Chương
3
CĂN
NGUYÊN TÙY THUỘC VÀ BẢN CHẤT CỦA THỰC TẾ
Trong
một cuộc nói chuyện trước công chúng tại Nhật bản vài
năm trước đây, tôi thấy vài người mang hoa đến gần tôi.
Tôi đứng dậy để nhận phẩm vật này, nhưng lại ngạc
nhiên vì họ đi thẳng ngang qua và đến đặt hoa trên bàn
thờ phía sau tôi. Tôi ngồi xuống và cảm thấy hơi bối rối!
Tuy thế, tôi nhớ ngay đến cách thức trong đó sự vật và
sự kiện không luôn luôn trùng hợp cùng kỳ vọng của chúng
ta. Thật vậy, sự thật của cuộc đời này — luôn luôn
có một khoảng cách giữa phương thức chúng ta cảm thức
hiện tượng và thực tế trong bất kỳ trường hợp nào —
chính là nguồn của sự mất hạnh phúc. Điều này đặc biệt
đúng, như trong trường hợp trên, khi chúng ta phán đoán trên
căn bản một sự hiểu biết nửa vời, chưa được chính
xác.
Trước
khi quán chiếu một cuộc cách mạng tâm linh và luân lý phải
hàm chứa những gì, chúng ta thử đưa ra vài ý tưởng về
bản chất của thực tế. Liên hệ gần nhất giữa cách tự
nhận thức bản thân trong tương quan cùng thế giới bên ngoài
và thái độ phản ứng đối với nó, có nghĩa sự hiểu biết
của chúng ta về hiện tượng có ý nghĩa tối yếu. Nếu không
hiểu hiện tượng, chúng ta rất có thể sẽ làm điều tác
hại cho chính bản thân và người khác.
Khi
quán xét vấn đề, chúng ta bắt đầu nhận ra không thể tách
rời bất cứ hiện tượng nào khỏi toàn bản của các hiện
tượng khác. Chúng ta thật sự chỉ có thể nói qua hạn định
của các liên hệ.
Trong
đời sống hàng ngày, chúng ta tham gia vô số sinh hoạt và
nhận số lượng thọ cảm khổng lồ từ khắp các nơi tiếp
xúc. Vấn đề tri giác sai, thay đổi dưới nhiều mức độ,
thường diễn ra vì khuynh hướng cô lập những khía cạnh
đặc biệt nào đó của một biến cố hoặc kinh nghiệm, và
nhìn chúng như thiết lập được một toàn thể. Điều này
đưa đến sự hạn chế phối cảnh và từ đó đưa ra các
sự mong đợi giả tạm. Nhưng khi quán xét vào chính thực
tế, chúng ta sẽ nhận ra được tri giác theo thói quen đó
vốn thiếu sót. Bằng không phải vậy, khái niệm về sự
thất vọng sẽ không có nghĩa gì. Nếu sự vật và sự kiện
luôn luôn cởi mở như chúng ta mong đợi, chúng ta sẽ không
có được ý niệm về ảo giác hoặc ngộ nhận.
Như
một phương tiện để hiểu được sự phức tạp này, tôi
dùng khái niệm rất hữu ích về căn nguồn tùy thuộc (tiếng
Tây tạng, ten del), biện thuyết của trường phái triết học
Madhyamika (Trung Đạo). Theo điều này, chúng ta có thể hiểu
sự vật và sự kiện đến bằng ba phương cách. Ở trình
độ thứ nhất, luật nhân quả được đề ra, theo đó mọi
sự vật và sự kiện khởi dậy tùy thuộc nhau trong một mạng
lưới phức tạp của các nguyên nhân (hay duyên khởi) và điều
kiện. Điều này ngụ ý, không có sự vật hoặc sự kiện
có thể giải thích như tự nó có khả năng đi vào, hoặc
còn lại trong sự hiện hữu. Thí dụ, nếu tôi lấy đất
sét và nắn, tôi có thể tạo sự hiện hữu của một cái
bình. Cái bình hiện hữu như một kết quả từ hành động
của tôi. Đồng thời, nó cũng là kết quả của vô số các
nguyên nhân và điều kiện khác. Trong đó có sự phối hợp
của đất sét và nước để tạo thành nguyên liệu sống.
