Chương
5
CẢM
XÚC TỐI THƯỢNG
Nhân
chuyến Âu du gần đây, tôi đến viếng một trại tập trung
của Đức quốc xã ở Auschwitz. Dù được nghe và đọc khá
nhiều về nơi này, tôi cảm thấy mình hoàn toàn thiếu chuẩn
bị cho kinh nghiệm. Phản ứng đầu tiên của tôi khi nhìn
thấy các lò thiêu mấy trăm ngàn người đó là một sự ghê
tởm rúng động. Tôi sững sờ trước sự tính toán thuần
lý và tách biệt khỏi cảm xúc của loài người, mà các chứng
cớ khủng khiếp đang nằm ngay đó. Rồi, trong viện bảo tàng
như thành phần của trung tâm thăm viếng, tôi nhìn thấy một
sưu tập giày. Rất nhiều đôi vá víu hoặc nhỏ bé, rõ ràng
là thuộc về trẻ con hoặc người nghèo. Điều đó khiến
cho tôi thật buồn bã.
Có
gì sái quấy khiến "họ" có thể làm điều đó, điều tác
hại nào? Tôi dừng lại và cầu nguyện — xúc động sâu
xa vì cả các nạn nhân lẫn các kẻ phạm tội bất công này
— mong rằng một điều như thế đừng bao giờ tái diễn.
Trong sự hiểu biết rằng, bởi vì chúng ta ai cũng có khả
năng hành xử quên mình cho lợi lạc của người khác, cho
nên chúng ta ai cũng có khả năng làm kẻ sát nhân hay kẻ hành
hạ, tôi nguyện không bao giờ trong bất cứ hoàn cảnh nào
lại đóng góp vào một tai ương như thế.
Những
biến cố như đã diễn ra tại Auschwitz nhắc nhở mạnh mẽ
đến điều gì có thể xảy ra khi các cá nhân — hoặc nới
rộng, các xã hội — mất đi sự tiếp xúc cùng cảm giác
cơ bản của con người. Nhưng mặc dù cần có luật lệ và
nghị định quốc tế sẵn sàng phòng vệ ngăn chống tai ách
loại đó, chúng ta vẫn thấy các bạo ngược cứ tiếp tục
diễn ra. Hữu hiệu và quan trọng hơn cả luật lệ chính là
sự tôn trọng của chúng ta dành cho cảm xúc của tha nhân
ở trình độ đơn thuần của loài người.
Tuy
nhiên, khi tôi nói đến cảm xúc cơ bản của loài người,
không những tôi chỉ nghĩ về một điều gì nhất thời và
mơ hồ, mà muốn nêu lên thứ khả năng khiến chúng ta ai cũng
có thiện cảm lẫn nhau, từ ngữ Tây tạng gọi là "shen dug
ngal wa la mi so pa". Dịch từng chữ, nghĩa là "không thể chịu
đựng khi nhìn thấy sự đau khổ của một người khác." Với
thứ đó, chúng ta có thể chia sẻ, hoặc đi vào trong nỗi
đau của người khác ở một mức độ nào, đó là một trong
các đặc tánh có ý nghĩa nhất của chúng ta. Nó khiến ta
phải giật mình khi vừa nghe tiếng kêu cứu, bật dậy khi
nhìn thấy nguy hiểm cho người khác, và đau lòng khi nhìn thấy
người khác khổ đau. Và nó bắt buộc chúng ta phải nhắm
mắt cảm xúc, cho dù muốn làm ngơ trước sự khốn khổ của
người khác.
