Phần
II - LUÂN LÝ VÀ CÁ NHÂN
Chương
6
LUÂN
LÝ VỀ NHẪN
Tôi
tin rằng sự triển khai tâm từ bi, mà hạnh phúc tùy thuộc
vào đó, đòi hỏi một khuynh hướng nhị phân. Một diện,
chúng ta cần phải giới hạn các yếu tố ngăn trở từ bi.
Mặt khác, chúng ta cần vun bồi các yếu tố tiếp dẫn từ
bi. Nhưng chúng ta đã thấy, những gì có tính cách tiếp dẫn
từ bi là tình thương, nhẫn nại, bao dung, tha thứ, khiêm cung,
vân vân. Điều ngăn trở từ bi là thiếu sự giới hạn nội
tại mà ta có thể nhận ra như nguồn gốc của mọi hành vi
vô luân. Bằng sự chuyển cải thói quen và xu hướng, chúng
ta có thể bắt đầu kiện toàn trạng thái tổng quát của
tâm và trí (kun long) — nơi từ đó hành động phát khởi.
Điều
trước tiên, bởi vì phẩm chất tâm linh tiếp dẫn từ bi
sẽ kéo theo hành vi luân lý tích cực, nên cần phải vun bồi
một thói quen giới luật nội tại. Tôi không phủ nhận đó
là một quyết định chủ yếu, nhưng ít ra chúng ta vốn đã
quen thuộc với nguyên tắc. Thí dụ, khi biết được tánh
chất hủy hoại, chúng ta sẽ giới chế bản thân mình và
con cái không dễ dãi trong việc dùng thuốc. Tuy nhiên, rất
quan trọng phải nhìn nhận rằng, giới hạn các phản ứng
trước ý niệm và cảm xúc tiêu cực không phải là vấn đề
chỉ đè nén chúng: điều quan yếu chính là nhận thấy rõ
tánh chất hủy hoại của chúng. Nếu chỉ được bảo rằng
ham muốn — một thứ cảm xúc có tiềm chất rất mạnh mẽ
và hủy hoại — là tiêu cực, sẽ không đủ cung ứng một
sức kháng cự mạnh mẽ đối với nó. Nếu chúng ta chỉ ra
lệnh cho đời sống ngoại diện nhưng lại bỏ quên đời
sống nội tâm, sẽ khó lòng tránh khỏi nghi hoặc, lo âu, và
các thứ nhiễu loạn khác bành trướng, rồi hạnh phúc xa
lìa ta. Đó là vì, không như giới luật vật lý, giới luật
nội tại — hoặc tâm linh — không thể đạt đến bằng
áp lực, mà chỉ bằng nỗ lực tự nguyện và tinh tấn. Nói
cách khác, hành xử một cách đúng luân lý bao gồm nhiều
hơn là chỉ tuân theo luật pháp hay giáo điều.
Tâm
vô giới luật chẳng khác nào như một con voi hoang. Nó đi
phá bậy ngoài tầm kiểm soát, sẽ gây tàn hại lớn lao. Nhưng
tác hại và đau khổ thường gặp như kết quả của thất
bại trong việc giới chế các thúc đẩy tiêu cực của tâm
còn vượt quá tác hại do một con voi phá phách. Không những
các thúc đẩy đó có thể mang đến sự tàn phá sự vật,
chúng còn có thể tạo thành một nỗi khổ dài lâu cho người
khác và chính ta. Nói thế không nghĩa là tâm (lo) vốn có tánh
tàn phá. Dưới ảnh hưởng của ý tưởng hoặc cảm xúc tiêu
cực mãnh liệt, tâm có vẻ như chỉ có một tánh chất đơn
biệt. Nếu như, lấy thí dụ, thù ghét là đặc tánh không
biến chuyển của tâm thức, thế thì tâm thức hẳn phải
luôn luôn thù ghét. Rõ rệt không phải như thế. Cần có một
sự phân biệt quan trọng giữa tâm thức như tự nó, và các
ý niệm cùng cảm xúc do tâm kinh nghiệm.
Tương
tự, trong khi thỉnh thoảng một kinh nghiệm mạnh mẽ có thể
xâm lấn chúng ta, sau đó khi quán xét lại, ta sẽ không thấy
cảm động nữa. Khi còn bé, tôi thường hay khích động quá
đáng, vào cuối năm, lúc nghỉ lễ "Monlam Chenmo". Đó là Đại
lễ Cầu nguyện đánh dấu sự khởi đầu của Tân niên Tây
tạng. Trong khả năng như một Đạt lai Lạt ma, tôi đóng vai
trò quan trọng trong lễ này, phải dời từ Potala sang một
dãy phòng tại đền Jokhang, một trong các thánh điện chủ
yếu của Tây tạng. Khi thời điểm càng cận kề, tôi càng
bỏ nhiều thời gian để mộng giữa ban ngày đến viễn ảnh
đó, nửa sợ và nửa mừng, và ngày càng học ít đi. Cảm
giác sợ hãi của tôi là do ý tưởng đến bài kệ thuyết
thật dài mà tôi phải đọc thuộc lòng trong chánh lễ, sự
khích động là do ý tưởng đi ngang qua đám đông khổng lồ
các người hành hương và thương khách bày hàng dài nơi khu
chợ ngay trước các cơ ngơi điện thờ. Mặc dù cả hai cảm
xúc vừa quá khích động lẫn quá sợ hãi tôi cảm thấy lúc
đó rất thật, nhưng ngày nay, nghĩ lại, tôi chỉ cười vì
các hồi niệm đó. Bây giờ thì tôi khá quen thuộc với đám
đông. Và, sau nhiều năm thật hành, việc đọc kệ không còn
làm tôi bối rối nữa.
