Chương
2
KHÔNG
PHÉP LẠ, KHÔNG BÍ MẬT
Khi
kêu gọi một cuộc cách mạng tâm linh, phải chăng cuối cùng
tôi lại biện minh một giải pháp tôn giáo cho các vấn đề
của chúng ta? Không. Như một người gần bảy mươi tuổi
đang viết những dòng này, tôi đã tích lũy được khá đủ
kinh nghiệm để hoàn toàn tin tưởng rằng các điều giảng
dạy của đức Phật vừa cao thượng vừa hữu ích cho nhân
loại. Nếu một người đem ra thật hành, chắc chắn không
phải chỉ có người đó, mà các người khác, đều hưởng
lợi lạc.
Tuy
nhiên, sự gặp gỡ của tôi cùng đủ hạng người khác nhau
trên thế giới, đã giúp tôi ý thức được rằng, có các
tín ngưỡng khác, các nền văn hóa khác, không kém khả năng
hơn của tôi trong việc giúp các cá nhân đi vào một đời
sống xây dựng và mãn nguyện hơn.
Hơn
nữa, tôi còn đi đến kết luận rằng, một người có đức
tin tôn giáo hay không cũng không quan trọng cho lắm. Điều
quan trọng hơn nữa chính là họ phải là người thiện lành.
Tôi
nói lên điều đó trong sự kiện là, mặc dù đa số trong
sáu tỷ con người trên quả đất này có thể tuyên bố trung
thành cùng một truyền thống tín ngưỡng này hoặc khác, ảnh
hưởng của tôn giáo trên đời sống con người nói chung chỉ
là biên tế, đặc biệt trong thế giới tân tiến. Thật đáng
ngờ rằng trên thế giới ngày nay có thể có khoảng một
tỷ người thật hành tinh tấn, tức là, những người hàng
ngày đều trung thành làm đúng với các nguyên tắc và giáo
lý tín ngưỡng của họ. Số còn lại, trong ý nghĩa đó, là
những người không thật hành. Những người tinh tấn thật
hành đồng thời cũng có thể theo vô số các con đường tôn
giáo khác nhau. Từ điểm đó, sự đa dạng trở nên sáng tỏ,
không có một tôn giáo nào thỏa mãn được toàn thể nhân
loại. Chúng ta cũng có thể kết luận rằng, loài người có
thể sống khá tốt đẹp mà không cần kêu cầu đến tín
ngưỡng.
Điều
đó có vẻ như một xác nhận bất thường, khi đến từ một
nhân vật tôn giáo. Tuy nhiên, tôi là một người Tây tạng
trước khi là một Đạt lai Lạt ma, và tôi là một con người
trước khi là một người Tây tạng. Vì vậy, trong khi là một
Đạt lai Lạt ma, tôi vẫn có các trách nhiệm đặc biệt đối
với người Tây tạng; và như là một tăng sĩ, tôi có trách
nhiệm đặc biệt đối với sự hòa hợp liên tôn xa hơn nữa;
và như là một con người, tôi có trách nhiệm lớn lao hơn
nữa đối với toàn thể gia đình nhân loại — mà thật sự
chúng ta đều có. Và bởi vì đa số không thật hành tôn giáo,
cho nên tôi quan tâm đến việc cố gắng tìm ra một con đường
phục vụ toàn nhân loại mà không cần kêu cầu đến tín
ngưỡng.
Giờ
đây, tôi tin nếu chúng ta quán xét các tôn giáo chính trên
thế giới trên phối cảnh rộng lớn nhất, chúng ta sẽ tìm
thấy tất cả — Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Ấn độ giáo,
Hồi giáo, Do thái giáo, đạo Sikh, đạo Zoroastrian, và các
tôn giáo khác — đều hướng về việc giúp đỡ loài người
đạt đến các hạnh phúc trường tồn. Và mỗi một tôn giáo,
theo ý tôi, đều có khả năng thực hiện điều đó. Dưới
các trường hợp đó, một tập hợp tôn giáo đa dạng (mỗi
đạo rốt ráo cũng chỉ đề cao cùng một số giá trị nền
tảng chung) là điều vừa đáng mong cầu vừa hữu ích.