Cao hơn nữa, chúng ta có thể nêu ra sự phối hợp của các
phân tử, nguyên tử, và các thứ vi thể khác để tạo thành
các hợp chất đó (chính tự chúng lại tùy thuộc vào vô
số các yếu tố khác). Rồi còn có trường hợp nào khiến
tôi quyết định hành động phải tạo hình dáng cho đất
sét. Tất cả các yếu tố đó cho thấy rõ ràng là cái bình
của tôi không thể có sự hiện hữu độc lập với nguyên
nhân và điều kiện của nó. Nói đúng hơn nó có căn nguyên
tùy thuộc.
Trên
trình độ thứ nhì, ten del có thể hiểu theo ý nghĩa của
tùy thuộc hỗ tương hiện hữu giữa các thành phần và toàn
thể. Nếu không có các thành phần, thì không có toàn thể;
không có toàn thể, thì khái niệm về thành phần không có
ý nghĩa. Ý tưởng về "toàn thể" tiên định đối với thành
phần, nhưng các thành phần này tự chúng cũng có thể quan
niệm như là toàn thể đối với các thành phần riêng của
chúng.
Trên
trình độ thứ ba, tất cả hiện tượng có thể hiểu như
là có căn nguyên tùy thuộc, bởi vì khi phân tích đến tột
cùng, ta nhận thấy chúng thiếu vắng danh tánh độc lập.
Điều này có thể hiểu bằng cách thử viện dẫn một hiện
tượng nào đó. Thí dụ, các từ "hành động" và "tác nhân"
giả thiết cái này có trước cái kia. Cũng như "cha mẹ" và
"con cái". Người ta là cha hay mẹ chỉ vì có con cái. Cũng
vậy, đứa con trai hay gái được gọi như thế vì có mối
liên hệ với cha mẹ. Cùng liên hệ tùy thuộc hỗ tương đó
tìm thấy trong ngôn từ dùng để mô tả nghề buôn hay nghiệp
vụ. Các cá nhân được gọi là nông dân vì công việc họ
làm trên đất đai. Bác sĩ được gọi thế vì công việc
họ làm trong ngành y khoa.
Một
cách tinh tế hơn nữa, sự vật và sự kiện có thể được
hiểu theo quan điểm căn nguyên tùy thuộc khi, chẳng hạn như
hỏi, "Một cái bình đất sét thật sự là gì?" Khi tìm một
cái gì để có thể mô tả danh tánh cuối cùng của nó, ta
thấy rằng, sự hiện hữu thật sự của cái bình — và bằng
sự liên hệ với mọi hiện tượng khác — nhìn trên một
chiều hướng nào đó, chỉ là tạm thời và ước định.
Khi hỏi phải chăng danh tánh của nó được ấn định bằng
hình thể, công dụng, các thành phần riêng biệt (đó là hỗn
hợp của đất sét, nước và vân vân), ta sẽ thấy rằng
danh từ "bình" chỉ là một chỉ định bằng ngôn từ. Không
có một đặc điểm riêng biệt nào có thể nói ra để định
danh tánh cho nó. Cũng không phải là toàn khối của các đặc
điểm đó. Chúng ta có thể tưởng tượng ra bình với nhiều
hình thức khác nhau mà cũng vẫn là bình. Và bởi vì chúng
ta chỉ có thể nói đến sự hiện hữu của nó trên tương
quan của một kết hợp phức tạp giữa nguyên nhân và điều
kiện, nhìn từ phối cảnh này, nó không có một phẩm chất
xác định. Nói cách khác, nó không hiện hữu trong và do chính
nó, mà đúng hơn nó là do căn nguyên tùy thuộc.
Trong
hiện tượng tinh thần, chúng ta lại tìm thấy sự tùy thuộc
đó. Ở đây, nó nằm giữa người tri giác và vật được
tri giác. Lấy một thí dụ, sự tri giác về một bông hoa.
Trước tiên, muốn khiến cho tri giác về bông hoa này phát
khởi, cần phải có một giác quan. Thứ nhì, cần có một
điều kiện — trong trường hợp này chính là bông hoa. Thứ
ba, để cho tri giác đó xảy ra, cần có điều gì hướng tiêu
điểm của người tri giác về sự vật. Kế đó, qua tác dụng
hỗ tương nguyên nhân của các điều kiện này, một sự kiện
tri giác đã xảy ra, mà ta gọi là tri giác về một bông hoa.