Chúng
ta có thể nhận thức bản chất của tâm như là nước trong
hồ. Khi nước bị một cơn giông bão quậy dậy, bùn từ dưới
đáy sẽ vẩn lên, và nước đục ngầu. Nhưng bản chất của
nước không phải là dơ bẩn. Khi cơn giông qua đi, bùn lắng
xuống, và nước trong sạch trở lại. Cũng thế, mặc dù chúng
ta thường cho là tâm, hoặc trí, là một thực thể cố định
và bất biến, khi quán xét sâu xa hơn, ta thấy nó hàm chứa
cả một quang phổ các sự kiện và kinh nghiệm. Những thứ
này gồm cả các tri giác cảm xúc của ta, tiếp thụ các đối
tượng một cách trực tiếp, cũng như các ý tưởng và tình
cảm, qua phương tiện truyền đạt của ngôn ngữ và khái
niệm. Tâm rất năng động: bằng nỗ lực tinh tấn ta có thể
ảnh hưởng các biến chuyển trong trạng thái tinh thần và
cảm xúc. Chúng ta biết, chẳng hạn như, sự thoải mái và
tự tin có thể giúp đánh tan sợ hãi. Tương tự, các hình
thái cố vấn dẫn đến một sự tỉnh thức cao hơn, cùng
với sự thân ái, có thể giúp giải trừ áp lực tinh thần.
Sự
nhận xét thấy cảm xúc và tâm thức không cùng là một, cho
biết chúng ta không phải bị cảm xúc điều khiển. Trước
khi hành động, ắt có một sự kiện tinh thần và tình cảm
mà ta có thể được ít nhiều tự do phản ứng; mặc dù,
trừ phi học biết giới luật tâm trí, ta sẽ khó thật hành
được thứ tự do này. Lại nữa, cách phản ứng trước các
sự kiện và kinh nghiệm còn thẩm định nội dung đạo đức
của các hành động, trên tổng quát. Một cách giản dị,
điều đó có nghĩa, nếu chúng ta hành xử một cách tích cực,
đặt ích lợi của tha nhân trước bản thân, hành động của
ta sẽ tích cực. Nếu ta phản ứng tiêu cực, bỏ quên tha
nhân, hành động của ta tiêu cực và vô luân.
Theo
sự hiểu biết đó, chúng ta có thể nhìn tâm, hoặc trí, như
là một vị tổng thống hoặc một vị vua chúa rất liêm khiết,
rất trong sạch. Dưới cái nhìn đó, ý niệm và cảm xúc của
ta như các vị bộ trưởng. Một số trong bọn họ đưa ra
các lời cố vấn tốt, số khác lại xấu. Vài người đặt
sự an sinh của tha nhân làm mối quan tâm chính yếu, người
khác chỉ biết đến tư lợi hạn hẹp. Trách vụ của ý thức
chủ yếu — lãnh tụ — là phán quyết những người thừa
hành nào đưa ra lời cố vấn tốt, và người nào xấu, người
nào đáng tin cậy và người nào không, và phải hành động
theo lời khuyên của người này chứ không phải người kia.
Trong
ý nghĩa đó, sự kiện tinh thần và cảm xúc nào đưa ra các
lời khuyên xấu, có thể xem như là một hình thái của đau
khổ. Thật vậy, ta thấy rằng nếu cho phép chúng phát triển
ở một mức độ đáng kể, tâm sẽ bị đẫm đầy cảm xúc,
và ta sẽ kinh nghiệm một thứ rối loạn nội tại. Điều
đó cũng có một diện vật lý. Vào một giai đoạn giận dữ
nào, chẳng hạn, ta kinh nghiệm một rối loạn mạnh mẽ đến
sự quân bình thường lệ, điều đó người khác có thể
cảm nhận được. Tất cả chúng ta đều quen thuộc cùng sự
kiện toàn bộ không khí bị phá hỏng khi chỉ một người
trong gia đình đang khó chịu.
Khi
chúng ta nổi giận, cả người lẫn vật đều có xu hướng
muốn xa lánh. Đôi khi cơn rối loạn đó quá mạnh đến độ
thật khó chịu đựng nổi. Rồi có thể đi đến việc trút
lên đầu người khác. Khi làm vậy, chúng ta thể hiện ra bên
ngoài sự rối loạn bên trong của mình.
Không
hẳn bất cứ tình cảm hoặc cảm xúc nào gây khó chịu cho
ta đều nhất thiết là tiêu cực. Sự đóng góp tiên khởi
làm phân biệt được loại cảm xúc bình thường và loại
làm tiêu hao an bình chính là sự cấu thành nhận thức tiêu
cực của nó. Một giây phút phiền muộn không thể trở thành
nỗi sầu thê thảm trừ phi chúng ta cứ bám lấy nó và thêm
thắt vào đó các ý niệm và tưởng tượng tiêu cực.
Trong
trường hợp tôi kể trên, ngoài hai cảm xúc nền tảng —
vừa sự khích động tôi cảm thấy do đám đông người hành
hương và thương khách, vừa nỗi lo sợ tôi có vì phải đọc
thuộc lòng bài kệ quá dài — còn thêm vào trên đó một
yếu tố nhận thức. Qua các giấc mơ ban ngày khá ám ảnh,
sự tưởng tượng của tôi áp đặt một thứ gì vượt trên
thực tế của hoàn cảnh. Và đó là các câu chuyện tôi tự
bảo mình về sự kiện sắp xảy ra, đã làm tiêu hao sự thanh
tịnh cơ bản của tôi.