Ở
đây, hình dung quý vị đang đi một mình trên đường, không
lưu ý đến một người già đi phía trước. Thình lình, người
đó trượt chân và ngã xuống. Quý vị sẽ làm gì? Tôi đoan
chắc là phần đông các độc giả sẽ đến xem có thể giúp
gì được chăng. Hẳn không phải tất cả. Nhưng trong khi nhìn
nhận là không phải ai cũng đến giúp đỡ cho người gặp
cảnh khốn khổ, tôi không ngụ ý một số ít còn lại đó
lại thiếu vắng hoàn toàn khả năng thiện cảm, điều mà
tôi đề khởi là có tánh phổ quát toàn cầu. Ngay trong trường
hợp những người không đến giúp, chắc chắn họ cũng có
cùng thứ tình cảm quan tâm, cho dù rất mơ hồ, đã thúc đẩy
đa số đến đề nghị giúp đỡ. Rất có thể tưởng tượng
ra những người, sau nhiều năm chịu đựng chiến tranh, không
còn cảm động khi nhìn thấy người khác đau khổ. Điều
này cũng đúng đối với những người sống trong một bầu
không khí bạo lực và vô tình đối với kẻ khác. Nhưng không
thể chứng minh khả năng thiện cảm không còn hiện hữu trong
lòng họ. Tất cả chúng ta, ngoại trừ một số rất ít những
người quá rối loạn, đều thích thể hiện lòng tốt, điều
đó cho thấy dù trở thành cứng rắn đến đâu vì hoàn cảnh,
khả năng thiện cảm vẫn tồn tại.
Đặc
tánh ưa thích sự quan tâm của người khác là phản ánh của
khả năng "không thể chịu đựng khi nhìn thấy sự đau khổ
của một người khác" nói trên. Tôi nói điều đó vì cùng
với khả năng tự nhiên có thiện cảm cùng người khác, chúng
ta còn có một nhu cầu cần lòng tốt của người khác, chạy
dài như một sợi chỉ xuyên qua suốt trọn đời. Điều đó
rất hiển hiện khi ta còn bé và khi ta về già. Nhưng chỉ
khi ta ngã bệnh mới được nhắc nhớ sự kiện được yêu
thương và chăm sóc thật quan trọng làm sao, cho dù trong lúc
đang thành tựu nhất. Mặc dù nó có vẻ như một đức tánh
có thể thực thi mà không cần đến thiện cảm, nhưng trên
thực tế, một cuộc đời thiếu vắng chất liệu quý báu
này hẳn là đời khốn nạn. Chẳng phải sự trùng hợp khi
đời sống của đa số các kẻ phạm tội hung ác nhất đều
cô đơn và thiếu tình thương.
Chúng
ta thấy sự ưa thích lòng tử tế biểu hiện qua phản ứng
tự nhiên của ta trước nụ cười. Đối với tôi, khả năng
cười của loài người là một trong các đặc tánh đẹp đẽ
nhất. Đó là điều mà thú vật không thể làm được. Chó,
hoặc cả cá ong hay cá heo, những con thú thông minh nhất có
nhiều ưu điểm giống loài người, cũng không thể cười
như chúng ta. Cá nhân tôi, tôi cảm thấy hơi là lạ khi tôi
cười với người nào mà họ vẫn nghiêm trang và không đáp
lại. Mặt khác, tâm tôi rất hoan hỉ khi họ đáp ứng. Ngay
trong các trường hợp đối với một người không có dính
dáng gì đến tôi, khi họ cười cùng tôi, tôi cũng cảm động.
Nhưng tại sao? Câu trả lời chắc chắn là nụ cười chân
thật đó đụng đến một thứ gì nền tảng trong lòng chúng
ta: sự tự nhiên ưa thích lòng tử tế hảo tâm.
Mặc
dù có một thành phần đưa ý kiến đề nghị rằng bản chất
con người trên căn bản vốn bạo động và cạnh tranh; nhãn
quan của cá nhân tôi là sự ưa thích thiện cảm và tình thương
của chúng ta quá sâu xa đến mức có thể đã khởi sự ngay
trước khi ta chào đời.
Thật
vậy, theo một số khoa học gia bằng hữu của tôi, có chứng
cớ vững chắc cho thấy trạng thái tinh thần và cảm xúc
của người mẹ ảnh hưởng lớn đến sự an sinh của thai
nhi; và rất có lợi cho đứa bé nếu bà giữ được một
trạng thái tâm ấm áp nhẹ nhàng. Một bà mẹ hạnh phúc có
mang một đứa con hạnh phúc. Mặt khác, sự dồn nén và giận
dữ rất tai hại cho sự phát triển lành mạnh của đứa bé.