Bây giờ, chúng ta hãy thử quan sát cái gì thật sự thiết
lập nên sự kiện này.
Phải
chăng chỉ là hoạt động của cơ năng cảm giác? Phải chăng
chỉ là tác dụng hỗ tương giữa cơ năng đó và chính bông
hoa? Hoặc là thứ gì khác? Cuối cùng ta sẽ không thể hiểu
khái niệm về tri giác, ngoại trừ trong toàn bộ của một
loạt các nguyên nhân và điều kiện phức tạp khôn lường.
Nếu
lấy chính tâm thức làm đối tượng cho sự quán sát này,
mặc dù xu hướng nghĩ về nó trong khuôn khổ của một thứ
gì chân thật và bất biến, ta sẽ thấy rằng dễ hiểu rõ
hơn trong khuôn khổ của căn nguyên tùy thuộc. Sở dĩ vậy
vì bên ngoài các tri giác, nhận thức cá nhân, và kinh nghiệm
cảm xúc; rất khó đặt ra một thực thể hiện hữu độc
lập. Hơn nữa, tâm thức giống như một cấu trúc khởi dậy
từ một quang phổ (*) của các sự kiện phức tạp.
Một
cách khác để hiểu được khái niệm về căn nguyên tùy thuộc
là quán sát như một hiện tượng về thời gian. Bình thường,
chúng ta giả định rằng có một thực thể hiện hữu độc
lập được gọi là thời gian. Chúng ta nói đến thời gian
quá khứ, hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, khi quán sát kỹ
hơn, sẽ thấy rằng khái niệm đó chỉ là định ước. Chúng
ta sẽ tìm thấy từ "giây phút hiện tại" chỉ là một thứ
nhãn hiệu gán cho quãng giữa các thời "quá khứ" và "tương
lai". Chúng ta không thể điểm chỉ chính xác hiện tại. Dù
chỉ một khoảnh khắc trước cái giả định là hiện tại
cũng đã thuộc về quá khứ; chỉ là một khoảnh khắc sau
cái giả định là hiện tại cũng đã nằm trong tương lai.
Vì thế, khi chúng ta nói giây phút hiện tại chính là "bây
giờ," khi chữ vừa phát ra thì đã nằm vào quá khứ. Nếu
vẫn cố lập luận rằng dù sao đi nữa vẫn có một thời
điểm nào đó không thể phân chia vào hoặc là quá khứ hoặc
là tương lai, thì thật sự chúng ta sẽ hoàn toàn không tìm
ra cứ điểm nào để có thể tách rời được quá khứ, hiện
tại và tương lai cả. Nhưng nếu không có khái niệm về hiện
tại, rất khó nói về quá khứ và tương lai, vì cả hai đều
rõ ràng tùy thuộc vào hiện tại. Hơn nữa, nếu kết luận
từ phân tích trên cho rằng hiện tại không hiện hữu, chúng
ta cần phải phủ nhận, không những định ước thế gian,
mà ngay cả kinh nghiệm của bản thân. Thật vậy, khi bắt
đầu phân tích kinh nghiệm về thời gian, chúng ta nhận thấy
ở đây quá khứ đã mất đi và tương lai chưa đến. Chúng
ta chỉ kinh nghiệm được hiện tại.
Các
quán sát đó sẽ khiến chúng ta ra sao? Chắc chắn là mọi
việc trở nên phức tạp hơn khi chúng ta phải suy nghĩ theo
cùng các dòng chữ này. Kết luận thỏa đáng hơn là bảo
rằng, hiện tại quả có hiện hữu. Nhưng không thể tri giác
được nó một cách mật thiết hoặc khách quan. Hiện tại
hiện hữu trong sự tùy thuộc vào quá khứ và tương lai.