Không
phải bất cứ nỗi lo sợ nào cũng trẻ con như câu chuyện
tôi vừa kể. Có những trường hợp chúng ta kinh nghiệm một
loại sợ hãi duy lý hơn. Loại này, chẳng những không tiêu
cực, lại còn có thể thật sự hữu ích. Nó có thể giúp
chúng ta đề cao sự thức tỉnh, và tạo một số năng lực
cần thiết để tự bảo toàn. Vào đêm đầu tiên tôi trốn
khỏi Lhasa năm 1959, khi rời nhà trong trang phục như một người
lính, tôi đã cảm giác loại sợ hãi đó. Nhưng vì không có
thời giờ và cũng không muốn nghĩ đến, nó đã không làm
phiền tôi là bao. Ảnh hưởng lớn nhất của nó là giúp cho
tôi thật tỉnh táo. Có thể nói đó là một giai đoạn sợ
hãi vừa chánh đáng vừa hữu ích.
Nỗi
sợ chúng ta cảm thấy liên hệ đến một hoàn cảnh nào đó
khá tế nhị và quan trọng, có thể xem như chánh đáng. Ở
đây tôi nghĩ đến điều mà chúng ta cảm thấy khi phải đưa
ra một quyết định có một tầm ảnh hưởng đáng kể đến
đời sống của người khác. Nỗi sợ này có thể làm ta rối
loạn một cách nào đó. Nhưng nguy hiểm và tiêu cực nhất
là nỗi sợ hoàn toàn phi lý lại có thể phủ ngập và làm
tê liệt chúng ta.
Ở
Tây tạng, chúng tôi gọi loại sự kiện và cảm xúc tiêu
cực đó là "nyong mong", nghĩa là "điều phiền nhiễu đến
từ bên trong" hoặc như thường được dịch là "cảm xúc
phiền nhiễu." Qua nhãn quan đó, nói chung, tất cả các ý niệm,
cảm xúc, và sự kiện tinh thần phản ánh một trạng thái
tâm tiêu cực và thiếu từ ái sẽ làm tiêu hao kinh nghiệm
về an bình nội tại của ta. Tất cả các ý niệm và cảm
xúc — như hận thù, giận dữ, ham muốn, tham lam, tỵ hiềm,
vân vân — đều xem như là các thứ phiền nhiễu theo nghĩa
đó. Chúng ta thấy các cảm xúc phiền nhiễu này rất mạnh
nếu ta không làm việc gì để kháng chế chúng, mặc dù không
có thứ nào có giá trị đáng tồn tại, chúng lại có thể
đưa ta đến mức điên loạn và có khi tự tử.
Nhưng
bởi vì các cực đoan đó tương đối hiếm, ta cứ hay xem
cảm xúc tiêu cực như thành phần dính liền cùng tâm mà ta
chỉ có thể làm rất ít việc kháng chế chúng. Tuy nhiên,
nếu không nhận ra tiềm chất phá hoại của chúng, ta không
thể thấy sự cần thiết phải đối phó chúng. Trái lại,
ta còn có xu hướng nuôi dưỡng và tăng cường chúng. Điều
này tạo thêm đất cho chúng nảy nở. Tuy nhiên, nếu ta nhận
thấy được bản chất của chúng, vốn chỉ hoàn toàn là
phá hoại. Chúng là nguồn chủ yếu của hành vi vô luân. Chúng
là nền tảng của lo âu, ẩn ức, lẫn lộn, và căng thẳng,
vốn là nét đặc thù trong đời sống người đương đại.
Ý
niệm và cảm xúc tiêu cực là các thứ nhiễu hại nguyện
vọng cơ bản nhất của chúng ta — muốn hạnh phúc và tránh
đau khổ. Khi ta hành động dưới ảnh hưởng của chúng, sẽ
lãng quên tầm ảnh hưởng của hành động mình đối với
người khác: như thế chúng chính là nguyên nhân của hành
vi phá hoại cả đối với người khác lẫn chính mình. Giết
người, xì căng đan, và lừa đảo tất cả đều có cội
nguồn từ cảm xúc phiền nhiễu. Đó là lý do tôi cho rằng
tâm vô giới luật — tức là tâm chịu ảnh hưởng của giận
ghét, thù hận, tham lam, kiêu mạn, ích kỷ, vân vân — là
nguồn của tất cả mọi khó khăn của ta, không phải loại
đau khổ không thể tránh (bệnh, lão, tử, vân vân). Thất
bại trong việc kiểm soát phản ứng trước các cảm xúc phiền
nhiễu này là mở cửa cho đau khổ của cả ta lẫn người.
Bảo
rằng khi khiến người đau khổ chính ta cũng đau khổ, không
phải hàm ý có thể áp đặt điều đó một cách hợp lý
bất cứ lúc nào; chẳng hạn như, ta đánh người nào đó
cũng tức là tự đánh mình. Tôi đưa ra một đề nghị tổng
quát hơn thế. Đúng hơn, tôi muốn nêu rõ là tầm ảnh hưởng
của hành động của ta — cả tích cực lẫn tiêu cực —
đã ghi sâu trong tâm ta. Nếu quả đúng là mọi người đều
có khả năng thiện cảm ở trình độ nào đó, tiếp theo đó,
khi một cá nhân này hại cá nhân kia, tiềm năng đó bị phủ
trùm lên, hoặc lắng đọng xuống bằng cách nào đó. Lấy
trường hợp một người hành hạ tàn nhẫn người khác. Trí
(lo) của họ, hoặc thô thiển hoặc ở trình độ ý thức
của, có thể bị kềm kẹp trong một thứ tư tưởng hoặc
lý tưởng tác hại nào đó khiến họ nghĩ nạn nhân đáng
bị hành xử như thế. Niềm tin đó — ở một mức độ có
thể đã được chọn lựa trước — cho phép người tàn ác
kia đè nén được cảm xúc của mình. Tuy nhiên, tận trong
chiều sâu, vẫn bị ràng buộc trở thành một mức ảnh hưởng
nào đó. Về lâu sau, có một mức xác xuất cao là người
hành hạ sẽ cảm thấy khó chịu. Đưa vào khuôn khổ này
một thí dụ đã nói đến trước đây — về các nhà độc
tài bất nhân như Hitler hay Stalin. Dường như lúc gần tàn
đời, họ trở nên cô đơn, lo lắng, đầy sầu thảm và nghi
ngờ, giống như con quạ sợ chính cái bóng của mình.