Tương tự, trong các tuần đầu tiên sau khi sanh, ấm cúng và
yêu thương tiếp tục đóng vai trò quan trọng tối thượng
trong sự phát triển vật lý của đứa bé. Ở thời kỳ này,
não bộ phát triển rất nhanh, một sinh hoạt mà các bác sĩ
tin tưởng là phần nào có sự tham gia của sự sờ chạm của
bà mẹ hay cô đỡ. Điều này cho thấy mặc dù đứa bé không
thể biết hoặc không cần biết ai là ai, nhưng nó có một
sự cần thiết vật lý rõ rệt vào thiện cảm. Có thể điều
đó cũng giải thích tại sao ngay đến các cá nhân rã rời,
bất ổn, và cuồng loạn nhất cũng phản ứng tích cực trước
hảo cảm và sự chăm sóc của người khác. Khi còn sơ sanh,
hẳn họ cũng được một người nào đó chăm nuôi. Nếu một
đứa bé bị bỏ rơi trong giai đoạn nghiêm trọng nhất đó,
chắc là nó khó sanh tồn.
Cũng
may trường hợp đó rất hiếm hoi. Hầu như không phân biệt
ai, hành động đầu tiên của bà mẹ là nuôi con bú sữa —
một hành động biểu tượng cho tình thương yêu vô điều
kiện. Tình thương của bà ở đây hoàn toàn chân thật và
không toan tính: bà không chờ đợi thứ gì đáp trả. Trong
khi đứa bé, bị thu hút tìm đến bầu sữa mẹ một cách
tự nhiên. Tại sao? Dĩ nhiên chúng ta có thể nói đó là bản
năng sanh tồn. Nhưng thêm vào đó, tôi nghĩ rất hữu lý khi
đặt một mức độ tình cảm nào đó của đứa hài nhi dành
cho người mẹ. Nếu nó cảm thấy không ưa thích, chắc chắn
nó sẽ không mút sữa. Và nếu người mẹ cảm thấy không
ưa thích, dòng sữa của bà khó tuôn chảy tự do. Điều chúng
ta thấy chính là một liên hệ đặt nền tảng trên tình yêu
thương và âu yếm hỗ tương, gần như hoàn toàn tự khởi.
Nó không cần được học hỏi từ người khác, không tôn
giáo nào đòi hỏi, không luật lệ nào áp đặt, không trường
sở nào giáo dục. Nó khởi dậy một cách hoàn toàn tự nhiên.
Sự
chăm sóc theo bản năng của mẹ dành cho con — được đa số
các loài thú cùng chia sẻ — rất hệ trọng, vì nó đề khởi
rằng, theo cùng với sự cần tình thương cơ bản của đứa
bé để sanh tồn, có sự hiện hữu của một khả năng nội
tại của người mẹ để trao tặng tình yêu thương. Thứ
tình cảm đó quá mạnh đến độ hầu như chúng ta có thể
giả thiết một yếu tố sanh lý nào đó đang làm việc. Dĩ
nhiên có thể lý luận rằng tình yêu hỗ tương đó không
có gì khác hơn là một cơ năng sanh tồn. Cũng có thể đúng
vậy. Nhưng điều đó không phủ nhận sự hiện hữu của
nó. Cũng không thể làm tiêu hao sự xác tín của tôi rằng,
nhu cầu và khả năng thương yêu đề khởi chúng ta vốn có
bản chất thiên nhiên biết yêu thương.
Nếu
điều đó còn có vẻ chưa chắc, thử quán xét đến phản
ứng tự nhiên của chúng ta trước lòng tử tế và sự bạo
hành. Đa số chúng ta thấy bạo hành là điều đáng lánh sợ.
Ngược lại, khi được cho thấy lòng tử tế, chúng ta phản
ứng bằng nhiều tin tưởng hơn.
Tương
tự, quán xét giữa an bình — là điều xem như quả của tình
thương — và sức khỏe tốt. Theo sự hiểu biết của tôi,
thể chất của chúng ta thích hợp với sự an bình và yên
tĩnh hơn là bạo hành và công kích. Chúng ta đều biết căng
thẳng và lo âu có thể đưa đến bệnh áp huyết cao và các
triệu chứng tiêu cực khác. Trong hệ thống y khoa Tây tạng,
các rối loạn tinh thần và xúc cảm được xem như nguyên
nhân đưa đến nhiều bệnh chứng thể chất, kể cả ung thư.