Điều
đó giúp ta được gì? Giá trị của các quán sát trên là
sao? Chúng có một số liên hệ quan trọng. Trước tiên, khi
chúng ta nhận ra rằng tất cả những gì mình tri giác và kinh
nghiệm chỉ khởi dậy như kết quả của một loạt vô hạn
các nguyên nhân và điều kiện tùy thuộc vào nhau, thì trọn
vẹn viễn ảnh của chúng ta đều thay đổi. Chúng ta bắt
đầu nhìn vũ trụ mình đang ngụ có thể hiểu như là một
cơ năng sống động trong đó từng tế bào làm việc trong
sự hợp tác quân bình với các tế bào khác hầu lưu tồn
toàn thể. Do đó, nếu chỉ một tế bào bị hại, như khi
bệnh hoạn, thì sự quân bình bị hại, và có nguy hiểm đến
toàn thể. Điều đó, sẽ đề khởi rằng, sự an sinh của
cá nhân ta liên hệ thân thiết đến vừa cả mọi người
khác, vừa cả môi trường trong đó chúng ta sống. Rõ rệt
là từng hành động, việc làm, lời nói và ý tưởng, cho
dù nhẹ nhàng và vô hiệu đến đâu, cũng có thể tạo ảnh
hưởng không những cho riêng mình mà còn cho mọi người khác
nữa.
Hơn
nữa, khi nhìn thực tế trong khuôn khổ của căn nguyên tùy
thuộc, sẽ giúp chúng ta thoát khỏi khuynh hướng thông thường
nhìn sự vật và sự kiện như thực thể cứng chắc, độc
lập, vô điều kiện. Điều này rất hữu ích, vì đó chính
là khuynh hướng khiến ta thường phóng đại một hoặc hai
khía cạnh nào của kinh nghiệm, và lấy đó làm tiêu biểu
cho một thực tế toàn diện cho trường hợp đặc thù nào
đó trong khi lại bỏ quên sự phức tạp rộng lớn hơn.
Một
sự hiểu biết thực tế do khái niệm về căn nguyên tùy thuộc
đề khởi còn được trình bày với một sự thách thức đáng
kể. Thách thức chúng ta bớt nhìn sự vật và sự kiện trong
khuôn khổ rõ rệt của trắng và đen; và đi vào những tầm
mức của các tương quan ràng buộc phức tạp hơn, có thể
khó nắm bắt. Và vì vậy khiến ta khó phát biểu những lời
cực đoan, định kiến. Hơn nữa, nếu tất cả mọi hiện
tượng đều tùy thuộc vào các hiện tượng khác, và không
hiện tượng nào có thể hiện hữu độc lập, ngay cả các
cái ngã yêu quý nhất của ta cũng có thể xem như không hiện
hữu theo phương cách chúng ta hằng giả thiết. Thật vậy,
chúng ta nhận ra rằng nếu nghiên cứu phân tích danh tánh của
ngã, ngoại diện cứng chắc của nó sẽ sẵn sàng tan biến
nhanh hơn cả cái bình đất sét hoặc thời gian hiện tại
vừa nói trên. Bởi vì cái bình là một vật cụ thể có thể
trỏ vào, còn cái ngã thì lẩn tránh khéo léo hơn: danh tánh
của nó như một vật được chế tạo sẽ trở thành chứng
cớ. Chúng ta sẽ thấy sự phân biệt rõ nét thông thường
ta hay làm giữa "ngã" và "tha" chỉ là điều phóng đại.
Đây
không phải là phủ nhận sự kiện mỗi cá nhân đều có tri
giác mạnh về cái "tôi" một cách tự nhiên và đúng lý. Ngay
khi chúng ta không thể giải thích tại sao, tri giác về cái
ngã này chắc chắn vẫn ở đó. Nhưng hãy quan sát kỹ những
gì cấu tạo nên đối tượng hiện ta đang gọi là cái ngã.
Có phải là tâm trí chăng? Đôi khi tâm trí của một người
nào đó trở nên quá bị động hoặc quá suy nhược. Trong
bất kỳ trường hợp nào, y sĩ có thể cho thuốc nhằm tăng
tạo sự dễ chịu cho người đó. Điều này cho thấy chúng
ta đã nghĩ về tâm trí, theo một nghĩa nào đó, như một sở
hữu của cái ngã. Và, thật vậy, khi chúng ta nghĩ kỹ hơn,
các phát biểu như "thân thể của tôi," "lời của tôi," "tâm
trí của tôi" đều hàm chứa một khái niệm về sở hữu.