Dĩ
nhiên, số người đi vào cực đoan như vậy rất ít. Ảnh
hưởng của các hành động tiêu cực tầm nhỏ còn vi tế
hơn là các thứ trọng yếu. Thử lấy một thí dụ ít cực
đoan về phương cách mà hành động tiêu cực tạo đau khổ
cho ta và người, hãy quan sát câu chuyện của một đứa bé
ra ngoài chơi và đánh lộn cùng một đứa khác. Ngay sau đó,
đứa bé đánh thắng có thể kinh nghiệm một cảm giác thỏa
mãn. Nhưng khi về nhà, cảm xúc đó tan biến đi, và một trạng
thái tâm vi tế hơn hiện ra. Ở điểm đó, một cảm thức
khó chịu hiện ra. Có thể mô tả cảm tưởng đó như một
thứ vong thân khỏi bản ngã: cá nhân cảm thấy không "đúng."
Trong trường hợp đứa trẻ ra ngoài chơi với bạn và vui
vẻ cả buổi chiều cùng đứa bạn đó, sau đó, chẳng những
có một cảm giác thỏa mãn ngay, nhưng khi tâm đã lắng xuống
và sự khích động đã tiêu tan, sẽ có một cảm thức bình
tĩnh và thoải mái.
Một
thí dụ khác về phương cách hành động tiêu cực tác hại
đến người dễ dãi với chúng, có thể thấy qua câu chuyện
về tiếng tăm của một cá nhân. Thông thường, người ta
— ngay cả thú vật, trong vấn đề này — ghê tởm sự độc
ác, hung tợn, lừa đảo vân vân. Điều này cho thấy nếu
chúng ta có sinh hoạt tác hại đến người khác, mặc dù có
thể được thỏa mãn nhất thời, người khác sẽ bắt đầu
nhìn ta khác đi. Họ sẽ e ngại trước chúng ta, bối rối
và nghi ngờ trước tiếng xấu của ta. Với thời gian, ta sẽ
mất dần bạn bè. Theo cách đó, có tiếng tốt cũng là một
nguồn hạnh phúc, chúng ta mang lại đau khổ cho chính mình
nếu phá hoại nó.
Thật
thế, dù có vài ngoại lệ, chúng ta thấy nếu một người
sống đời vô cùng ích kỷ, không quan tâm gì đến sự an
sinh của kẻ khác, họ sẽ trở nên cô đơn và khốn khổ.
Mặc dù họ có thể được một nhóm bạn vây quanh vì sự
giàu có hoặc bối cảnh của họ, khi cá nhân ích kỷ hay hung
hăng đó gặp thảm kịch, không những các người gọi là
bạn đó biến mất, họ còn có thể thầm khoái trá nữa.
Và hơn nữa, nếu người đó thật quỷ quái, có thể khi chết
đi cũng chẳng mấy ai nhớ đến. Có khi người ta còn cảm
thấy hài lòng — như nhiều người bị nhốt trong các trại
tập trung giết người của Đức quốc xã hẳn cảm thấy
thế khi các tay đồ tể bắt giam họ lần lượt bị xử quyết.
Ngược
lại, chúng ta thấy những người thật lòng quan tâm đến
kẻ khác, họ rất được kính nể, có khi đến cả tôn thờ.
Những người như thế khi chết đi, rất nhiều người buồn
thương và tiếc nuối sự ra đi của họ. Lấy trường hợp
của Mahatma Gandhi. Mặc dù học ở Tây phương, và có hoàn
cảnh để hưởng thụ một đời sống thoải mái, ông chọn
việc hoạt động cho người khác và sống gần như là một
khất sĩ ở Ấn độ hầu có thể tận hiến đời mình cho
công cuộc đấu tranh. Mặc dù tên ông giờ chỉ còn là kỷ
niệm, nhưng nhiều triệu người vẫn tiếp tục hưởng tiện
ích và cảm hứng từ các hành động cao thượng của ông.
Khi
quán sát về nguyên nhân thật sự của cảm xúc phiền nhiễu,
chúng ta có thể định ra một số các yếu tố khác. Trong
đó bao gồm cả thói quen của tất cả mọi người thường
nghĩ đến chính bản thân trước khi đến người khác. Có
thể kể cả xu hướng dự phóng các đặc điểm lên sự vật
và sự kiện trước khi và bên ngoài thực tế xảy ra — như
sự nhầm lẫn cuộn dây thừng thành con rắn. Nhưng vượt
trên đó, bởi vì ý niệm và cảm xúc tiêu cực không hiện
hữu độc lập cùng các hiện tượng khác, nên sự vật và
sự kiện thật mà ta tiếp xúc đóng một vai trò quan trọng
trong việc tạo thành phản ứng của ta. Như thế không có
thứ gì lại bất khả phát động chúng. Bất cứ thứ gì
cũng có thể là nguồn của cảm xúc phiền nhiễu — không
phải chỉ có đối thủ của ta mà cả bằng hữu và các thứ
sở hữu quý báu nhất, kể cả chính bản thân ta.