Hơn nữa, an bình, yên tĩnh, và các sự quan tâm khác là điều
cần thiết để điều dưỡng khỏi bệnh. Chúng ta còn có
thể nhận diện ra một vọng cầu cơ bản được an bình.
Tại sao? Vì an bình nói lên sự sống và phát triển, trong
khi bạo động chỉ nói lên khốn khổ và cái chết. Đó là
lý do tại sao ý tưởng về Tịnh Độ, về Thiên Đàng lại
thu hút chúng ta. Nếu có một chỗ nào mô tả như là một
nơi của loạn lạc và tranh chấp không dứt, hẳn chúng ta
chọn ở lại thế giới này cho xong.
Cần
lưu ý đến cách chúng ta phản ứng trước hiện tượng thiên
nhiên của đời sống. Khi mùa xuân đến sau mùa đông, ngày
trở thành dài hơn, có nhiều ánh mặt trời, cây cỏ xanh tươi
vươn lên: tự nhiên tinh thần chúng ta cũng phấn khởi hơn.
Mặt khác, khi mùa đông đến cận kề, lá rơi từng chiếc
từng chiếc, hầu hết cây cỏ chung quanh trở thành như chết
đi. Tự nhiên chúng ta cảm thấy lòng hơi chùng xuống vào
thời gian đó trong năm. Chỉ dấu này cho thấy chắc hản bản
chất của ta ưa thích sự sống hơn cái chết, phát triển
hơn hoại diệt, xây dựng hơn phá hoại.
Hãy
quan sát thái độ của trẻ con. Chúng ta có thể thấy chúng
có đặc tánh tự nhiên của con người, trước khi bị che
phủ bằng các ý niệm học hỏi. Chúng ta thấy các trẻ sơ
sanh thật bé thường không khác nhau mấy. Chúng nấn níu vào
tầm quan trọng của nụ cười nơi người khác trước mặt
chúng hơn bất cứ thứ gì. Ngay khi vừa bắt đầu lớn lên,
chúng cũng không để ý đến sắc dân, quốc tịch, tôn giáo
hoặc bối cảnh gia đình gì cả. Khi gặp gỡ các trẻ khác,
chúng không bao giờ bàn cãi về các vấn đề đó. Chúng lập
tức khởi đầu công tác chơi đùa vốn hệ trọng hơn. Đó
cũng không phải là vấn đề tình cảm. Tôi thấy thực tế
này khi đến viếng một trong các làng trẻ em tại Âu châu,
nơi nhiều trẻ em Tây tạng được học từ đầu thập niên
1960. Các làng này được thiết lập để chăm sóc cho trẻ
em mồ côi đến từ những quốc gia đang giao chiến với nhau.
Điều làm cho người ta rất ngạc nhiên là, mặc dù bối cảnh
khác biệt, khi các trẻ em này được đặt cận kề, chúng
sống rất hòa hợp cùng nhau.
Bây
giờ, có thể phản đối là trong khi con người có thể cùng
chia sẻ khả năng hảo tâm-thương yêu, nhưng một bản chất
khó tránh là xu hướng chỉ dành riêng điều đó cho những
người thân nhất cạnh mình. Chúng ta thiên vị cùng gia đình
và thân hữu. Tình cảm dành cho những ai ngoài cái vòng đó
tùy thuộc nhiều vào trường hợp cá nhân: người cảm thấy
bị đe dọa tất không thể có nhiều thiện chí đối với
kẻ đe dọa họ. Tất cả điều đó khá đúng thật. Tôi không
phủ nhận là dù có khả năng cảm xúc quan tâm đến đồng
loại, nhưng khi sự sanh tồn của chúng ta bị đe dọa, hiếm
khi khả năng đó vượt trên bản năng tự bảo toàn. Tuy thế
vẫn không có nghĩa là khả năng đó không còn nữa, tiềm
chất đã mất hẳn sự tồn tại. Ngay cả các chiến sĩ sau
trận đánh vẫn thường giúp đỡ kẻ thù thu nhặt người
chết và bị thương.
