Chương
4
TÁI
ĐỊNH MỤC TIÊU
Tôi
đã quán sát thấy tất cả chúng ta đều muốn hạnh phúc
và tránh đau khổ một cách tự nhiên. Đó là điều chánh
đáng, và theo ý tôi, từ đó có thể suy luận, một hành động
luân lý là hành động không làm hại đến kinh nghiệm hoặc
hy vọng hạnh phúc của người khác. Và tôi cũng đã mô tả
một hiểu biết thực tế cho thấy sự hòa hợp tự nhiên
của lợi ích hỗ tương giữa ngã và tha.
Giờ
đây chúng ta quán sát bản chất của hạnh phúc. Điều trước
tiên cần ghi nhận đó là một tánh chất tương đối. Chúng
ta kinh nghiệm nó khác nhau tùy theo hoàn cảnh. Điều khiến
cho một người hạnh phúc có thể lại là nguồn đau khổ
của kẻ khác. Đa số chúng ta vô cùng hối tiếc nếu bị
vào tù chung thân. Tuy nhiên, một kẻ trọng phạm bị dọa
án tử hình, có thể rất vui mừng khi được giảm khinh qua
một bản án tù chung thân. Thứ đến, rất quan trọng phải
nhìn nhận rằng, chúng ta dùng cùng từ "hạnh phúc" để mô
tả rất nhiều trạng thái khác nhau; một điều ở Tây tạng
rất rõ rệt, nơi đó cùng một chữ de wa được dùng cho mọi
ý nghĩa "vui thích." Chúng ta nói đến hạnh phúc liên quan đến
việc tắm mát vào một hôm trời nóng bức. Chúng ta nói đến
nó liên quan đến vài trạng thái lý tưởng, như là khi bảo,
"Tôi rất hạnh phúc nếu trúng số lớn."
Chúng
ta cũng nói đến hạnh phúc liên quan đến những niềm vui
đơn giản trong đời sống gia đình.
Trong
trường hợp cuối, hạnh phúc rộng lớn hơn, như là một
trạng thái tồn tục mặc bao thăng trầm và đôi lúc gián
đoạn. Nhưng trong trường hợp tắm mát vào ngày nóng, vì
đó là kết quả của sinh hoạt nhằm thỏa mãn xúc giác, cho
nên cần phải ngắn tạm. Nếu ở trong nước quá lâu, chúng
ta bắt đầu cảm thấy lạnh. Thật vậy, hạnh phúc đến
từ các sinh hoạt như thế còn tùy thuộc vào sự ngắn ngủi
của nó. Trong trường hợp trúng số nhiều tiền, vấn đề
việc đó có mang đến hạnh phúc lâu dài hoặc chẳng bao lâu
thì sẽ bị vượt qua bởi các vấn đề và khó khăn không
thể giải quyết chỉ bằng sự giàu có, điều đó còn tùy
thuộc vào người trúng số. Tựu trung, ngay dù khi tiền mang
đến hạnh phúc cho chúng ta, chỉ nằm trong xu hướng những
thứ gì tiền có thể mua được: đồ đạc vật chất và
kinh nghiệm giác quan. Khi nào các sở hữu hiện tại còn dính
dấp, ta phải nhìn nhận chúng thường tạo ra ít nhiều khó
khăn trong cuộc đời. Chiếc xe bị hỏng, tiền của bị mất,
các đồ đạc quý giá bị trộm, nhà cửa bị cháy. Hoặc
dĩ như vậy, hoặc dĩ chúng ta đau khổ vì tiếc nuối trước
các việc đã xảy ra.
Nếu
chưa phải là trường hợp quá rõ rệt — nếu thật ra các
hành động và hoàn cảnh không chứa đựng bên trong hạt giống
khổ đau — thì khi chúng ta càng nhẹ nhàng, hạnh phúc càng
dễ đến hơn; ngược lại sự đau đớn càng gia tăng thêm
nếu chúng ta càng chú trọng hay chịu đựng nguyên do của
nỗi đau. Nhưng đó không phải là trường hợp. Thật vậy,
trong khi thỉnh thoảng chúng ta có thể cảm thấy như đã tìm
ra hạnh phúc hoàn hảo loại đó, thì sự hoàn hảo đó lại
trở thành mong manh như giọt sương trên lá, chiếu sáng chỉ
một thời khắc ngắn ngủi, rồi tan biến mất.