Điều
này đề ra, bước đầu tiên của tiến trình đối phó thật
sự cùng các ý niệm và cảm xúc tiêu cực là tránh các trường
hợp và sinh hoạt thông thường có thể khiến chúng khởi
dậy. Chẳng hạn như, nếu ta thấy mình sẽ trở nên giận
dữ khi gặp một người nào đó, tốt nhất nên tránh đi cho
đến khi phát huy được một nguồn nội lực nào khác hơn.
Bước thứ nhì là tránh các điều kiện hiện thực dẫn đến
các ý niệm và cảm xúc mạnh. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi
ta phải học nhận thức các loại cảm xúc phiền nhiễu khi
chúng khởi dậy trong ta. Việc đó không phải dễ. Trong lúc
thù hận là một cảm xúc rất mạnh một khi phát huy trọn
vẹn, trong các giai đoạn đầu tiên của sự chán ghét mà
ta cảm thấy trước một đối tượng hoặc hiện tượng nào
đó có thể rất tế nhị. Và ngay trong các giai đoạn tiến
triển hơn, cảm xúc phiền nhiễu cũng không luôn luôn thể
hiện rõ nét. Kẻ giết người có thể tương đối bình tỉnh
vào lúc hắn bóp cò súng.
Chính
vì vậy, chúng ta cần phải chú ý kỹ lưỡng và tỉnh thức
về thân xác và hành động của nó, về ngôn ngữ và điều
gì mình phát biểu, và về tâm và trí cùng những gì ta nghĩ
và cảm thấy. Chúng ta phải thận trọng trước bất cứ sự
tiêu cực nhỏ bé nào, và luôn tự hỏi các câu như, "Tôi
hạnh phúc hơn khi mang ý niệm và cảm xúc tiêu cực phá hoại,
hoặc khi chúng thiện lành?" "Bản chất của tâm thức là gì?
Nó có tự hiện hữu trong nó và do nó hay không, hoặc chỉ
hiện hữu tùy thuộc vào các yếu tố khác?" Chúng ta cần
phải nghĩ, nghĩ, nghĩ. Chúng ta phải làm như một nhà khoa
học góp nhặt dữ kiện, phân tích, và thu hoạch các kết
luận thích ứng. Đạt đến tri kiến về tánh chất tiêu cực
của mình là một công tác trọn đời, và một công tác có
khả năng cực kỳ vi tế. Nhưng trừ phi chúng ta thật hành,
sẽ không thể nào thấy được phải làm từ điểm nào để
chuyển hóa thiết yếu cuộc đời mình.
Chúng
ta có nên bỏ ra một phần thời gian và nỗ lực thường chỉ
dùng vào các việc tầm thường — nói chuyện tầm phào và
các thứ tương tự — hầu đạt đến một tri kiến về thực
chất của cảm xúc phiền nhiễu chăng. Tôi tin rằng việc
đó có một ảnh hưởng rất lớn lao đến phẩm chất của
cuộc đời. Cả cá nhân lẫn xã hội đều hưởng lợi lạc.
Một trong các điều trước tiên chúng ta cần khám phá là
cảm xúc phiền nhiễu tác hại đến thế nào. Và khi càng
phát huy được sự thẩm định về bản chất tác hại của
chúng, ta càng xa rời xu hướng theo đuổi chúng. Chỉ nội
điều đó cũng có một ảnh hưởng đầy ý nghĩa cho đời
ta.
Cần
quán xét không những ý niệm và cảm xúc tiêu cực phá hủy
kinh nghiệm an bình của chúng ta như thế nào, mà còn làm hao
mòn cả sức khỏe. Trong hệ thống y khoa Tây tạng, giận dữ
là nguồn gốc đầu tiên của nhiều bệnh chứng, kể cả
các bệnh liên quan đến áp huyết cao, mất ngủ, và suy nhược
bất thường — quan điểm này ngày càng được y khoa thay
thế chấp nhận.
Một
hồi niệm tuổi thơ của tôi có thể phác họa được phương
cách cảm xúc phiền nhiễu tác hại như thế nào. Khi còn ở
tuổi vị thành niên, một trong các giải trí ưa thích của
tôi là cứ táy máy sửa mấy chiếc xe hơi cũ của vị tiền
nhiệm, Đạt lai Lạt ma thứ 13 đã sở hữu không lâu trước
khi ngài mất năm 1933. Có tất cả là bốn chiếc, hai chiếc
Austins nhỏ của hãng chế tạo Anh, một chiếc Dodge, một chiếc
Jeep xập xệ, cả hai đều của Mỹ. Bốn chiếc này cộng
lại hầu như là các chiếc xe hơi duy nhất tại Tây tạng
lúc bấy giờ. Đối với một Đạt lai Lạt ma trẻ tuổi,
các cổ vật bụi bậm đó thật vô cùng thu hút, và tôi cứ
muốn làm cho chúng chạy trở lại.