Trong
tất cả mọi điều đã nói về bản chất cơ bản, tôi không
ngụ ý tin tưởng không hề có các diện tiêu cực. Nơi nào
có ý thức, thì hận thù, vô minh, và bạo lực cũng khởi
dậy một cách tự nhiên. Đó là tại sao, cho dù bản chất
vốn đặt nền tảng trên lòng tốt và tâm từ ái, chúng ta
ai cũng có thể hận thù và ghen ghét. Đó là lý do khiến ta
phải tranh đấu để cải thiện đức hạnh của mình. Điều
đó giải thích tại sao có người lớn lên trong một môi trường
hoàn toàn không bạo lực lại trở thành tay đồ tể ghê tởm
nhất. Liên hệ đến điều này, tôi nhớ lại chuyến viếng
thăm vài năm trước đây tại Đài Tưởng niệm Washington,
vinh danh các vị tử đạo và các người hùng của Holocaust,
vụ Hỏa thiêu dân Do thái trong tay Đức quốc xã. Điều khiến
tôi bị đả kích nhất trong đài tưởng niệm này là bản
liệt kê các hình thức khác nhau của hành vi con người. Một
mặt, nó kê khai các nạn nhân của các hành động tàn ác
không thể tả. Mặt khác, nó ghi nhớ các hành động anh hùng
do lòng tốt của các gia đình Thiên Chúa giáo và nhiều người
khác, đã chấp nhận nguy nan khủng khiếp khi chứa chấp các
anh em Do thái của mình. Tôi cảm thấy hoàn toàn thích đáng
và rất cần thiết: nó cho thấy cả hai khía cạnh của tiềm
chất con người.
Nhưng
hiện hữu của loại tiềm chất tiêu cực này không thể khiến
chúng ta giả định rằng bản chất cố hữu của con người
là bạo động, hoặc ngay cả được an bài để hướng về
bạo động. Có thể một trong những lý do khiến nhiều người
tin bạo động là bản chất con người vốn dĩ nằm ở hiện
tượng quá nhiều tin xấu được phơi bày qua hệ thống truyền
thông. Nguyên do của điều này chắc chắn là vì, tin tốt
không phải là tin tức.
Bảo
rằng bản chất cơ bản của người không chỉ bất bạo động
mà thật ra còn được an bài hướng về yêu thương và từ
bi, tử tế, dịu dàng, chăm sóc, sáng tạo, và các thứ, dĩ
nhiên cần đến một nguyên tắc tổng quát có thể, qua định
nghĩa, áp dụng cho từng cá nhân. Thế thì, điều gì sẽ phải
nói về trường hợp các cá nhân hầu như trọn đời chỉ
dành riêng cho bạo lực và công kích? Chỉ nội thế kỷ vừa
qua cũng đã có quá nhiều thí dụ hiển nhiên để tra cứu.
Hitler và kế hoạch tận diệt toàn giống dân Do thái thì sao?
Stalin và cuộc tàn sát Do thái cùng các vụ thanh trừng? Chủ
tịch Mao, người tôi từng được biết đến và nể phục,
và sự man rợ bệnh hoạn của Cách mạng Văn hóa? Pol Pot,
kiến trúc sư của Cánh đồng Tàn sát? Và còn những kẻ xem
hành hạ và giết chóc là trò vui?
Ở
đây tôi phải thú thật là không thể nghĩ ra một giải thích
đơn thuần nào cho các hành động khủng khiếp của những
kẻ đó. Tuy nhiên, chúng ta phải nhìn nhận hai điều. Thứ
nhất, những kẻ đó không phải đến từ không đâu, mà đến
từ một xã hội đặc biệt nào đó, vào một thời điểm
đặc biệt và trong một nơi chốn đặc biệt. Hành động
của họ cần được xét trên mối liên hệ với các trường
hợp này. Thứ nhì, chúng ta cần nhìn nhận vai trò của năng
khiếu tưởng tượng trong hành động của họ. Các mưu lược
của họ được thực hiện theo một cái nhìn nào đó, cho
dù là cái nhìn tội lỗi. Mặc dù không gì có thể biện minh
cho sự đau khổ do họ gây ra, với bất kỳ giải thích nào
về bất cứ ý định tích cực nào đưa ra, Hitler, Stalin, Mao
và Pol Pot mỗi người đều có một mục đích mà họ nhắm
đến. Nếu quan sát các hành động đó như là hoàn toàn của
loài người, mà thú vật không thể làm được, chúng ta thấy
năng khiếu tưởng tượng đóng vai trò trọng yếu. Năng khiếu
này là tài sản riêng của loài người. Nhưng cách sử dụng
nó sẽ quyết định là hành động phát khởi có tính cách
tích cực hay tiêu cực, luân lý hoặc vô luân. Động cơ cá
nhân (kun long) là yếu tố quản trị.
