức hạnh cũng thế. Chúng ta nhận thấy ngay
cả các nguyên nhân cao thượng khi đưa đến cực đoan cũng
trở thành một nguồn tác hại. Thí dụ, can đảm quá độ
và bất kể tình huống nào sẽ nhanh chóng trở thành điên
rồ. Thật vậy, cực đoan làm mai một các mục tiêu chính
của việc thật hành đức hạnh, sẽ làm sai lệch khuynh hướng
của ta qua các phản ứng tinh thần và cảm xúc quá trớn đối
với tha nhân hay sự kiện, và tạo cho ta sự đau khổ khó
tránh.
Điều
quan trọng cần nhớ là, trong việc chuyển hóa tâm và trí
sao cho hành động của ta có tánh luân lý tự khởi, đòi hỏi
ta phải đặt sự theo đuổi đức hạnh làm trọng tâm của
đời sống hàng ngày. Đó là vì thương yêu và từ bi, nhẫn
nại, tử tế, khiêm tốn, vân vân đều có tánh bổ sung. Và
bởi vì rất khó thanh lọc mọi cảm xúc phiền nhiễu, nên
ta phải tự kết thân cùng các đối lập của chúng ngay trước
khi ý niệm và cảm xúc tiêu cực khởi dậy. Thí dụ, sự
vun bồi lòng quảng đại rất cần để đối kháng xu hướng
giữ của quá kỹ và năng lực bỏ vào việc đó. Thật hành
bố thí giúp ta vượt qua thói quen sẻn tham, mà ta thường
tự biện bạch bằng cách nói, "Tôi sẽ còn lại thứ gì nếu
bắt đầu cho đồ vật của mình đi?"
Bố
thí hay trao tặng được nhận thức như một đức hạnh trong
tất cả mọi tôn giáo và xã hội văn minh, và nó rõ ràng
có lợi cho cả người cho lẫn người nhận. Người nhận
được nhẹ bớt gánh nặng của nhu cầu. Người cho được
thoải mái vì niềm vui mà món quà của mình mang lại cho tha
nhân. Đồng thời, phải nhận thức rằng có rất nhiều hạng
loại và mức độ bố thí hay trao tặng. Khi ta cho với động
cơ bên dưới là để tô điểm hình ảnh của mình trước
người khác — hầu nổi tiếng hoặc khiến họ nghĩ ta có
đức hạnh hoặc thánh thiện — ta đã làm hoen ố hành động
đó. Trong trường hợp đó, điều ta đang thật hành không
phải là lòng quảng đại, mà là việc tự thổi phồng lên.
Tương tự, kẻ cho thật nhiều có khi cũng chẳng quảng đại
hơn người cho ít. Tất cả tùy thuộc vào phương tiện và
động cơ của người cho.
Mặc
dù không phải là thay thế, nhưng trao tặng thời giờ và năng
lực cũng tiêu biểu cho một loại tặng phẩm còn cao hơn là
tặng quà cáp. Ở đây tôi đặc biệt nghĩ đến món quà phục
vụ cho những người khuyết tật tâm thần hoặc thể xác,
cho người không nhà, cho người cô đơn, cho người bị giam
cầm, và người từng bị giam cầm. Nhưng loại trao tặng đó
còn gồm cả, chẳng hạn như các vị thầy đã trao truyền
kiến thức của mình đến học trò. Như thế, theo tôi hiểu,
hình thức từ bi nhất của bố thí là khi nó được làm mà
không có ý niệm hoặc cầu vọng sự đền trả hoặc tưởng
thưởng nào, và đặt nền tảng trên sự quan tâm chân thật
đến tha nhân. Đó là vì khi ta càng nới được tụ điểm
tích lũy lợi tha rộng bao nhiêu, thì càng thiết lập được
nền tảng hạnh phúc tự lợi vững chắc bấy nhiêu.