Điều
này giải thích tại sao đặt quá nhiều hy vọng vào phát triển
vật chất là một sai lầm. Các vấn đề không thể được
vật chất hóa như thế. Trong đó có một giả định tiềm
ẩn rằng, sự toàn mãn không thể đến chỉ bằng sự thỏa
mãn các giác quan. Không giống như thú vật chỉ đòi hỏi
hạnh phúc hạn chế trong sự tồn sinh và đáp ứng tức thời
của nhu cầu giác quan, loài người có khả năng kinh nghiệm
hạnh phúc ở trình độ sâu xa hơn, và khi đạt đến, có
khả năng vượt qua các kinh nghiệm trái ngược. Lấy trường
hợp một người lính ra chiến trường. Anh ta bị thương,
nhưng mặt trận được chiến thắng. Kinh nghiệm thỏa mãn
vì chiến thắng sẽ khiến cho kinh nghiệm đau đớn vì thương
tích của anh cảm nhận ít hơn của một người lính phía
thua trận chịu cùng một vết thương.
Khả
năng con người kinh nghiệm các trình độ sâu xa khác nhau của
hạnh phúc còn giải thích tại sao có những thứ như âm nhạc
hay nghệ thuật tạo được mức độ hạnh phúc và thỏa mãn
lớn hơn cả việc chiếm hữu được các thứ vật chất.
Tuy nhiên, mặc dù các kinh nghiệm mỹ quan là nguồn hạnh phúc,
chúng vẫn chứa yếu tố giác quan mạnh mẽ. Âm nhạc tùy
thuộc vào tai, nghệ thuật vào mắt, khiêu vũ vào thân. Cũng
thế, sự thỏa mãn đạt từ việc làm hay nghề nghiệp, thường
được đạt đến qua các giác quan. Tự riêng chúng, chúng
không thể mang đến thứ hạnh phúc mà ta mơ ước.
Bây
giờ, chúng ta có thể lập luận rằng, sự phân biệt giữa
hạnh phúc tạm thời cùng dài lâu, hạnh phúc phù du và chân
thật là điều tốt; nhưng thứ hạnh phúc duy nhất có ý nghĩa
đáng nói khi con người sắp chết khát chỉ là gặp được
nước. Điều đó không có gì để bàn cãi. Khi đụng vấn
đề sống chết, tự nhiên nhu cầu trở nên quá cấp bách
đến độ hầu hết khả năng của chúng ta đều nhắm vào
việc trọn vẹn cho chúng. Lại nữa, vì sự khẩn thiết phải
sanh tồn đến từ nhu cầu vật lý, tiếp theo sau sẽ là sự
thỏa mãn của thân xác hạn định không thay đổi trong những
gì các giác quan có thể cung ứng. Nhưng vì thế mà kết luận
rằng ta phải tìm cách đáp ứng ngay các giác quan trong mọi
trường hợp là điều khó thể xác nhận.
Thật
vậy, nếu nghĩ kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy sự kích thích ngắn
ngủi kinh nghiệm được qua sự làm lắng dịu thúc dục của
giác quan không khác mấy với điều mà một người nghiện
thuốc cảm thấy khi phải đáp ứng thói quen. Sự giải tỏa
tạm thời tiếp theo sau chỉ là một sự đòi hỏi gia tăng.
Và nếu ta chỉ nghĩ đến việc làm thỏa mãn các khát vọng
cảm giác, kết quả sẽ cùng đường lối với sự dùng thuốc,
cuối cùng chỉ mang đến tác hại. Điều này không có nghĩa
sự thích thú ta có được trong vài sinh hoạt là điều sai
lầm. Nhưng phải nhìn nhận không thể hy vọng làm thỏa mãn
được các giác quan một cách thường trực. Chẳng hạn như,
hạnh phúc tìm thấy từ việc ăn được một bữa ngon chỉ
có thể tồn tại cho đến lần sau khi ta lại đói. Như một
tác giả Ấn độ thời cổ nhận xét: Nuông chiều các giác
quan và uống nước muối cũng giống nhau: khi càng đưa vào
nhiều, thì ham muốn và khát khao càng gia tăng.