Giấc
mơ thầm kín của tôi là học lái xe. Nhưng sau một thời gian
đầy phiền toái cùng các viên chức chính quyền khác nhau,
cuối cùng tôi mới tìm ra được một người biết chút đỉnh
về xe hơi. Đó là Lhakpa Tsering, đến từ Kalimpong, một thành
phố nằm cạnh biên giới Ấn độ. Một hôm, tôi còn nhớ,
anh ta đang làm việc với cái máy của một trong các chiếc
xe, thình lình, anh buông cái mỏ lết xuống, chửi thề lớn
tiếng, và đứng bật dậy. Chẳng may, anh lại quên cái nấp
xe còn đang mở phía trên đầu mình, và đụng vào đó thật
mạnh. Nhưng rồi trước sự sửng sốt của tôi, thay vì cẩn
thận cúi đầu lùi ra, anh lại càng nổi giận thêm lên, và
đứng bật dậy một lần nữa, đụng đầu một lần thứ
nhì càng mạnh hơn nữa. Tôi đứng sững sờ một hồi trước
mấy món đồ cổ đó. Rồi sau đó, tôi không thể nào ngưng
cười được.
Lhakpa
Tsering nổi giận như thế chỉ mang đến kết quả là hai vết
trầy khá nặng. Đó chỉ là chuyện xui của anh. Nhưng từ
điều đó, chúng ta có thể thấy phương cách mà cảm xúc
phiền nhiễu phá hoại một trong các phẩm chất quý giá nhất
của ta, gọi là, khả năng thức giác phân biện. Mất khả
năng này, chúng ta sẽ không thể đánh giá giữa đúng và sai,
thẩm định điều gì mang đến lợi lạc dài lâu và điều
chỉ có lợi tạm thời cho ta và người, và nhận thức được
kết quả từ hành động của mình; do đó sẽ không hơn gì
loài thú mấy. Tuy có vẻ như nhỏ nhặt, nhưng dưới ảnh
hưởng của chúng, ta có thể làm những gì mà bình thường
ta không bao giờ nghĩ đến làm điều đó.
Sự
bế tắc của cơ năng quan yếu này cho thấy một đặc điểm
tiêu cực khác của loại sự kiện tinh thần và cảm xúc.
Các cảm xúc phiền nhiễu lừa dối chúng ta. Chúng có vẻ
như trao tặng sự thỏa mãn.
Mặc
dù cảm xúc đó đến với ta mạo danh như là bảo vệ, như
mang đến sức mạnh và sự táo bạo, thật ra thứ năng lực
đó trên căn bản chỉ là mù quáng. Quyết định đưa ra dưới
ảnh hưởng của nó thường chỉ là nguồn gốc của sự hối
tiếc. Loại sân giận như thế rất thường là chỉ dấu một
sự yếu đuối hơn sức mạnh. Nhiều người kinh nghiệm về
các tranh cãi tệ hại đến độ người ta bắt đầu hành
hạ nhau bằng ngôn ngữ, một dấu hiệu cho thấy sự yếu
đuối của họ. Hơn nữa, chúng ta không cần sân giận mới
có thể phát huy được can đảm và tự tin. Như chúng ta thấy,
các phẩm tánh đó chỉ làm được qua các phương thức khác.
Các
cảm xúc phiền nhiễu còn chứa một diện phi lý. Chúng khích
lệ ta giả thiết như các thứ bề ngoài là luôn cân xứng
với thực tế. Khi chúng ta bắt đầu giận dữ hoặc cảm
thấy thù ghét, ta có xu hướng nhìn người khác như là các
đặc tánh của họ không thể nào biến đổi. Một người
có thể trông thật đáng chỉ trích từ đỉnh đầu cho đến
đế giày dưới chân họ. Chúng ta quên khuấy đi, cũng như
ta, họ là chúng sanh đau khổ với cùng thứ ước vọng hạnh
phúc và tránh đau khổ. Dù vậy, khi sức mạnh của cơn giận
đã giảm bớt, chỉ cần dùng lẽ thường, ta cũng biết là
họ trông không đến nỗi tệ lắm. Cùng tiến trình này nhưng
đảo ngược chiều, là trường hợp cá nhân bị say đắm
quá. Đối tượng sẽ trở thành thật đáng ham muốn, cho đến
khi móng vuốt của cảm xúc phiền nhiễu buông lơi, thì họ
trông cũng không có gì đáng gọi là hoàn hảo. Thật vậy,
khi đam mê của chúng ta khởi dậy quá mạnh, có một sự nguy
hiểm đáng kể hướng về phía đối cực kia. Cá nhân đã
từng được thần tượng hóa, có thể trở nên đáng khinh
hoặc đáng ghét, mặc dù đó cũng chỉ là một người từ
đầu chí cuối.
Các
cảm xúc phiền nhiễu còn vô ích. Càng tiếp thụ chúng nhiều,
ta lại càng ít chỗ dành các phẩm tánh — như lòng tử tế
và tâm từ bi — và càng ít khả năng hầu giải quyết các
vấn đề. Thật vậy, không khi nào các ý niệm và cảm xúc
tiêu cực này lại giúp ích cho ta hoặc người khác. Chúng
ta càng sân hận, thì người khác càng e dè xa lánh. Càng nghi
hoặc, thì càng mất đi các người có thể tin cậy và trở
nên cô độc. Càng tham dục, thì càng ít cơ hội triển khai
được các liên hệ thích đáng cùng người khác, và càng
cô đơn hơn.
Hãy
xem người có sinh hoạt bị điều động phần lớn do các
cảm xúc phiền nhiễu, hoặc nói cách khác, do các ràng buộc
ưa ghét thô thiển, đến từ tham dục, vọng cầu, kiêu mạn,
vân vân. Người như vậy cũng có thể trở nên rất quyền
lực và nổi tiếng. Tên của họ có khi còn ghi vào lịch sử.
Nhưng sau khi họ chết, sức mạnh của họ cũng đi theo và
danh vọng chỉ còn là một ngôn từ trống rỗng. Như thế
quả thật họ đã đạt đến điều gì?