Không
phải lúc nào tôi cũng cảm thấy thế. Khi tôi còn trẻ và
sống tại Tây tạng, tôi tin ở tận đáy lòng rằng, Phật
giáo là con đường tốt nhất. Tôi tự nhủ, thật tuyệt vời
nếu tất cả mọi người đều theo đạo. Nhưng đó chỉ là
một sự vô minh. Người Tây tạng chúng tôi, dĩ nhiên, cũng
từng nghe nói đến các tôn giáo khác. Nhưng chúng tôi chỉ
biết rất ít qua các bản dịch lần nhì bằng tiếng Tây tạng,
trong tài liệu Phật giáo. Dĩ nhiên, các bản này nhắm vào
các khía cạnh của các tôn giáo khác, được mở ra cho các
lý luận dưới nhãn quan của Phật giáo. Đó không phải vì
các tác giả Phật học cố ý mạn họa đối phương. Trái
lại, điều đó chỉ phản ánh sự kiện, họ không thấy cần
phải nói lên tất cả các khía cạnh mà họ không có gì để
luận bàn, bởi vì các tác phẩm này được viết ở Ấn độ,
nơi có đầy đủ các loại sách vở cần tham khảo đó. Không
may, đó lại không phải trường hợp của Tây tạng, vốn
không có các bản dịch kinh sách nói trên.
Khi
lớn lên, dần dà tôi có thể học biết nhiều hơn đến các
tôn giáo trên thế giới. Đặc biệt là khi lưu vong, tôi bắt
đầu được gặp gỡ nhiều người đã tận hiến đời họ
sống trong các tín ngưỡng khác — một số qua cầu nguyện
và thiền định, số khác qua các hành động phục vụ người
khác — họ đã đạt đến một kinh nghiện sâu xa theo truyền
thống riêng tư. Những trao đổi cá nhân đó giúp tôi nhận
thức được giá trị to tát của mỗi một truyền thống tín
ngưỡng, và đưa tôi đến việc tôn trọng họ rất sâu xa.
Đối với tôi, Phật giáo vẫn là con đường quý báu nhất.
Phật giáo phù hợp nhất với cá tánh của tôi. Nhưng điều
đó không có nghĩa tôi tin là Phật giáo sẽ trở thành tôn
giáo tốt nhất cho tất cả mọi người; không khác hơn việc
tôi tin là không nhất thiết tất cả mọi người đều phải
có đức tin tôn giáo.
Dĩ
nhiên, vừa là một người Tây tạng và một tăng sĩ, tôi
đã được dưỡng nuôi sao cho phù hợp, được giáo dục trong
các nguyên tắc và giáo lý, và thật hành Phật giáo. Do đó,
tôi không thể phủ nhận rằng, trọn vẹn tư tưởng của
tôi thành hình từ sự hiểu biết của tôi về điều mang
ý nghĩa như một tín đồ của đức Phật. Tuy nhiên, mối
quan tâm của tôi trong quyển sách này vượt khỏi các giới
hạn chính thức của tín ngưỡng. Tôi muốn trình bày rằng,
quả thật có những nguyên tắc luân lý phổ quát toàn cầu
có thể giúp cho tất cả mọi người đạt đến hạnh phúc
mà tất cả chúng ta đều mong mỏi. Vài người có thể cảm
thấy như tôi đang kín đáo quảng bá Phật giáo. Cho dù đối
với tôi thật khó mà phủ bác một cách quyết đoán, nhưng
đây vốn không phải là trường hợp đó.
Thật
ra, tôi tin rằng có một sự phân biệt rõ rệt giữa tôn giáo
và tâm linh. Tôn giáo theo tôi có liên hệ đến đức tin vào
lời tuyên xướng về sự cứu rỗi của một truyền thống
tín ngưỡng này hoặc khác, một diện khác là chấp nhận
một hình thái thực tế tâm linh hoặc siêu nhiên nào đó,
có thể kể cả ý tưởng về thiên đàng hoặc Niết-bàn.