Thật
thế, chúng ta thấy một số lớn của điều mà ta gọi là
đau khổ nội tại có thể đến từ khuynh hướng thúc đẩy
tìm hạnh phúc. Chúng ta không hề ngừng lại để quán xét
sự phức tạp của một tình trạng xảy ra. Khuynh hướng của
ta là vội vã chạy vào và làm bất cứ điều gì hứa hẹn
như con đường ngắn nhất để thỏa mãn. Nhưng làm vậy,
thông thường ta chỉ đánh mất đi cơ hội đạt đến một
mức độ trọn vẹn cao hơn. Điều đó thật có vẻ kỳ lạ.
Thường thì ta không chịu cho con mình làm bất cứ điều gì
chúng muốn. Ta nhận biết nếu cho chúng tự do, chúng sẽ bỏ
thì giờ chơi đùa hơn là học hành. Thay vào đó, ta bắt chúng
hy sinh thích thú tức thời của việc chơi đùa và ép chúng
vào học. Sách lược này khá kéo dài. Và trong khi khiến chúng
bớt vui, lại tạo ra một căn bản vững chắc cho tương lai
chúng. Trong khi đó chúng ta, như là người lớn, lại thường
quên đi nguyên tắc này. Chúng ta bỏ quên sự kiện, chẳng
hạn như, một người phối ngẫu dùng hết thời gian vào việc
thỏa mãn các thích thú riêng tư, thì chắc chắn người kia
sẽ đau khổ. Và khi chuyện đó xảy ra, điều không thể tránh
là hôn nhân trở nên ngày càng khó chịu đựng hơn. Tương
tự, chúng ta thất bại trong việc thừa nhận khi cha mẹ chỉ
chú trọng lẫn nhau và lơ là con cái, điều đó chắc chắn
sẽ mang đến hậu quả tiêu cực.
Khi
chúng ta hành động cho thỏa mãn nhu cầu tức thời mà không
lưu ý đến ích lợi của tha nhân, sẽ làm tổn hại khả
tánh của thứ hạnh phúc lâu dài. Thử nghĩ nếu chúng ta sống
trong một khu xóm với khoảng mười gia đình và chưa hề nghĩ
đến sự an sinh của họ, tức là tự tước đoạt lấy cơ
hội hưởng thụ các lợi lạc từ cộng đồng đó.
Mặt
khác, nếu chúng ta cố thân thiện và lưu ý đến an sinh của
họ, sẽ tạo cơ hội cho chính hạnh phúc của mình và của
cả họ. Hoặc là, thử tưởng tượng một thời điểm nào
đó ta gặp gỡ một người mới. Có thể cùng ăn chung với
nhau. Điều đó khiến ta mất một ít tiền. Nhưng kết quả
là có hy vọng tạo lập một mối liên hệ sẽ mang nhiều
lợi ích trong nhiều năm sắp đến. Ngược lại, nếu gặp
người nào đó mà lại thấy có cơ hội để lừa đảo họ,
và ta làm như thế, mặc dù có thể kiếm được một số
tiền tức khắc, nhưng hầu như đã hoàn toàn đánh mất khả
năng hưởng lợi lâu dài trong sự giao hảo với họ.
Bây
giờ thử quán sát bản chất của hạnh phúc chân thật. Ở
đây kinh nghiệm cá nhân của tôi có thể dùng để phác lên
trạng thái tôi muốn nói đến. Như là một tăng sĩ Phật
giáo, tôi được huấn luyện về thật hành, triết lý và
nguyên tắc của Phật giáo. Nhưng tôi không được nhận một
loại giáo dục thực tiễn nào hầu đối phó cùng các yêu
cầu của đời sống hiện đại. Trong cuộc đời tôi, tôi
từng phải giải quyết vô số trách nhiệm và khó khăn lớn
lao. Năm mười sáu tuổi, tôi mất tự do khi Tây tạng bị
xâm chiếm. Năm hai mươi bốn tuổi, tôi mất cả quốc gia
khi phải đi lưu vong. Bốn mươi năm qua tôi sống tỵ nạn
trên nước ngoài, mặc dù đó là ngôi nhà của tâm linh tôi.