Tuy nhiên, thật khó nhận ra tâm trí làm cách nào tự cấu
tạo lấy, mặc dù quả có các triết gia Phật giáo cố xác
định ngã như là tâm. Nếu ngã và tâm là một, việc vô lý
tiếp theo là, tác nhân và hành động, cả hai người đã làm
ra và việc được biết là đã làm ra, chỉ là một và như
nhau. Chúng ta sẽ phải nói tác nhân "tôi" vốn hiểu biết,
và tiến trình của sự hiểu biết chính là đồng nhất. Trên
nhãn quan đó, rất khó nhận thấy cái ngã làm sao có thể
hiện hữu như một hiện tượng độc lập ngoài tâm-thân
ngũ uẩn. Lại nữa, điều này đề ra, khái niệm về ngã
trong một ý nghĩa nào đó, chỉ là một nhãn hiệu cho một
mạng lưới phức tạp của các hiện tượng kết hợp hỗ
tương.
Đến
đây, chúng ta thử trở lại, và duyệt qua bằng cách nào ta
thường liên kết với ý tưởng về cái ngã. Chúng ta nói,
"Tôi cao; tôi thấp; tôi làm điều này; tôi làm điều nọ,"
và không ai hỏi ta gì cả. Điều đó khá rõ rệt về cái
gì ta muốn nói, và mọi người đều hài lòng nhìn nhận định
ước đó. Trên trình độ này, ta hiện hữu tương đối hòa
hợp cùng các phát biểu đó. Định ước như thế là thành
phần trong câu chuyện hàng ngày và phù hợp với kinh nghiệm
thông thường. Nhưng điều đó không phải nghĩa, có một sự
vật gì hiện hữu chỉ vì nó được trò chuyện cùng; hoặc
vả có một từ ngữ nào đó chỉ về nó. Không ai có thể
tìm thấy con độc giác mã huyền thoại.
Định
ước chỉ có hiệu lực khi chúng không đi ngược lại kiến
thức thu hoạch từ kinh nghiệm lý tính hoặc qua sự suy luận,
và chúng được dùng làm nền tảng cho sự đàm luận thông
thường trong đó ta phối trí các khái niệm như thật và giả.
Điều này không ngăn chúng ta nhìn nhận rằng, mặc dù phù
hợp hoàn toàn như là một định ước, cái ngã, cũng như
tất cả hiện tượng khác, chỉ hiện hữu tùy thuộc vào
các nhãn hiệu và khái niệm do ta áp đặt lên. Quan sát hạn
định đó vào giây phút khi, trong bóng tối, ta nhầm lẫn cuộn
dây thừng và con rắn. Chúng ta đứng yên và cảm thấy sợ
hãi. Mặc dù vật được thấy trên thực tế chỉ là một
mẩu dây thừng đã bị bỏ quên, nhưng vì thiếu ánh sáng
và do quan niệm sai lầm, ta cứ tưởng nó là con rắn. Thật
ra, cuộn dây thừng không hề sở hữu một tánh cách nào của
con rắn hơn là cách nó hiện ra đối với chúng ta.
Con
rắn tự nó không hề ở nơi đó. Chúng ta đã đưa sự hiện
hữu của nó vào một vật vô tri. Cũng thế, đó là phương
cách của khái niệm về cái ngã hiện hữu một cách độc
lập.
Chúng
ta còn tìm thấy khái niệm thật sự về ngã vốn rất tương
đối.
Thử
quán sát sự kiện chúng ta thường đặt mình vào trong các
trường hợp tự trách. Ta bảo, "Ồ, vào ngày đó ngày kia,
tôi quả thật buông xuôi!" và nói lên sự tức giận đối
với chính mình. Điều này đề xướng như thật sự có hai
cái ngã rõ rệt, một cái đã làm sai, và cái kia chỉ trích.
Cái đầu là một cái ngã được hiểu trong tương quan với
một kinh nghiệm hoặc sự kiện đặc thù nào đó. Và cái
sau được hiểu từ một phối cảnh về ngã xem như toàn diện.
Tuy vậy, dù cuộc đối thoại nội tâm đó có nghĩa, cũng
chỉ là một sự liên tục của tâm thức ở một thời điểm
nào đó. Tương tự, chúng ta có thể thấy danh tánh riêng tư
của một cá nhân nào đó có rất nhiều khía cạnh khác nhau.
Trong trường hợp của tôi, chẳng hạn, có một tri giác về
một cái ngã như tăng sĩ, về một cái ngã như người Tây
tạng, về một cái ngã đến từ vùng Amdo của Tây tạng,
và cứ thế.