Nối liền vào đó là các giáo lý hoặc chủ thuyết, nghi thức,
cầu nguyện, và vân vân. Tâm linh theo tôi có liên hệ đến
các đức tánh của tinh thần con người — như tình thương
và tâm từ bi, nhẫn nại, bao dung, tha thứ, tri túc, cảm thức
trách nhiệm, cảm thức hòa hợp — sẽ mang đến hạnh phúc
cho cả ta và người. Trong khi nghi thức và cầu nguyện, cùng
với các câu hỏi như Niết-bàn và cứu rỗi, có liên hệ
trực tiếp đến đức tin tôn giáo, những phẩm tánh nội
tại trên lại không cần thế. Tuy vậy, cá nhân cũng chẳng
có lý do gì lại không phát huy các phẩm tánh đó, kể cả
ở trình độ cao, mà không cần phải tìm đến một hệ thống
đức tin tôn giáo hoặc siêu hình nào. Chính vì vậy, đôi
khi tôi nói rằng tôn giáo là điều chúng ta vẫn có thể sinh
hoạt mà không cần đến.
Điều
chúng ta không thể sinh hoạt lại thiếu vắng, chính là các
phẩm tánh tâm linh cơ bản.
Dĩ
nhiên những người thật hành tôn giáo hữu lý khi cho rằng
các phẩm chất hoặc đức hạnh trên vốn là kết quả của
một sự tận hiến thuần thành tôn giáo; do vậy, tôn giáo
có toàn bộ những gì phải làm để phát huy chúng, và điều
đó có thể gọi là thật hành tâm linh. Chúng ta cần soi sáng
điểm này. Đức tin tôn giáo đòi hỏi phải thật hành tâm
linh. Tuy nhiên có nhiều sự lẫn lộn, thường thấy nơi cả
tín đồ tôn giáo lẫn người không tin, liên hệ đến điều
thật sự hàm chứa. Đặc điểm chung của các phẩm tánh tôi
vừa mô tả như "tâm linh" có thể nói là một trình độ quan
tâm nào đó đến tha lợi. Tại Tây tạng, chúng tôi thường
nói đến shen pen kyi có nghĩa "ý niệm giúp đỡ tha nhân."
Và khi nghĩ đến điều đó, chúng tôi nhận thấy rằng mỗi
phẩm tánh nêu ra đều được minh định bằng một sự quan
tâm hiển nhiên đến an sinh của người khác.
Hơn
nữa, người có tình thương, từ bi, nhẫn nhục, bao dung, tha
thứ, vân vân, nhận ra được ở một tầm mức nào đó khả
năng ảnh hưởng của hành động mình đối với người khác,
và tùy nghi điều động hành vi của họ. Như thế, thật hành
tâm linh theo mô tả này, một mặt liên quan đến việc hành
động cho tha lợi. Mặt khác, lại kéo theo sự chuyển hóa
chúng ta trở nên thích nghi hơn để hành thiện. Nói đến
thật hành tâm linh trong khuôn khổ nào khác hơn chỉ là vô
nghĩa.
Lời
kêu gọi một cuộc cách mạng tâm linh của tôi do đó không
phải là kêu gọi một cuộc cách mạng tôn giáo. Cũng không
phải là sự viện dẫn một lối sống vượt ngoài đời người,
gần như một thứ phép lạ hoặc bí mật nào đó. Khác hơn,
đó chỉ là lời kêu gọi một sự tái định hướng căn bản,
tránh các sự bận rộn theo thói quen cùng chính bản thân.
Đó là lời kêu gọi hướng về phía một cộng đồng rộng
lớn hơn gồm những người liên hệ với chúng ta, và có thái
độ nhận thức về tha lợi song hành cùng ngã lợi.
Ở
đây, độc giả có thể phản đối rằng trong khi sự cải
chuyển cá tánh theo tái định hướng đề ra, cũng như sự
kiện con người triển khai tâm từ bi và tình thương, đều
rất đáng mong muốn; nhưng một cách mạng tinh thần không
thích hợp để giải quyết sự đa dạng và cao độ của các
vấn đề chúng ta phải đối diện trong xã hội tân tiến.