Qua thời gian đó, tôi cố gắng phục vụ cho các đồng bào
tỵ nạn, và cố nới rộng khả dĩ đến các đồng bào Tây
tạng còn ở quê nhà. Đồng thời, quê nhà tôi còn phải chịu
các sự tàn phá và đau khổ khủng khiếp. Tôi chẳng những
bị mất mẹ và quyến thuộc, mà cả các bằng hữu. Đối
với tất cả những chuyện đó, dù đương nhiên tôi phải
buồn mỗi khi nghĩ đến, nhưng nhờ căn bản thanh tịnh được
đào luyện, cho nên hầu như tôi thường an tĩnh và hài lòng.
Ngay khi các khó khăn nhất khởi dậy, tôi cũng không bị chúng
làm xao động. Tôi không ngần ngại nói rằng tôi hạnh phúc.
Theo
kinh nghiệm của tôi, đặc điểm chính yếu của hạnh phúc
chân thật là an bình: an bình nội tại. Không phải tôi muốn
nói đến một thứ cảm giác "lâng lâng" nào đó. Cũng không
phải là một thứ thiếu vắng cảm giác. Trái lại, thứ an
bình tôi mô tả bắt nguồn từ sự quan tâm đến người khác,
và hàm xúc một mức độ cao về cảm tính, mặc dù tôi không
thể tự cho là đã thành công khá xa trong việc đó. Hơn nữa,
tôi đóng góp cảm thức an bình của mình vào nỗ lực phát
huy mối quan ngại đến tha nhân.
Sự
kiện về an bình nội tại là đặc điểm chủ yếu của hạnh
phúc, giải thích sự nghịch lý mà ai ai trong chúng ta đều
có thể nghĩ đến, của những người vẫn bất mãn mặc dù
có đầy đủ các thứ tiện nghi vật chất, và những người
vẫn thấy hạnh phúc dù đang sống trong tình trạng cực kỳ
khó khăn. Lấy thí dụ của tám mươi ngàn người Tây tạng
trong những tháng đầu tiên sau khi theo tôi lưu vong, đã bỏ
nước để đi đến tạm trú nơi một ngôi đền do chính quyền
Ấn độ tặng dữ. Tình trạng của họ lúc bấy giờ khó
khăn tột điểm. Thực phẩm thiếu thốn và thuốc men còn
thiếu thốn hơn. Trại tỵ nạn không tiện nghi gì hơn lều
vải. Hầu hết mọi người đều không còn của cải gì hơn
là quần áo mặc trên thân khi ra khỏi nhà. Họ mặc loại
áo chubas (áo truyền thống của Tây tạng) dày nặng thích
hợp cho mùa đông khắc nghiệt, trong khi đó thứ họ thật
sự cần đến ở Ấn độ là loại vải mỏng nhẹ. Và còn
các chứng bệnh khủng khiếp chưa từng được biết ở Tây
tạng. Thế mà, qua bao nhiêu khổ nhọc đó, ngày nay các người
sống sót kia biểu hiện rất ít dấu vết chấn thương. Ngay
cả lúc đó, rất ít người bị mất lòng tin. Càng ít người
bị rơi vào cảm nghĩ buồn phiền và tuyệt vọng. Tôi còn
có thể nói, một khi đả kích ban đầu đã vượt qua, thì
phần đông đều tỏ ra khá lạc quan và, thật vậy, họ hạnh
phúc.
Chỉ
dấu ở đây là nếu chúng ta có thể phát huy được phẩm
chất an bình nội tại, thì trước bất cứ khó khăn nào ta
gặp trong đời sống, cảm thức căn bản về an sinh vẫn không
bị hư hao. Điều tiếp theo là mặc dù không phủ nhận tầm
quan trọng của các yếu tố bên ngoài mang lại, thật nhầm
lẫn nếu giả thiết rằng chúng có thể khiến ta hoàn toàn
hạnh phúc.