Không
ở đâu sự vô ích của cảm xúc phiền nhiễu lộ liễu bằng
trường hợp sân hận. Khi trở nên sân giận, chúng ta ngưng
cắt mọi thứ từ bi, thương yêu, rộng lượng, tha thứ, bao
dung, và nhẫn nại cùng một lúc. Chúng ta tự dẹp mất các
thứ mà hạnh phúc hàm chứa. Và chẳng những cơn giận phá
hủy tức khắc các cơ năng chủ yếu của ta, nó còn đưa
ta vào phẫn nộ, khinh bỉ, thù hận, và độc ác — mỗi thứ
đó đều luôn luôn tiêu cực vì là nguyên do trực tiếp tác
hại đến người khác. Sân giận gây đau khổ. Ít nhất là
nó tạo nỗi khổ của sự bối rối. Một thí dụ, tôi luôn
luôn thích việc sửa đồng hồ.
Nhưng
tôi còn nhớ một số trường hợp hồi còn bé, khi từng mất
hết nhẫn nại với các thứ phụ tùng nhỏ nhặt và phức
tạp. Tôi nhặt một bộ máy và đập mạnh nó lên bàn. Dĩ
nhiên, tôi cảm thấy ân hận và hỗ thẹn vì thái độ của
mình — đặc biệt là khi, vào một trường hợp nọ, tôi
phải trả đồng hồ lại cho người chủ trong tình trạng
tồi tệ hơn trước khi sửa.
Câu
chuyện này tuy rất tầm thường, nhưng đưa đến một điểm
là, mặc dù chúng ta có nhiều của cải vật chất thế nào
— thức ăn ngon, bàn ghế tốt, máy truyền hình tối tân —
khi giận dữ cũng đều bị mất hết an bình nội tại. Chúng
ta không còn hưởng thụ bữa ăn ngon được. Và một khi trở
thành thói quen, ta sẽ học từ đó, là dù giàu, dù mạnh,
các người khác cũng chỉ tránh né ta. Họ sẽ bảo, "Ồ, vâng,
ông ấy rất khôn khéo, nhưng ông ấy xấu nết quá, ai cũng
biết," và người khác sẽ tránh xa. Hoặc là họ sẽ bảo,
"Vâng bà ấy quả thật có tài đặc biệt, nhưng hay dễ nổi
cơn quá. Tốt hơn hết là nên coi chừng." Cũng như khi con chó
hay gầm gừ và nhe răng, chúng ta cần cẩn thận đề phòng
những kẻ có con tim dễ bị rối loạn bởi cơn giận dữ.
Tốt hơn hết ta tránh đến gần để khỏi bị lãnh cơn bất
tử.
Tôi
không phủ nhận sự kiện, tương tự như trong trường hợp
sợ hãi, có một thứ sân giận "thô" nào đó mà chúng ta kinh
nghiệm như là một sự đổ dồn năng lực vào người, hơn
là một cảm xúc tăng cường có nhận thức. Hình thức sân
giận này được tưởng chừng như có thể mang lại kết quả
tích cực. Thử tưởng tượng đến cơn giận trước sự bất
công khiến người ta hành động một cách vị tha. Cơn giận
khiến ta xông vào giúp đỡ cho người nào đó bị tấn công
ngoài đường phố, cũng có thể xem như tích cực. Nhưng nếu
nó vượt qua mức tiếp giao cùng sự bất công, hoặc nếu
nó trở thành việc cá nhân và chuyển sang trả thù hoặc độc
ác, thì nguy hiểm khởi dậy. Khi chúng ta làm điều gì tiêu
cực, vẫn có thể nhận ra sự khác biệt giữa ta và hành
động tiêu cực đó. Nhưng ta lại thường thất bại trong
việc tách biệt hành động và tác nhân khi nó đến từ người
khác. Điều này cho thấy cơn giận dù được bề ngoài có
vẻ được xác nhận như đúng, cũng vẫn khó tin cậy.
Nếu
thấy hơi quá đáng khi bảo sân giận là một cảm xúc hoàn
toàn vô ích, chúng ta có thể xét lại xem có người nào từng
bảo là sân giận có thể mang lại hạnh phúc chăng? Không
ai cả. Có y sĩ nào cho toa dùng giận để chữa bệnh chưa?
Không một ai. Độc giả thử tự hỏi mình: khi ta trở nên
giận dữ, ta có hạnh phúc chăng? Tâm ta có bình tĩnh và thân
ta có thoải mái chăng? Hoặc trái lại ta còn cảm thấy thân
như căng thẳng và tâm bất ổn?
Nếu
muốn giữ được tâm an bình hầu đạt đến hạnh phúc, theo
đó phải áp đặt khuynh hướng duy lý và vô vụ lợi lên
các ý niệm và cảm xúc tiêu cực, ta cần phải vun trồng
một thói quen vững chắc giới hạn các phản ứng trước
chúng. Các ý niệm và cảm xúc tiêu cực chỉ xui khiến ta
đi vào hành động vô luân. Hơn nữa, bởi vì cảm xúc tiêu
cực còn là nguồn đau khổ nội tại — đó là nền tảng
của ẩn ức, lẫn lộn, bất an, lo lắng, và mất tự trọng
dẫn đến sự tiêu hao lòng tự tin — cho nên thất bại khi
làm việc đó khiến ta phải ở trong trạng thái khó chịu
tinh thần và cảm xúc thường xuyên. An bình nội tại không
thể có được. Lo lắng và ẩn ức sẽ không bao giờ biến
mất.