Hơn nữa, có thể lập luận rằng, các vấn đề đến từ,
lấy thí dụ, bạo hành trong gia đình, nghiện ngập thuốc
và rượu, gia đình đổ vỡ, vân vân, sẽ dễ hiểu và dễ
giải quyết hơn nếu theo từng trường hợp. Tuy nhiên, vì
mỗi trường hợp đều có thể giải quyết nhờ người ta
có tình thương và từ bi nhiều hơn với nhau — dù thật bấp
bênh — cho nên vẫn có thể xếp vào loại vấn đề tâm linh
có thể áp dụng giải pháp tâm linh. Như thế không phải nói
rằng, tất cả việc chúng ta cần làm chỉ là đào luyện
các giá trị tâm linh rồi tự động các vấn đề kia sẽ
biến mất. Trái lại, từng mỗi một vấn đề đều cần
đến một giải pháp riêng biệt. Nhưng chúng ta nhận thấy
khi chiều hướng tâm linh bị bỏ quên, sẽ không hy vọng gì
đạt được một giải pháp lâu dài.
Tại
sao thế? Tin xấu là một sự thật của cuộc đời. Mỗi lần
nhặt một tờ báo, hoặc vặn đài truyền hình hay truyền
thanh, chúng ta đều đối diện cùng các tin buồn. Không có
ngày nào qua đi, mà trên bất cứ nơi nào của thế giới,
lại không có điều gì xảy ra mà tất cả mọi người đều
cho là bất hạnh. Dù chúng ta từ đâu đến, và triết lý
sống như thế nào, triển khai rộng hẹp đến độ nào, chúng
ta tất cả đều cảm thấy tiếc khi nghe người khác đau khổ.
Các
hiện tượng đó có thể chia ra làm hai loại chính, loại có
nguyên do thiên nhiên — động đất, hạn hán, lụt lội, và
tương tự — và loại có bắt nguồn từ con người. Chiến
tranh, tội ác, bạo hành đủ thứ, tham nhũng, nghèo đói, thất
vọng, lừa đảo, và bất công xã hội, chính trị, kinh tế
đều là hậu quả của hành vi tiêu cực. Người nào chịu
trách nhiệm cho hành vi đó? Chính chúng ta. Từ hoàng gia, tổng
thống, thủ tướng, và chính trị gia cho đến quản trị gia,
khoa học gia, bác sĩ, luật sư, học giả, sinh viên, tu sĩ,
ni và tăng, như chính tôi, cho đến kỹ nghệ gia, nghệ sĩ,
thương gia, chuyên viên, thợ thuyền, nông dân, và những người
thất nghiệp, không có một giai cấp nào hoặc lãnh vực nào
trong xã hội thiếu phần trong các tin xấu hàng ngày.
Điều
may mắn, không như trường hợp thiên tai là loại chúng ta
ít làm được gì, các khó khăn của loài người, bởi vì
hầu hết trên căn bản đều là vấn đề luân lý, cho nên
có thể vượt qua. Sự kiện có quá nhiều người đến từ
mọi lãnh vực và tầng giới xã hội cùng góp phần xây dựng,
phản ánh một tiên kiến này: Có những người tham gia vào
chính đảng để tranh đấu cho một hiến pháp công bình hơn;
có người trở thành luật sư để tranh đấu cho luật pháp;
có người gia nhập các tổ chức tiếp trợ để chống đói
khổ; có người quan tâm đến các nạn nhân bị thương hại,
trên cả nghiệp vụ lẫn việc thiện nguyện. Thật thế, tất
cả chúng ta, theo sự hiểu biết riêng và trên các con đường
riêng, đều cố gắng làm cho thế giới — hay một mảnh nhỏ
nào của nó — trở thành một nơi tốt đẹp hơn để sống.