Đương
nhiên sự cấu tạo của chúng ta, sự dưỡng dục, và hoàn
cảnh tất cả đều đóng góp vào kinh nghiệm hạnh phúc. Và
tất cả chúng ta đều có thể đồng ý là thiếu thốn một
số điều nào đó có thể khiến sự đạt đến khó khăn
hơn. Vì vậy, hãy thử quán xét các điều này.
Sức
khỏe, bằng hữu, tự do, và một mức độ thịnh vượng nào
đó có thể quý báu và ích lợi. Sức khỏe tốt tự nó nói
lên đầy đủ. Chúng ta ai cũng mong muốn nó. Tương tự, chúng
ta ai cũng cần và muốn bạn bè, cho dù hoàn cảnh nào hoặc
thành công ra sao. Tôi vốn ưa thích đồng hồ, nhưng mặc dù
rất thích chiếc đồng hồ tay thường mang, nó không bao giờ
cho tôi một thứ tình cảm nào. Để đạt được thứ thỏa
mãn của tình thương, chúng ta cần bạn bè có thể đáp lại
thứ tình cảm đó. Dĩ nhiên, có nhiều hạng bạn bè khác
nhau. Có những người chỉ là bạn của địa vị, tiền tài
và danh vọng, chứ không phải là bạn của người có các
thứ đó. Nhưng tôi muốn nói đến các người bạn sẵn sàng
giúp đỡ chúng ta khi gặp một trạng huống khó khăn ở đời,
chứ không phải những người có căn bản liên hệ giả tạm.
Tự
do, trên ý nghĩa thứ tự do theo đuổi hạnh phúc và giữ được
cùng trình bày được các quan điểm cá nhân, cũng góp phần
vào ý nghĩa an bình nội tại của chúng ta. Trong các xã hội
không cho phép tự do, chúng ta tìm thấy các tên mật vụ cứ
rình rập đời sống trong các cộng đồng, ngay cả trong gia
đình. Hậu quả khó tránh là người ta bắt đầu mất niềm
tin vào nhau. Họ trở nên đa nghi và ngờ vực động cơ của
kẻ khác. Một khi cảm thức tin cậy căn bản đã bị hủy
diệt, làm sao mong mỏi họ được hạnh phúc?
Thịnh
vượng cũng thế — không quá nhiều trong ý nghĩa là có thật
nhiều tài sản vật chất mà đúng hơn trên ý nghĩa đời
sống tinh thần và tình cảm — sẽ đóng góp một phần có
ý nghĩa vào an bình nội tại. Ở đây, chúng ta có thể lại
nghĩ đến thí dụ của các người tỵ nạn Tây tạng vẫn
cảm thấy hanh thông mặc dù họ thiếu thốn vật chất.
Thật
vậy, mỗi yếu tố trên đóng một phần quan trọng nhằm xây
dựng một ý nghĩa về sự an sinh cá nhân. Lại nữa, nếu
thiếu một cảm giác an bình nội tại và an toàn, thì chúng
cũng không có hiệu lực. Tại sao? Bởi vì, như chúng ta đã
thấy, sở hữu là một nguồn lo khổ.
Việc
làm của chúng ta cũng thế nếu còn cảm thấy lo sợ sẽ mất
chúng. Ngay cả bạn hữu và thân thuộc cũng là nguồn phiền
não. Họ có thể bệnh hoạn và khiến chúng ta phải nghĩ đến
trong khi đang còn phải bận rộn với nhiều việc quan trọng.
Họ có thể khó chịu hoặc lừa đảo chúng ta. Tương tự,
thân thể chúng ta, dù lành mạnh và đẹp đẽ trong hiện tại,
sẽ dần dà đi đến lúc già nua. Cũng không bao giờ chúng
ta tránh khỏi bệnh hoạn và đau đớn. Do đó không có hy vọng
gì đạt đến một hạnh phúc dài lâu nếu thiếu an bình nội
tại.
Như
thế, ở đâu mà tìm ra an bình nội tại? Không có câu trả
lời độc nhất. Nhưng có một điều rất chắc chắn. Không
có yếu tố ngoại lai nào có thể tạo ra nó. Vô ích thôi
nếu yêu cầu một y sĩ tạo cho mình. Điều tốt nhất y sĩ
có thể làm là cho chúng ta một liều thuốc an thần hoặc
một viên thuốc ngủ. Tương tự, không có máy móc hoặc máy
điện toán nào, dù cho tinh khôn và đa năng đến đâu, lại
có thể trao cho chúng ta thứ phẩm chất trọng yếu đó.