Bảo
rằng khiêm tốn là một chất liệu chủ yếu cho sự thật
hành chuyển hóa, thoạt nghe có vẻ không phù hợp với sự
phát biểu về nhu cầu tự tin. Nhưng cũng vì có thể phân
biệt rõ rệt giữa loại tự tin hiệu lực, mang ý nghĩa tự
trọng, và loại tự phụ — mà ta có thể mô tả như là một
nhận thức về tầm quan trọng đặt nền tảng trên hình ảnh
giả tạo của ngã — do đó cần phân biệt giữa khiêm tốn
thật sự, như một sự nhũn nhặn, khác với sự thiếu tự
tin. Hai thứ hoàn toàn khác biệt, tuy lại hay bị lẫn lộn.
Điều này có thể giải thích phần nào, tại sao hiện nay
khiêm tốn lại bị xem như là một nhược điểm hơn là chỉ
dấu của sức mạnh nội tại — đặc biệt trong sinh hoạt
doanh thương và nghiệp vụ. Đương nhiên, xã hội hiện đại
không thích ứng cho khiêm tốn, khác với vị thế tại Tây
tạng, hồi tôi còn bé. Khi đó, cả nền văn hóa lẫn dân
tộc đều có sự ngưỡng mộ cơ bản đến khiêm tốn, tạo
một khí hậu phù hợp cho sự nảy nở của đức hạnh này,
trong khi tham vọng (cần phân biệt khác với nguyện vọng thích
đáng muốn thành tựu trong các nhiệm vụ thiện lành) được
xem như là một đặc tánh khác dễ dẫn đến tư tưởng hướng
ngã. Tuy thế trong cuộc sống hiện đại, khiêm tốn lại quan
trọng hơn bao giờ cả. Con người càng thành công, cả cá
nhân lẫn gia đình qua sự phát triển khoa học và kỹ thuật,
lại càng cần phải bảo tồn sự khiêm tốn. Bởi vì các
thành quả tạm bợ càng lớn, thì chúng ta lại càng dễ bị
sa vào sự kiêu hãnh và ngã mạn.
Một
kỹ thuật hữu ích giúp phát huy được sự tự tin chân thật
và khiêm tốn, phản ánh qua thí dụ về những người hợm
mình là quan trọng trở thành trò cười cho người khác. Họ
có thể không ý thức được bề ngoài trông họ điên rồ
làm sao, nhưng đối với người khác thì thật hiển nhiên.
Tuy nhiên đây không phải là chuyện ngồi đánh giá người
khác. Đúng hơn đây là vấn đề đưa ta trở lại cùng các
hậu quả tiêu cực của các trạng thái tâm trí như thế.
Khi nhìn thấy, qua thí dụ của người khác, chúng ta có thể
lập quyết định tránh chúng. Nếu chỉ trên ý nghĩa đó,
chúng ta đã dùng nguyên tắc, ta không hại người chỉ vì
căn bản là không muốn người hại, và dùng sự kiện là
dễ nhận thấy sự sa ngã của kẻ khác hơn chấp nhận đức
tánh của họ. Cũng thế, rất dễ bắt lỗi kẻ khác hơn là
nhận lỗicủa mình.
Ở
đây tôi phải thêm vào, nếu khiêm tốn không thể lầm lẫn
với thiếu tự tin, thì nó lại chẳng có liên hệ gì đến
ý nghĩa của vô giá trị. Thiếu một nhận định thích đáng
về chân giá trị của mình luôn luôn là điều tai hại có
thể đưa đến một trạng thái phân liệt tinh thần, cảm
xúc và tâm linh. Trong trường hợp đó, cá nhân còn có thể
đi đến chỗ ghét bản thân mình; dù tôi phải thú nhận là
lần đầu tiên tôi nghe các nhà tâm lý học Tây phương giải
thích, tôi cảm thấy khái niệm tự ghét có vẻ thiếu chặt
chẽ. Nó có vẻ mâu thuẫn với nguyên tắc ước muốn nền
tảng của con người là hạnh phúc và tránh đau khổ. Nhưng
giờ thì tôi chấp nhận khi con người mất tất cả mọi ý
thức về phối cảnh, có nguy cơ tự ghét. Tất cả mọi người
đều có khả năng thiện cảm. Lại nữa, ta vẫn có khuynh
hướng hành thiện, ngay dù mới chỉ tượng hình qua ý niệm
tích cực. Giả thiết rằng ta vô giá trị quả là một điều
không đúng.