Vài
cái ngã trổi vượt hơn các cái khác. Thí dụ, "ngã" Tây tạng
hiện hữu trước "ngã" tăng sĩ. Tôi chỉ trở thành tu sinh
vào năm lên bảy. "Ngã" của người tỵ nạn chỉ hiện hữu
vào năm 1959. Nói cách khác, trên một căn bản đơn thuần,
có rất nhiều chỉ định. Tất cả đều là Tây tạng, bởi
vì cái "ngã" đó — hoặc danh tánh — hiện hữu từ khi tôi
mới ra đời. Nhưng tất cả đều được mệnh danh khác nhau.
Đối với tôi, đó là một lý do khác để nghi ngờ về sự
hiện hữu cố hữu của ngã. Do đó, chúng ta không thể bảo
có một đặc tố nào đó cuối cùng sẽ cấu thành cái ngã,
hoặc là, mặt khác, một tổng hợp của tất cả. Bởi vì
ngay dù tôi loại trừ một hoặc vài thứ, thì ý nghĩa về
"tôi" vẫn cứ tiếp diễn.
Không
có một thứ duy nhất nào có thể tìm thấy dưới sự phân
tích hầu định danh cho được cái ngã. Như khi chúng ta cố
gắng tìm danh tánh tối hậu của một vật cứng chắc, nó
lại lẩn trốn mất. Thật vậy, chúng ta bắt buộc phải kết
luận rằng, vật quý báu mà ta lưu tâm chăm sóc đến thế,
mà ta phải bỏ công sức hầu bảo vệ và làm cho nó thoải
mái, đến tận cùng, nó cũng chẳng hiện thật hơn là một
chiếc cầu vồng giữa bầu trời mùa hạ.
Nếu
quả không có sự vật hoặc hiện tượng nào, hay chính cái
ngã, thật sự hiện hữu, thế chúng ta có nên kết luận rằng,
tận cùng, không có gì hiện hữu cả? Hoặc thực tế do ta
tri giác chỉ là sự phản chiếu của tâm trí, ngoài ra không
có gì hiện hữu? Không. Khi bảo sự vật và sự kiện chỉ
có thể thiết lập trong khuôn khổ của bản chất căn nguyên
tùy thuộc, và chúng không có bản chất, hiện hữu hoặc danh
tánh đích thật, đó không phải là đồng loạt phủ nhận
hiện hữu của các hiện tượng. Sự "vô danh tánh" của hiện
tượng lại chỉ định được phương cách theo đó sự vật
hiện hữu: không độc lập mà trong ý nghĩa tùy thuộc lẫn
nhau. Tôi không phải muốn đào xới khái niệm về thực tế
hiện tượng, chỉ tin rằng khái niệm căn nguyên tùy thuộc
sẽ cung ứng một cái khung vững chắc, bên trong là nhân và
quả, giả và thật, khác và giống, lợi và hại. Do đó, thật
sai lầm nếu suy diễn từ ý tưởng đó ra một thứ khuynh
hướng hư vô chủ thuyết về thực tế nào đó. Một sự
hư không đơn thuần, không có ý nghĩa gì về một đối thể
này nọ, hoàn toàn không phải là điều tôi muốn nói. Nếu
thiếu vắng danh tánh thực tế như là đối tượng để vấn
và tìm bản chất chân thật của nó, điều chúng ta tìm thấy
chỉ là hư vô danh tánh của hư vô danh tánh và vân vân, cho
đến vô định — từ đó có thể kết luận rằng ngay cả
sự thiếu vắng một hiện hữu thực tế cũng chỉ hiện ra
một cách định ước. Vì thế trong khi nhìn nhận thường
có sự tương phản giữa tri giác và thực tế, điều hệ
trọng là không nên đi đến cực đoan bằng cách giả thiết
đằng sau hiện tượng là một cõi nào đó còn "thật" hơn
nữa. Vấn đề là từ điểm đó, chúng ta có thể phủ nhận
cả kinh nghiệm thường nhật, xem như không là gì cả ngoài
một ảo ảnh. Điều đó vốn sai lầm.