Trong
khi với nhãn quan có động cơ đúng — nhìn nhận ý muốn
và quyền hạnh phúc cùng tránh đau khổ của người khác —
có thể dẫn đến các điều tuyệt vời; thì ngược lại,
một khi tách rời hẳn cảm xúc cơ bản của loài người,
thứ tiềm chất hoại diệt sẵn có không thể xem như được
đánh giá quá cao.
Đối
với những kẻ giết người mua vui, hoặc còn tệ hơn, không
vì lý do gì hết, chúng ta chỉ có thể ước đoán về một
sự chìm lắng xuống quá sâu của thứ động cơ căn bản
hướng về sự quan tâm và thiện cảm đối với người khác.
Tuy vậy điều đó không có nghĩa nó hoàn toàn bị tắt lịm.
Như tôi trình bày ở trên, trừ những trường hợp quá cực
đoan, không thể tưởng tượng ra ngay cả những kẻ đó lại
không thích được nhận sự tử tế. Xu hướng vẫn còn đó.
Thật
ra độc giả không nhất thiết phải chấp nhận đề nghị
của tôi về bản chất con người trên căn bản có khuynh hướng
tình thương và tâm từ bi, cũng có thể thấy được khả
năng thiện cảm tiềm ẩn quả thật hệ trọng khi cần nói
đến luân lý. Chúng ta đã thấy bên trên, tại sao một hành
động luân lý là một hành động vô tác hại. Nhưng làm sao
xác định được thế nào là một hành động thật sự vô
tác hại? Chúng ta thấy trên thật hành, nếu không thể liên
hệ với người khác ở một tầm mức nào đó, nếu không
thể ít nhất tưởng tượng được ảnh hưởng tiềm tàng
của hành động ta đối với người khác, như thế chúng ta
sẽ không có phương tiện phân biệt giữa đúng và sai, thích
đáng hay không, hại và vô hại. Tuy nhiên, ngược lại nếu
chúng ta có thể tăng cường khả năng — tức sự nhạy cảm
trước đau khổ của người khác — thì càng nâng cao, ta lại
càng ít chịu đựng được khi nhìn thấy nỗi đau của người
khác và càng chú trọng đảm bảo mọi hành động không tác
hại cho người.
Sự
kiện chúng ta có thể tăng cường khả năng thiện cảm trở
nên rõ rệt hơn khi quán xét đến bản chất của nó. Chúng
ta kinh nghiệm nó đa phần như một cảm xúc. Và, như tất
cả chúng ta đều biết, ở một giới hạn rộng hay hẹp nào
đó, không những có thể kềm hãm cảm xúc bằng lý luận,
mà còn có thể tăng cường với cùng phương thức. Sự ham
muốn một vật nào đó — chiếc xe mới chẳng hạn — được
tăng cường bằng cách cứ nghĩ tới nghĩ lui trong trí tưởng
tượng. Tương tự, khi chúng ta hướng cơ năng tinh thần vào
thứ cảm xúc thiện cảm, sẽ thấy chẳng những có thể tăng
cường chúng, mà còn có thể chuyển hóa chúng thành tình thương
và tâm từ bi.
Tương
tự, khả năng thiện cảm nội tại là nguồn của các phẩm
chất quý báu nhất của con người; ở Tây tạng chúng tôi
gọi là "nying je". Trong khi có thể dịch nghĩa đơn giản là
"từ bi", chữ "nying je" có một ý nghĩa phong phú rất khó chuyển
dịch ngắn gọn, mặc dù các ý tưởng nó chứa đựng được
hiểu biết phổ cập. Nó bao gồm tình thương, lòng tốt, thân
ái, dịu dàng, rộng lượng, và ấm áp. Nó còn được dùng
như một từ chỉ cả thiện cảm lẫn sự thân thương. Mặt
khác, nó lại không ngụ ý "thương hại". Không có ý nghĩa
gì về sự hạ mình. Trái lại, "nying je" nói lên thứ cảm
xúc liên kết cùng người khác, phản ánh được căn nguyên
của nó trong sự thiện cảm. Do đó, trong khi chúng ta có thể
nói, "Tôi thương cái nhà của tôi" hoặc "Tôi có cảm xúc
thân ái cùng nơi này," lại không thể nói, "Tôi có tâm từ
bi" đối với các thứ trên.