Một
cách khác hầu tránh sự hạn hẹp của nhãn quan có thể dẫn
đến các trạng thái cực đoan như tự ghét và tuyệt vọng,
là hãy vui theo sự tốt lành của người khác, bất cứ lúc
nào ta được gặp. Như một phần của cách thật hành này,
có thể sử dụng mọi cơ hội hầu bày tỏ sự kính trọng
người khác, ngay cả khích lệ họ bằng lời khen tặng khi
thích đáng. Nếu lời khen đó có thể bị xem như là nịnh
hót và khiến họ cảm thấy bị lừa, dĩ nhiên, tốt hơn là
nên giữ thiện chí đó một cách kín đáo. Và khi chính mình
được khen tặng, cần nhất là đừng để lời khen đó khiến
ta khoái trá và tưởng mình quan trọng. Thay vì vậy, hãy nhìn
nhận sự tử tế của người khác khi coi trọng phẩm chất
tốt của ta.
Triển
khai một thái độ hối tiếc và sám hối có thể dùng như
một phương tiện vượt qua các cảm xúc tiêu cực về chính
mình, khởi dậy liên kết với các trường hợp trong quá khứ
ta từng bỏ mặc cảm nghĩ của người khác và buông lung cho
các tham muốn ích kỷ và tư lợi của mình. Ở đây, độc
giả xin đừng nghĩ tôi đang biện thuyết cho một ý thức
tội lỗi mà rất nhiều bạn hữu Tây phương của tôi từng
nói đến. Trong ngữ vựng Tây tạng không có chữ gì có thể
dịch chính xác chữ "tội lỗi" ("guilt"). Và bởi vì sự liên
tưởng xã hội mạnh mẽ đó, tôi không chắc mình có hiểu
thật trọn vẹn khái niệm đó chăng. Nhưng đối với tôi,
trong khi thật tự nhiên và có thể hiểu là chúng ta có cảm
xúc khó chịu liên hệ đến các sai lầm quá khứ, đôi khi
phải có một yếu tố nhu nhược bản thân nào đó mới khiến
cho điều đó nới rộng ra thành cảm xúc tội lỗi. Không
có nghĩa lý gì khi cứ gậm nhấm một cách lo âu về các hành
động tác hại đã từng làm trong quá khứ, cho đến độ
phải tê liệt vì việc đó. Điều đã làm, đã qua đi. Nếu
người đó tin nơi Thượng đế, hành động thích đáng là
tìm phương thức nào đó để tái hợp cùng Ngài.
Cũng
như trong thật hành Phật giáo, có nhiều nghi thức và thật
hành thanh lọc. Khi cá nhân không có đức tin tôn giáo, quả
thật đây là vấn đề nhận thức và chấp nhận các cảm
xúc tiêu cực mà ta có thể liên hệ đến các việc làm sai,
và do đó triển khai một cảm thức hối tiếc và buồn rầu.
Tuy nhiên, thay vì ngưng lại ở việc hối tiếc và buồn rầu,
nên dùng đó như một căn bản để giải quyết, tạo một
trách nhiệm sâu xa hơn là không bao giờ làm hại đến người
khác nữa, và quyết định sẽ làm điều ích lợi cho tha nhân.
Việc phát lộ, hoặc thú tội, về hành động tiêu cực của
ta cùng một người khác — nhất là người mà ta thật sự
kính trọng và tin cẩn — cũng khá ích lợi trong trường hợp
đó. Trên hết, chúng ta nên nhớ rằng, một khi vẫn còn giữ
được sự quan tâm đến tha nhân, thì khả năng tự chuyển
hóa vẫn tồn tại. Chúng ta sai lầm nếu chỉ tự nhìn nhận
mức độ trầm trọng của lỗi lầm, và rồi, thay vì đối
diện cùng cảm xúc, lại đánh mất mọi hy vọng và không
làm gì cả. Điều đó chỉ tạo phiền phức sai lầm hơn.