Không
may, chúng ta phải nhìn nhận dù hệ thống luật pháp khéo
biện luận và quản trị đến đâu, và dù các phương pháp
kiểm soát bên ngoài tiến bộ đến mức nào, cũng không thể
nào quét sạch hành vi sai quấy. Cứ quan sát các lực lượng
cảnh sát ngày nay có các kỹ thuật tân tiến không thể nào
tưởng tượng nổi vào năm mươi năm trước. Họ có biện
pháp kiểm soát giúp họ nhìn thấy những gì dấu kín; họ
có kiểm tra DNA, phòng thí nghiệm pháp y, chó kiểm soát, chuyên
viên huấn luyện đặc biệt. Thế mà các phương pháp phạm
tội cũng tiến bộ theo cùng khiến không sao ngưng cắt hết.
Khi sự kiểm ngăn của luân lý còn thiếu sót, không thể có
hy vọng vượt qua các vấn đề như tình trạng tội ác gia
tăng. Thật vậy, thiếu thứ kỷ luật bên trong đó, chúng
ta chỉ thấy rằng, ngay chính việc tìm đủ mọi cách để
giải quyết vấn đề lại hóa thành một nguồn khó khăn khác.
Sự tinh xảo gia tăng của các phương thức phạm tội và kiểm
soát đều có các khiếm khuyết và chế tác lên nhau thành
một thứ vòng luẩn quẩn.
Tương
quan giữa thật hành tâm linh và luân lý như thế nào? Bởi
vì tình thương và tâm từ bi cùng các đức tánh tương tự,
theo định nghĩa, giả định một trình độ quan tâm đến
tha lợi, cho nên cũng giả định một sự giới chế luân lý.
Chúng ta không thể từ bi và bác ái trừ phi đồng thời ta
phải tự hạn chế bớt các động cơ và tham vọng tác hại
của mình.
Về
nền tảng của thật hành luân lý, ít ra có thể tạm xem như
ở đây tôi bênh vực cho khuynh hướng có tính cách tôn giáo.
Thật vậy, mỗi một truyền thống tôn giáo chính đều có
một hệ thống luân lý triển khai đầy đủ. Tuy nhiên, khó
khăn trong sự ràng buộc hiểu biết điều phải quấy của
ta vào tôn giáo là vấn đề rồi ta lại phải đặt câu hỏi,
"Tôn giáo nào?" Tôn giáo nào thuyết giải được một hệ
thống đầy đủ nhất, dễ đạt đến nhất, và dễ chấp
nhận nhất? Các biện luận sẽ không bao giờ dứt. Hơn nữa,
làm thế chính là lãng quên sự kiện nhiều người đã phủ
nhận tôn giáo vì không cảm thấy lòng xác tín chân thành,
chứ không phải vì thiếu quan tâm đến các vấn đề sâu
xa hơn của đời người. Chúng ta không thể giả thiết những
người đó không có được cảm thức về phải quấy hoặc
không thích hợp cùng đạo đức; dựa trên sự kiện một
số người chống tôn giáo vốn vô đạo đức. Ngoài ra, đức
tin tôn giáo không bảo đảm được đạo đức liêm khiết.
Qua lịch sử nhân loại, chúng ta có thể thấy trong số các
kẻ tai ác nhất — kẻ gây bạo lực, khủng bố, và hủy
diệt đồng loại — có những kẻ hành nghề tôn giáo, thường
rất ồn ào. Tôn giáo có thể giúp chúng ta thiết lập các
nguyên tắc luân lý căn bản. Tuy nhiên chúng ta vẫn có thể
nói đến luân lý và đạo đức mà không cần phải kêu cầu
tôn giáo.
Lại
nữa, có thể phản bác là nếu không chấp nhận tôn giáo
như một nguồn luân lý, chúng ta phải cho phép người ta hiểu
về các điều tốt phải hoặc xấu quấy, điều thích hợp
với đạo đức hoặc không, điều tạo thành một hành động
tích cực hoặc tiêu cực... thay đổi tùy theo các hoàn cảnh
và ngay cả giữa người với người. Nhưng ở đây, tôi xin
giải thích, không ai nên giả định rằng có thể lập ra một
loạt các luật lệ nhằm cung ứng cho chúng ta các câu trả
lời cho từng trường hợp luân lý nan giải, ngay dù có chấp
nhận tôn giáo làm nền tảng đạo đức. Một khuynh hướng
công thức như thế khó hy vọng nắm bắt được sự phong
phú và đa dạng của kinh nghiệm người đời. Nó còn làm
nền móng cho các thứ biện thuyết về trách nhiệm đối với
văn bản của luật pháp, hơn là trên chính hành động của
ta.