Theo
tôi, phát huy an bình nội tại — thứ hạnh phúc có ý nghĩa
và dài lâu tùy thuộc vào đó — chẳng khác nào như bất
cứ nhiệm vụ nào khác trong cuộc đời: ta phải phân định
các nhân duyên và điều kiện của nó, rồi tinh tấn vun bồi
chúng. Điều này đưa đến một khuynh hướng nhị phân. Một
diện, phải canh phòng sự phá rối của các yếu tố nhiễu
loạn. Diện kia, cần phải vun bồi các yếu tố có thể dẫn
dắt an bình vào.
Khi
các điều kiện của an bình nội tại còn được quan tâm
đến, một trong những điều quan trọng nhất là thái độ
nền tảng của chúng ta. Tôi xin giải thích điều đó bằng
cách đưa ra một thí dụ cá nhân khác. Mặc dù tình trạng
thanh tịnh thường trực hiện nay, trước kia tôi là người
khá nóng tánh và dễ mất nhẫn nại, đôi khi còn đi đến
chỗ nổi giận. Ngay cả hiện nay, đôi khi tôi cũng mất đi
sự điềm đạm của mình. Khi điều đó xảy ra, một chút
phiền não cũng làm mất đi sự thăng bằng và quấy rối tôi.
Thí dụ như, tôi có thể thức dậy vào sáng sớm và cảm
thấy chao động chẳng rõ vì sao. Trong trạng thái này, tôi
thấy ngay dù các điều bình thường khiến tôi thích thú cũng
có thể trở thành khó chịu. Chỉ cần nhìn đồng hồ là
tôi cảm thấy phiền toái. Tôi thấy nó không là gì khác hơn
một nguồn ràng buộc, và qua nó, một sự phiền não. Nhưng
một ngày khác, tôi thức dậy và thấy nó như một vật gì
đẹp đẽ, thật tinh xảo và vi tế. Dĩ nhiên, đó cũng chỉ
là cùng một chiếc đồng hồ.
Cái
gì đã thay đổi? Phải chăng cảm xúc cáu kỉnh ngày này và
hài lòng ngày kế của tôi chỉ thuần túy là kết quả của
một sự tình cờ? Hoặc có một cơ năng thần kinh nào đó
mà tôi không thể kiểm soát được hoàn toàn? Mặc dù dĩ
nhiên thể chất có thể có điều gì trong đó, nhưng yếu
tố quản trị chính là thái độ tinh thần của tôi. Thái
độ cơ bản — cách thức ta liên hệ cùng các hoàn cảnh
bên ngoài — do đó phải là điều đáng đem ra thảo luận
trước tiên trong sự khai triển an bình nội tại. Trong hạn
định đó, vị thiền sư Ấn độ nổi tiếng Shantideva có
lần quán sát rằng, trong khi chúng ta không có hy vọng tìm
đủ da để phủ trùm quả đất hầu tránh khỏi bị đạp
gai, thì thật ra cũng không cần thiết. Rồi ông tiếp, chỉ
cần đủ da để che bàn chân của chính mình là đủ. Nói
cách khác, trong khi chúng ta không thể thay đổi thường xuyên
tình trạng bên ngoài cho phù hợp với mình, thì chỉ cần
thay đổi thái độ là đủ.