Chúng
tôi có một thành ngữ Tây tạng là, sự dấn thân vào thật
hành một đức hạnh khó khăn như kéo một con lừa lên đồi,
trong khi dấn thân vào sinh hoạt phá hoại lại dễ dàng như
lăn đá tảng xuống dốc. Câu đó còn nói, các động cơ tiêu
cực khởi dậy đột phát như là mưa và tụ tập tức khắc
như nước đổ xuống do trọng lực. Điều khiến vấn đề
tệ hại hơn nữa là xu hướng dung dưỡng cho các ý niệm
và cảm xúc tiêu cực, ngay cả khi đồng ý rằng điều đó
không nên làm.
Do
đó, chủ yếu là hãy tác động thẳng vào thứ xu hướng
buông lung việc phải làm; bỏ thời giờ vào các sinh hoạt
vô nghĩa; và co rút tránh né trước thách thức của sự chuyển
hóa các thói quen chỉ vì công tác đó quá lớn lao. Đặc biệt,
điều quan trọng là không nên cho phép mình buông xuôi trước
tầm mức lớn lao của sự đau khổ của tha nhân. Sự đau
khổ của bao nhiêu triệu người không phải là một duyên
do để thương hại. Đó là duyên do để phát huy tâm từ bi.
Chúng
ta còn phải nhìn nhận đã thất bại trong cách hành xử khi
rõ ràng là hành động tuy cần thiết đó lại có tánh tiêu
cực. Cho dù bất động trước cơn giận, sự độc ác hoặc
tham dục, cảm xúc phiền nhiễu cũng đủ xem như là yếu tố
động lực. Điều đó đúng trong các việc giản dị cũng
như trong các trường hợp phức tạp hơn. Nếu người chồng
không cảnh cáo người vợ về một cái dĩa nóng mà bà sắp
nhặt lên, chỉ vì ông ta muốn bà vợ bị bỏng, rõ ràng cảm
xúc phiền nhiễu đã hiện hữu. Mặt khác, khi bất động
chỉ là kết quả của sự buông lung, trạng thái tinh thần
và cảm xúc của cá nhân tuy không quá sức tiêu cực, nhưng
hậu quả vẫn rất nghiêm trọng; vì sự bất động đó cũng
thuộc vào loại ý niệm và cảm xúc tiêu cực, như là sự
thiếu vắng tâm từ bi. Như thế điều quan trọng là chúng
ta phải quả quyết vượt qua xu hướng thói quen biếng nhác,
cũng ngang bằng với sự thật tập giới luật trong các phản
ứng trước cảm xúc phiền nhiễu.
Đó
không phải là một trách vụ dễ dàng, và những người có
tâm đạo phải hiểu rõ, không có phép lành cũng không có
điểm hóa — trừ phi ta có khả năng tiếp nhận — hoặc
một thứ công thức bí mật hoặc nhiệm mầu nào, hoặc thần
chú và nghi thức nào — trừ phi ta có thể khám phá — có
thể giúp ta đạt đến một sự chuyển hóa ngay tức khắc.
Nó chỉ đến từng chút từng chút một, chẳng khác nào như
xây dựng một tòa lâu đài phải đắp gạch từng viên từng
viên một; hoặc là như một thành ngữ Tây tạng nói, biển
cả được cấu thành qua từng giọt từng giọt một. Trong
khi đó, không giống như thân thể ta rồi sẽ bệnh, lão, hao
mòn, cảm xúc phiền nhiễu không bao giờ có tuổi, cần phải
nhận thức rằng làm việc với chúng là một cuộc đấu tranh
trọn đời. Độc giả cũng không nên giả thiết là chúng
ta đang nói chuyện ở đây về sự thu thập một thứ kiến
thức nào đó.
Đây
cũng không phải vấn đề triển khai một sự xác tín nào
có thể đến từ kiến thức đó. Điều chúng ta nói đến
là việc đạt được một kinh nghiệm về đức hạnh nhờ
thật hành thường xuyên và thân quen với nó đến độ biến
thành tự khởi. Điều chúng ta thấy là khi càng triển khai
được sự quan tâm đến lợi tha, càng dễ đi đến hành xử
cho tha lợi. Khi chúng ta học được thói quen về nỗ lực
đòi hỏi đó, việc tranh đấu sẽ nhẹ nhàng hơn. Dần dà,
nó trở thành một bản chất thứ hai. Nhưng không thể có
con đường tắt.