Vài
người cảm thấy mặc dù có thể đúng khi phải ngăn các
cảm xúc hận thù khiến cho ta trở thành hung bạo và đi đến
giết chóc, nhưng ta sẽ bị nguy hiểm mất đi sự độc lập
nếu cứ hạn chế các cảm xúc và giới luật tâm trí. Thật
ra, chính điều đối ngược lại mới đúng. Giống như các
đối thủ của tình thương yêu và tâm từ bi, sân hận và
các cảm xúc tiêu cực không bao giờ bị tắt ngúm. Chúng còn
có một xu hướng bành trướng, giống như dòng sông lụt lội
vào mùa hè khi băng tuyết tan. Do đó, thay vì được tự do,
trái lại tâm ta còn bị nô lệ và trở nên bất lực trước
chúng. Khi ta dễ dãi cùng các ý niệm và cảm xúc tiêu cực,
ta sẽ quen thuộc cùng chúng không thể tránh khỏi. Kết quả,
dần dần ta càng nghiêng về chúng hơn và càng bị chúng điều
động hơn. Ta sẽ quen bùng nổ mỗi khi đối diện cùng các
trường hợp không thú vị.
An
bình nội tại, như đặc điểm chủ yếu của hạnh phúc,
và sân hận không thể nào cùng hiện hữu mà không làm tiêu
hao lẫn nhau. Thật vậy, ý niệm và cảm xúc tiêu cực làm
tiêu hao các nguyên nhân tạo ra an bình và hạnh phúc. Thử
nghĩ cho đúng, thật hoàn toàn phi lý khi tìm hạnh phúc mà
không làm gì để giới chế giận dữ, khinh bỉ, và các ý
niệm và cảm xúc ác độc. Hãy nghĩ khi ta trở thành giận
dữ, ta thường dùng các lời lẽ nặng nề. Lời lẽ nặng
nề có thể phá hủy tình bạn. Hạnh phúc đặt trên các mối
liên hệ cùng người khác, nếu ta hủy diệt tình bạn, thì
đã làm tiêu mòn một trong các điều kiện thật sự của
chính hạnh phúc.
Bảo
rằng ta cần phải ngăn cơn giận cùng các ý niệm và cảm
xúc tiêu cực, không có nghĩa ta phải phủ nhận các cảm xúc.
Có một sự khác biệt quan yếu giữa phủ nhận và giới luật.
Việc sau thiết lập một thứ kỷ luật cẩn trọng và tự
nguyện đặt trên sự tôn trọng ích lợi tha nhân. Điều đó
rất khác với trường hợp của người đè nén các cảm xúc
như là giận dữ chỉ vì họ cảm thấy cần phải phô bày
một bề ngoài có vẻ tự chủ, hoặc vì lo sợ đến ý nghĩ
của người khác. Thái độ đó giống như khép miệng vết
thương lại trong khi nó còn nhiễm độc. Lại nữa, chúng ta
không phải nói đến chuyện các luật lệ phải tuân theo.
Khi phủ nhận và áp lực xảy ra chỉ tạo nguy hiểm, vì cá
nhân đó sẽ tồn trữ các sự giận dữ và thù ghét. Vấn
đề ở đây là trong một thời điểm tương lai nào đó, họ
có thể thấy mình không còn chịu đựng nổi các thứ cảm
xúc đó lâu hơn nữa.
Nói
cách khác, dĩ nhiên có các ý niệm và cảm xúc thích đáng,
còn quan trọng là khác, để mà bày tỏ thẳng thắn — kể
cả các thứ tiêu cực — dù có các cách thích hợp ít hoặc
nhiều để làm thế. Tốt hơn là nên đối diện với người
hoặc hoàn cảnh hầu giải quyết, chứ đừng che dấu nỗi
giận, nghiền ngẫm nó, và nuôi oán hận trong tâm. Tuy vậy,
nếu ta bày tỏ một cách không biện biệt các thứ ý niệm
và cảm xúc tiêu cực, chỉ trên nền tảng là chúng cần được
bộc lộ rõ ràng, thì rất có thể — qua các lý do tôi đã
nêu trên — sẽ khiến ta mất đi sự bình tỉnh và làm quá
đáng. Do đó, điều quan trọng là phải biết biện biệt,
kể cả trên diện các cảm xúc mà ta bày tỏ lẫn cách thức
bày tỏ chúng.
Theo
tôi hiểu, hạnh phúc chân thật có đặc tánh là an bình nội
tại và đặt trên nền tảng liên hệ hài hòa cùng tha nhân.
Do đó nó tùy thuộc vào hành vi luân lý. Hành vi này lại bao
gồm những hành động lấy lợi ích tha nhân làm trọng. Như
thế, nếu chúng ta muốn hạnh phúc, cần phải kềm chế bớt
các phản ứng trước ý niệm và cảm xúc tiêu cực. Tôi muốn
ngụ ý như khi bảo rằng, chúng ta cần phải thuần con voi
hoang dại vốn là cái tâm vô giới luật của ta. Khi tôi thất
bại trong việc giới chế các phản ứng trước cảm xúc tiêu
cực, hành động của tôi trở thành vô luân lý và nhiễu
hại các nguyên nhân đưa đến hạnh phúc. Ở đây, chúng ta
không phải nói đến việc đắc quả Phật quả, mà cũng không
nói đến việc hợp nhất cùng Thượng đế. Chúng ta chỉ
nhận thức đơn thuần rằng, các lợi lạc và hạnh phúc tương
lai của tôi, vốn nối kết rất gần gũi cùng của người
khác, vì thế cần phải học để hành xử cho thích ứng.