Điều
đó không có nghĩa thật là vô ích khi nỗ lực phân giải
các nguyên tắc có thể hiểu như đường nét chính của đạo
đức. Ngược lại, nếu chúng ta có chút hy vọng nào để
giải quyết vấn đề, điều thiết yếu là phải tìm phương
cách giải quyết. Chúng ta phải có một phương tiện nào đó
để phán đoán giữa, lấy thí dụ, sự khủng bố như một
cách cải tạo chính trị và nguyên tắc đối kháng hòa bình
của Mahatma Gandhi. Chúng ta có thể trình bày rằng bạo hành
đối với kẻ khác là sai quấy. Tuy nhiên, chúng ta phải tìm
cách nào để một mặt tránh được sự quá khích của nền
độc tài thô bạo, và mặt kia là các thuyết tương đối
tầm thường.
Theo
nhãn quan của tôi — vốn không chỉ đặt trên niềm tin tôn
giáo, hoặc ngay cả trên một ý tưởng độc đáo nào, mà
chỉ trên lẽ thường đơn giản — sự kiến lập các đường
nét chính của nguyên tắc luân lý là việc khả thi, khi chúng
ta khởi đầu bằng sự quán sát rằng tất cả mọi người
đều muốn hạnh phúc và tránh đau khổ. Chúng ta không có
phương tiện để phân biệt giữa phải và quấy, nếu không
lưu ý đến cảm xúc và đau khổ của người khác. Vì lý
do đó, và cũng vì — như ta sẽ thấy — khái niệm về chân
lý tối thượng rất khó chấp nhận ngoài khuôn khổ tôn giáo,
hành vi luân lý không phải là điều chúng ta dấn bước vào
vì tự nó sẵn có bản chất đúng. Hơn nữa, nếu muốn hạnh
phúc và tránh đau khổ là thái độ tự nhiên của mọi người,
điều tiếp theo là mỗi một cá nhân đều có thể theo đuổi
mục tiêu đó. Để tương ứng tôi đề nghị rằng, một trong
các điều có thể xác định một hành động có phù hợp
luân lý hay không, chính là ảnh hưởng của nó đến kinh nghiệm
hoặc kỳ vọng hạnh phúc của kẻ khác. Một hành động tác
hại hoặc bạo hành đối với điều đó, là một hành động
khả dĩ vô luân lý.
Tôi
nói khả dĩ vì mặc dù hậu quả của hành động quan trọng,
nhưng còn có những yếu tố khác để cứu xét, kể cả vấn
đề ý định và bản chất của hành động. Chúng ta có thể
nghĩ đến những việc mà ta đã phá rối đến người khác,
mặc dù không có ý định làm vậy. Tương tự, cũng không
khó nghĩ đến các hành động, mặc dù có vẻ cưỡng bách
và bạo hành và có thể gây đau đớn, nhưng lại đóng góp
vào hạnh phúc dài lâu cho người khác. Bắt trẻ em đi vào
kỷ luật nằm trong loại này. Mặt khác, sự kiện hành động
tuy có vẻ dịu êm, không có nghĩa là tích cực hoặc luân
lý, nếu ý định của chúng ta là ích kỷ. Trái lại, lấy
thí dụ, ý định của chúng ta là lừa đảo, rồi giả vờ
như tử tế, đó là việc làm quả thật không hay. Tuy nhiên
bạo lực không thể dính vào, vì đó là một hành động hung
bạo. Bạo hành chẳng những cuối cùng sẽ gây hại cho kẻ
khác, mà còn làm thương tổn niềm tin và hy vọng vào sự
thật của kẻ khác.