Đồ
vật không có cảm xúc, chúng ta không thể bày tỏ thiện cảm
cùng đồ vật. Do đó, chúng ta không thể nói là có lòng từ
bi với chúng.
Mặc
dù qua sự mô tả này, rõ ràng là "nying je", hoặc tình thương
và lòng từ bi, được hiểu như một cảm xúc, nó thuộc vào
loại cảm xúc của nhận thức ở trình độ cao hơn. Một
số cảm xúc, như là sự ghê tởm chúng ta thường cảm nhận
khi nhìn thấy máu, là thứ bản năng nền tảng. Thứ khác,
như sợ nghèo, có một cấu tạo nhận thức phát triển hơn.
Từ đó có thể hiểu "nying je" trong ý nghĩa của phối hợp
giữa thiện cảm và lý trí. Chúng ta có thể nghĩ thiện cảm
như đặc tánh của một người rất chân thật; còn lý trí
là một người rất thực tiễn. Khi cả hai đặt chung với
nhau, sự phối hợp này rất công hiệu. Như thế, "nying je"
khá khác biệt cùng các cảm xúc ngẫu nhiên, như giận và
tham, vốn không mang lại hạnh phúc, chỉ làm phiền và phá
hoại an bình tâm trí.
Đối
với tôi, điều này đề xướng, bằng phương tiện quán chiếu
chuyên cần, và sự thân thuộc hóa cùng tâm từ bi, bằng sự
thật tập và thật hành, chúng ta có thể phát huy khả năng
nội tại liên hệ cùng người khác; một sự kiện vốn có
tầm quan trọng tối thượng tạo thành khuynh hướng luân lý
như tôi đã mô tả. Càng phát huy được tâm từ bi, hành vi
của ta càng có luân lý chân thật.
Như
chúng ta từng thấy, khi hành động khởi đi từ sự quan tâm
đến người khác, sẽ tự động tích cực. Đó là bởi chúng
ta không có sự nghi ngờ vì trái tim đã đầy ắp tình thương.
Tựa hồ như cánh cửa nội tại đã mở, cho phép ta được
tiếp xúc với bên ngoài. Quan tâm đến người khác phá vỡ
được các hàng rào ngăn cấm tác động lành mạnh cùng họ.
Không phải chỉ có thế. Khi ý định của ta đối với người
khác tốt, ta sẽ thấy mọi thứ cảm xúc như e thẹn hoặc
bất an cũng có thể giảm bớt rất nhiều. Theo cùng mức độ
mở được cánh cửa nội tâm, ta sẽ kinh nghiệm được một
ý nghĩa tự do thoát khỏi các bận bịu thường xuyên cùng
cái ngã. Một cách nghịch lý, chúng ta thấy điều đó làm
gia tăng một cảm xúc tự tin mạnh mẽ. Ở đây, nếu có thể
đưa ra thí dụ của kinh nghiệm bản thân, tôi xin nói là bất
cứ nơi nào tôi gặp được người mới và có khuynh hướng
tích cực nói trên, không hề có hàng rào ngăn cách giữa chúng
tôi. Bất kỳ người đó là ai, tóc vàng hoặc tóc đen, hoặc
tóc nhuộm xanh, tôi cũng cảm thấy mình chỉ gặp một bạn
đồng loại với cùng ý muốn hạnh phúc và tránh đau khổ
như chính tôi. Và tôi có thể trò chuyện cùng họ như bạn
bè lâu ngày của mình, cho dù mới gặp lần đầu. Khi giữ
trong tâm trí rằng, cho đến cùng thì mọi người ai cũng là
anh chị em, không có sự khác biệt thực tế nào giữa chúng
ta, và cũng như tôi, tất cả mọi người đều chia sẻ ý
muốn hạnh phúc và tránh đau khổ; như vậy tôi có thể trình
bày cảm xúc của mình một cách sẵn sàng, như là nói với
người nào đó đã thân quen từ nhiều năm. Và không phải
chỉ qua vài lời dễ thương hay vài cử chỉ, mà là tâm truyền
tâm, bất kể hàng rào ngôn ngữ.