Một
nguồn chủ yếu khác cho an bình nội tại, từ đó phát xuất
hạnh phúc chân thật, đương nhiên là các hành động ta làm
trong khi theo đuổi hạnh phúc. Chúng ta có thể xếp loại các
hành có sự đóng góp tích cực, các hành có ảnh hưởng trung
hòa, và các hành có ảnh hưởng tiêu cực. Khi quán xét sự
khác biệt giữa các hành có thể tạo thành một hạnh phúc
lâu dài khác biệt với các hành chỉ tạo sự thỏa mãn ngắn
ngủi của cảm giác dễ chịu, ta thấy trong trường hợp sau,
các sinh hoạt tự chúng không có giá trị tích cực. Chúng
ta có một ham muốn về một thứ gì ngọt dịu, chẳng hạn,
hoặc vài món quần áo thời trang, hoặc kinh nghiệm về một
thứ gì mới lạ. Chúng ta không thật sự cần đến nó. Chúng
ta chỉ muốn vật đó hoặc cảm giác hoặc kinh nghiệm đó,
và làm sao cho thỏa mãn sự ham muốn của mình mà không cần
suy nghĩ nhiều. Tôi không phải đề thiết rằng trong đó nhất
thiết có một thứ gì sai trái. Một sự thèm khát một thứ
gì cụ thể là thành phần của bản chất con người: chúng
ta muốn nhìn, muốn sờ, muốn chiếm. Nhưng, như tôi đã đề
nghị ở trên, điều quan yếu là chúng ta phải nhận thấy
rằng, khi ta muốn vật gì không có một lý do thật sự nào
ngoài sự vui thú chúng mang lại, cuối cùng chúng có thể mang
đến nhiều phiền toái hơn cho ta. Hơn nữa, chúng ta nhận
thấy, giống như vậy, các thứ hạnh phúc tưởng lệ các
đòi hỏi cảm giác này mang đến, thật ra cũng chỉ là tạm
bợ.
Chúng
ta còn phải nhìn nhận rằng, chính sự thiếu quan tâm đến
hậu quả nằm bên dưới các hành động cực đoan, như làm
đau kẻ khác, thậm chí giết chóc — các điều này chỉ làm
thỏa mãn nhất thời dục vọng của kẻ làm — mặc dù các
dục vọng này vô cùng tiêu cực. Lại nữa, trong lãnh vực
sinh hoạt kinh tế, sự theo đuổi tài lợi mà không cân nhắc
mọi hậu quả khả dĩ tiêu cực chắc chắn có thể mang đến
một cảm giác vui mừng khi thành công. Nhưng cuối cùng lại
có sự đau khổ: môi trường bị ô nhiễm, các phương pháp
thiếu thận trọng khiến cho kẻ khác bị mất việc, các khí
giới sản xuất tạo chết chóc và thương tích.
Còn
về các sinh hoạt có thể dẫn đến một cảm thức an bình
và hạnh phúc dài lâu, thử quán xét chuyện gì xảy ra khi
chúng ta làm một việc được tin tưởng có giá trị. Có thể
chúng ta thực thi một kế hoạch trồng trọt trên đất hoang,
và sau đó, với nhiều nỗ lực, đã mang lại hoa màu. Khi phân
tích hoạt động thuộc loại này, sẽ thấy chúng liên hệ
đến sự nhận thức thông suốt. Chúng bao gồm sự cân nhắc
các dữ kiện khác nhau, kể cả các hậu quả có thể xảy
ra cho chính mình và người khác. Trong tiến trình lượng định
đó, câu hỏi về đạo đức, về hành động đó có phù hợp
luân lý hay không, sẽ tự động đặt ra. Như thế, trong khi
động cơ đầu tiên có thể là hư ngụy vì chỉ muốn đạt
đến thứ gì đó, chúng ta lý luận rằng mặc dù ta có thể
hưởng hạnh phúc cấp thời bằng cách đó, thì hậu quả
dài lâu của cách hành xử như vậy chỉ mang lại phiền phức.
Bằng cách đó, ta đã đắn đo từ bỏ một số hành động
nào đó vì ích lợi của người khác. Rồi qua sự thành đạt
mục tiêu nhờ nỗ lực và hy sinh; qua sự cân nhắc cả hai
loại ích lợi ngắn hạn cho ta với loại ảnh hưởng dài
hạn cho hạnh phúc của người, và hy sinh loại đầu cho loại
sau; nhờ đó chúng ta đạt đến hạnh phúc có đặc tánh an
bình và thỏa mãn thật sự. Câu trả lời cho sự khó nhọc
cũng xác định điều đó. Khi chúng ta đi nghỉ lễ, động
cơ là giải trí. Khi đó, nếu vì lý do thời tiết xấu, mưa
gió, sự ham muốn đi ra ngoài chơi bị dồn nén, và hạnh phúc
dễ bị hủy diệt. Mặt khác, nếu chúng ta không phải chỉ
tìm một sự thỏa mãn nhất thời, mà nỗ lực đạt mục
tiêu nào đó, thì các sự đói, mệt, hay khó chịu có thể
phải kinh qua không làm phiền ta được. Nói cách khác, vị
tha là một thành phần chủ yếu cho các hành động dẫn đến
hạnh phúc thật sự.