Một
trong các sự phát triển đầy hứa hẹn của khoa học tân
tiến là sự xuất hiện của thuyết nhảy vọt quantum và thuyết
xác xuất probability. Ít ra trên một tầm mức nào đó, điều
này có vẻ hỗ trợ cho khái niệm về căn nguyên tùy thuộc
của hiện tượng. Mặc dù tôi không thể nhận mình hiểu
rõ lý thuyết đó, sự quan sát cho rằng, ở trình độ siêu
nguyên tử rất khó mà phân biệt rõ ràng giữa người quan
sát một đối tượng và chính đối tượng đó, dường như
cho thấy một bước tiến đến phía quan niệm về thực tế
mà tôi vừa phác họa. Dù thế, tôi không muốn nhấn mạnh
ở điểm này. Điều mà khoa học ngày nay cho là đúng có thể
sẽ thay đổi nữa. Các khám phá mới hàm ý, điều gì ngày
nay được chấp nhận có thể ngày mai bị nghi ngờ. Hơn nữa,
cho dù đặt phán đoán là sự vật và sự kiện không hiện
hữu độc lập trên bất kỳ nền tảng nào, kết quả cũng
đồng nhất.
Hiểu
về thực tế như vậy cho phép ta thấy rõ rằng, sự khác
biệt rõ rệt giữa ngã và tha khởi dậy phần lớn như kết
quả của sự điều kiện hóa. Như thế, có thể tưởng tượng
một khi đã quen thuộc cùng quan niệm nới rộng của cái ngã,
cá nhân sẽ đặt lợi ích của mình vào trong sự lợi ích
của người khác. Thí dụ, khi một cá nhân nghĩ về quê nhà
của mình, và bảo, "Chúng tôi là người Tây tạng" hoặc "Chúng
tôi là người Pháp," họ hiểu danh tánh của mình trong một
điều gì vượt trên cái ngã cá nhân.
Nếu
cái ngã có một danh tánh thật sự, thì có thể nói trên diện
lợi ích của ngã cô lập cùng của tha nhân. Nhưng vì nó không
phải vậy, vì ngã và tha chỉ có thể hiểu trên diện liên
hệ với nhau, cho nên ta nhìn thấy lợi ích của ngã và lợi
ích của tha liên hệ nhau rất chặt chẽ. Thật vậy, trong
ảnh tượng của thực tế với căn nguyên tùy thuộc, ta thấy
không có ngã lợi nào hoàn toàn không liên hệ cùng tha lợi.
Vì mối liên hệ hỗ tương nền tảng đó vốn nằm ở trung
tâm của thực tế, nên tha lợi cũng là ngã lợi. Từ điểm
đó, rất rõ rệt là lợi ích "của tôi" và "của người"
liên hệ mật thiết với nhau. Nói theo một nghĩa sâu xa, chúng
cùng quy tụ về một điểm.
Chấp
nhận một sự hiểu biết phức tạp hơn về thực tế trong
đó mọi sự vật và sự kiện đều liên hệ chặt chẽ không
có nghĩa ta không thể suy luận rằng, các nguyên tắc luân
lý đã được nhận định bên trên không thể hiểu như có
nối kết cùng quan điểm này, và sẽ do vậy, khó nói về
tuyệt đối, ít ra bên ngoài khuôn khổ tôn giáo.
Trái
lại, khái niệm căn nguyên tùy thuộc bắt buộc chúng ta phải
thật sự nghiêm túc khi quán xét thực tế về nhân quả. Nói
thế tôi ngụ ý về sự kiện có một số nhân nào đó dẫn
đến một số quả nào đó, và một số hành tạo khổ đau,
trong khi một số khác tạo hạnh phúc.
Tất
cả mọi người đều thích làm điều tạo hạnh phúc và tránh
làm điều tạo đau khổ. Nhưng bởi vì, như chúng ta đã thấy,
lợi ích của chúng ta nối kết nhau chặt chẽ, cho nên bắt
buộc phải chấp nhận luân lý như là giao điểm cần thiết
giữa ý muốn hạnh phúc của ta và của người.
________________
(*)
Quang phổ: Spectrum là từ vật lý học, là dãy sáng nhiều
màu thu được khi phân tích chùm ánh sáng phức tạp bằng
lăng kính... Trong triết học, có nghĩa là một loạt tư tưởng
đa dạng nhưng liên kết với nhau tạo thành một loạt hoặc
một bộ. Là từ mới dùng trong Phật học, nói lên được
sự vô cùng đa dạng và kết tập của tư tưởng Phật giáo
— chú thích của người dịch.