Chúng
ta cũng thấy được, khi hành động phát từ sự quan tâm đến
người khác, an bình tạo ra trong tâm ta có thể mang an bình
đến cho mọi người liên hệ. Chúng ta mang an bình đến cho
gia đình, an bình đến bằng hữu, đến sở làm, đến cộng
đồng, và cứ thế đến cho thế giới. Như thế, tại sao
có người lại không muốn phát huy phẩm chất đó? Có thứ
gì siêu diệu hơn là có thể mang đến an bình và hạnh phúc
cho tất cả? Riêng phần tôi, khả năng của loài người biết
ca ngợi tình thương yêu và tâm từ bi chính là tặng phẩm
quý báu nhất.
Đổi
lại, không phải chỉ có độc giả đa nghi nhất mới nghĩ,
hòa bình cũng có thể đến như kết quả của các sự tranh
chấp và vô ý thức, tức là, các hành động vô luân. Dĩ
nhiên nó không thể. Tôi còn nhớ rõ đã học bài học riêng
biệt này từ khi còn là một đứa bé ở Tây tạng. Một trong
các thị giả của tôi, Kenrab Tenzin, nuôi một con két làm bạn,
thường cho ăn hạt. Mặc dù anh là một người nghiêm nhặt
với đôi mắt lộ và dáng vẻ hơi khó chịu, chỉ cần nghe
tiếng bước của anh, hoặc tiếng ho, con két đã biểu lộ
dấu hiệu phấn khích. Khi con chim nhảy lên ngón tay anh, Kenrab
Tenzin vỗ nhẹ đầu nó, khiến cho nó có vẻ say sưa. Tôi rất
ganh tỵ cùng mối liên hệ đó, và ước mong con chim sẽ biểu
lộ cùng thứ tình bạn đó đối với tôi. Nhưng khi tôi thử
tự tay cho nó ăn trong vài dịp, tôi cũng chẳng nhận được
phản ứng tốt gì. Vì thế tôi thử chọc phá nó bằng que
cây với hy vọng tạo một phản ứng tốt hơn. Không cần
phải nói, kết quả hoàn toàn tiêu cực. Thay vì làm cho nó
xử tốt hơn đối với tôi, con chim đâm ra sợ hãi. Một chút
viễn ảnh thiết lập liên hệ bạn hữu có thể có đã hoàn
toàn triệt tiêu. Từ đó tôi học được, tình bạn đến
không phải như kết quả của sự cứng rắn mà là kết quả
của tâm từ bi.
Các
truyền thống tôn giáo chính của thế giới đều lấy việc
phát triển tâm từ bi làm vai trò then chốt. Bởi vì nó vừa
là cội nguồn vừa là kết quả của nhẫn nại, bao dung, tha
thứ, và tất cả mọi phẩm tánh tốt; tầm quan trọng của
nó được xem như mở rộng suốt từ đầu chí cuối trong
việc thật hành tâm linh. Nhưng cho dù không có các phối cảnh
của tôn giáo, tình yêu thương và tâm từ bi rõ rệt có tầm
quan trọng cơ bản đối với tất cả chúng ta. Tạo cơ ngơi
nền tảng cho một hành vi luân lý bao gồm việc không làm
hại người khác, tiếp theo là cần phải quán xét cảm xúc
của người khác, nền tảng cho điều đó chính là khả năng
thiện cảm nội tại của chúng ta. Và khi ta chuyển hóa khả
năng này thành tình thương và tâm từ bi, bằng sự kềm giữ
các yếu tố gây rối tâm từ bi và vun bồi các yếu tố tiếp
dẫn nó, đó chính là phát triển được sự thật hành luân
lý. Điều này, chúng ta sẽ thấy, dẫn đến hạnh phúc cho
cả ta và người khác.