Có
sự khác biệt quan trọng giữa điều mà chúng ta có thể gọi
là hành động luân lý và hành động tâm linh. Một hành động
luân lý là khi chúng ta tự chế không tác hại đến kinh nghiệm
hoặc hy vọng hạnh phúc của tha nhân. Hành động tâm linh
có thể mô tả trong hạn định của các đức tánh đã kể
trên như tình thương, tâm từ bi, nhẫn nại, tha thứ, khiêm
cung, bao dung, vân vân vốn hàm chứa một trình độ quan tâm
nào đó đến sự an sinh của tha nhân. Chúng ta thấy rằng,
các hành động tâm linh có động cơ không phải do ngã lợi
hạn hẹp, mà do sự quan tâm đến tha nhân, thật sự mang lợi
lạc đến cho ta. Không những thế, chúng còn khiến đời sống
của ta có ý nghĩa hơn. Ít ra đó là kinh nghiệm của tôi.
Nhìn lại đời mình, tôi có thể nói với đầy đủ tự tin
rằng, những thứ như văn phòng của Đạt lai Lạt ma, quyền
lực chính trị, ngay cả các sự giàu có vật chất tùy nghi
sử dụng, đã không góp phần nhỏ nhoi nào vào trong cảm thức
hạnh phúc của tôi, so với thứ hạnh phúc tôi thường cảm
thấy trong các trường hợp tôi có thể làm lợi cho tha nhân.
Đề
nghị này có thể dùng như sự phân tích được chăng? Có
phải hành vi làm do ước vọng giúp đỡ tha nhân là con đường
hữu hiệu nhất mang lại hạnh phúc chân thật? Thử quán chiếu
như dưới đây. Chúng ta tất cả đều là con người xã hội.
Chúng ta đến trong thế giới như là quả từ hành của tha
nhân. Chúng ta tồn sanh nơi đây do tùy thuộc vào tha nhân.
Dù thích hay không, rất hiếm có những giây phút nào trong
đời mà ta không hưởng thụ từ sinh hoạt của người khác.
Vì lý do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi hầu hết sự
hạnh phúc của chúng ta đều đến từ toàn bộ của các liên
hệ cùng người khác. Cũng chẳng có gì đáng kể nếu niềm
vui lớn nhất của chúng ta phải đến khi ta làm theo động
cơ là sự quan tâm đến người khác. Nhưng chưa phải hết.
Chúng ta thấy không những hành động vị tha chỉ mang lại
hạnh phúc, mà còn làm giảm bớt kinh nghiệm đau khổ. Ở
đây, tôi không đề ra rằng cá nhân hành theo động cơ mưu
cầu hạnh phúc cho tha nhân nhất thiết phải ít gặp vận
xấu hơn là kẻ không làm. Bệnh, lão, và tai ương này khác
đều tương đồng cho mỗi cá nhân. Nhưng sự đau khổ làm
tiêu hao an bình nội tại của chúng ta — âu lo, ẩn ức, thất
vọng — có thể tiết giảm được. Trong sự quan tâm đến
người khác, ta bớt lo lắng đến mình đi. Khi ta bớt lo lắng
về mình, kinh nghiệm đau khổ bản thân đỡ căng thẳng.
Điều
đó nói lên được gì? Thứ nhất, bởi vì mỗi hành động
của chúng ta đều có một tánh cách toàn cầu, một ảnh hưởng
khả dĩ đến hạnh phúc của tha nhân; luân lý cần thiết
như một phương tiện đảm bảo chúng ta không tác hại tha
nhân. Thứ nhì, hạnh phúc chân thật hàm chứa các phẩm chất
tâm linh của tình thương và tâm từ bi, nhẫn nại, bao dung,
tha thứ, khiêm tốn, vân vân. Đó là những điều mang đến
hạnh phúc cả cho chúng ta và cho người khác.