Dấn
thân vào sinh hoạt đạo đức hơi giống như nuôi dưỡng một
đứa bé. Có rất nhiều yếu tố liên hệ. Và, đặc biệt
lúc ban đầu, chúng ta cần phải thật thận trọng và khéo
léo trong sự tận hiến hầu cải thiện thói quen và xu hướng
của mình. Chúng ta cũng cần phải thực tế về điều ta mong
sẽ đạt đến. Phải mất một thời gian dài để ta trở
nên ta hiện giờ, và thói quen không thể thay đổi một sớm
một chiều. Vì thế, trong khi các dấu hiệu tiến bộ hiện
ra là điều tốt, nhưng lại sai lầm khi lượng định thái
độ của ta bằng cách dùng một lý tưởng nào làm tiêu chuẩn;
giống như ta thật điên rồ khi dùng trình độ đại học
để đánh giá việc học và thành tựu của con ta đang học
lớp vỡ lòng. Thành tựu là điều lý tưởng, chứ không phải
là tiêu chuẩn. Cũng bởi lý lẽ này, làm việc đều đặn
như một dòng nước xuôi chảy về phía mục tiêu chuyển hóa
sẽ hữu hiệu hơn các nỗ lực đầy hùng khí nhưng ngắn
ngủi nối tiếp bằng thời gian dài buông lung, hữu hiệu hơn
rất nhiều.
Một
phương pháp rất hữu ích giúp ta duy trì được sứ mạng
chuyển hóa trọn đời này, đó là áp dụng một thời khóa
biểu có thể điều chỉnh theo tầm mức tiến bộ. Dĩ nhiên,
cũng như trong việc thật hành đức hạnh nói chung, nếu sử
dụng một pháp thật hành tôn giáo là điều rất đáng khích
lệ. Nhưng không có lý do gì những người không tín ngưỡng
lại không thể sử dụng một số ý niệm và kỹ thuật đã
phục vụ cho nhân loại rất nhiều suốt mấy thiên niên kỷ.
Tạo một thói quen quan tâm đến tha lợi, và bỏ vài phút
hàng ngày khi vừa thức giấc để quán chiếu giá trị của
đời sống bằng một thái độ luân lý kỷ luật, đó là
cách tốt để khởi đầu, cho dù tín ngưỡng của ta là gì,
hoặc vả không có tín ngưỡng. Điều này cũng đúng khi bỏ
ít thời gian vào cuối ngày để thẩm định ta đã thành tựu
được bao nhiêu trong việc đó. Giới luật đơn giản như
vậy cũng đủ ích lợi trong việc triển khai quyết định
ngưng hành xử theo cách tự dung dưỡng nữa.
Nếu
các đề nghị trên có vẻ hơi nặng nhọc cho độc giả không
phải muốn đi tìm Niết-bàn hoặc cứu rỗi, mà chỉ muốn
đạt hạnh phúc của loài người, tưởng cần tự nhắc lại,
điều mang đến niềm vui và sự mãn nguyện lớn lao nhất
trong đời chính là các hành động ta làm vì quan tâm đến
người khác. Thật vậy, chúng ta có thể đi xa hơn. Bởi vì,
trong khi các câu hỏi căn bản về hiện hữu của loài người,
như tại sao ta ở đây, từ đâu ta đến, ta sẽ về đâu,
và vũ trụ có sự khởi đầu hay chăng... mỗi câu đều gợi
lên nhiều cách trả lời khác nhau theo các truyền thống triết
lý khác nhau; nhưng rõ rệt một điều là, một cái tâm quảng
đại và các hành động thiện lành quả thật dẫn đến một
sự an bình lớn lao. Điều cũng rõ như thế, là các thứ tiêu
cực đối nghịch sẽ mang đến các hậu quả không mong muốn.
Hạnh phúc vươn lên từ các duyên khởi đạo đức. Nếu ta
thật sự mong muốn hạnh phúc, không có cách hành xử nào
khác ngoài con đường đạo đức: đó là phương pháp để
thành đạt hạnh phúc. Và, chúng ta có thể thêm, căn nguồn
của đạo đức, nền tảng của nó, chính là giới luật luân
lý.