Lại
nữa, cũng không khó tưởng tượng một trường hợp trong
đó cá nhân có thể giả thiết hành động của mình có ý
định tốt và hướng đến điều lợi cho kẻ khác, nhưng
trên thực tế lại hoàn toàn vô đạo đức. Ở đây, chúng
ta có thể nghĩ đến một người lính nhận lệnh phải xử
tử tù thường dân. Tin rằng mình theo chánh nghĩa, người
lính đó có thể giả định rằng hành động đó hướng về
phía tốt đẹp hơn cho nhân loại. Tuy vậy, trên nguyên tắc
bất bạo động mà tôi vừa đề ra, việc giết người trên
định nghĩa là một hành động vô luân. Nhận thi hành những
mệnh lệnh như thế là một hành vi tiêu cực nghiêm trọng.
Nói cách khác, nội dung của hành động cũng rất quan trọng
để có thể xác định có hợp luân lý hay không, bởi vì
có vài hành động trên định nghĩa vốn đã là tiêu cực.
Yếu
tố quan trọng nhất trong việc xác định bản chất luân lý
của hành động lại có thể không phải ở nội dung hay hậu
quả. Thật vậy, vì có rất ít kết quả của hành động
chỉ liên hệ trực tiếp đến mỗi riêng ta — cho dù người
lái tàu cố gắng đưa chiếc tàu an toàn vượt qua cơn bão
cũng không tùy thuộc vào mỗi có hành động của người đó
— kết quả có thể là yếu tố kém quan trọng nhất. Ở
Tây tạng, từ ngữ được xem như có giá trị nhất trong việc
xác định giá trị luân lý của một hành động là kun long
của cá nhân. Dịch từng chữ, từ kun có nghĩa là "hết lòng"
hoặc "tận đáy lòng," và long (wa) nói lên hành động khiến
cho một điều gì trổi dậy, đứng lên, hoặc thức tỉnh.
Nhưng ý nghĩa được dùng ở đây, kun long được hiểu như
một ý nghĩa hay động cơ làm phát khởi hành động — cả
cố ý hoặc vô tình. Nó nói lên được trạng thái tổng quát
tâm và trí của cá nhân. Khi điều gì thiện lành, hành động
theo sau sẽ thiện lành (trên mặt luân lý).
Từ
sự mô tả đó, có thể thấy khó dịch chữ kun long thật
hàm súc. Thông thường, nó có thể được dịch như "động
cơ", nhưng từ này không nắm được ý nghĩa sâu rộng hàm
chứa. Chữ "khuynh hướng" tuy gần hơn, nhưng lại thiếu ý
nghĩa tích cực của Tây tạng. Mặt khác, nếu dùng câu "trạng
thái toàn diện tâm và trí" thì quá dài vô ích. Có thể thu
gọn lại bằng chữ "trạng thái trí", nhưng nó lại mất đi
ý nghĩa rất rộng của "trí" dùng ở Tây tạng. Chữ "trí"
lo , bao gồm ý tưởng về ý thức, hoặc tri thức, cùng với
cả cảm giác và cảm xúc. Điều này phản ánh một sự hiểu
biết rằng cảm xúc và tư tưởng tận cùng không thể tách
rời. Ngay cả tri giác về một tánh chất, như màu sắc, cũng
hàm chứa một chiều hướng xúc cảm nào đó. Tương tự,
không có một ý tưởng về cảm xúc thuần túy nào không kèm
theo một hiện tượng nhận thức. Sự suy luận được dùng
để phân biệt các loại cảm giác khác nhau. Những thứ đó
khởi đầu chỉ là bản năng, chẳng hạn như nhăn mặt khi
nhìn thấy máu, và có những thứ phải cần đến các yếu
tố duy lý triển khai hơn, như sợ nghèo chẳng hạn. Xin độc
giả nhớ điểm này, mỗi khi tôi nói đến "trí", đến "động
cơ", đến "khuynh hướng", hoặc đến "trạng thái trí."
Thế
đó, trạng thái toàn bộ tâm và trí của cá nhân, hoặc động
cơ, vào thời điểm của hành động, chính là chìa khóa để
xác định nội dung luân lý của nó; rất dễ hiểu khi chúng
ta quán xét thấy hành động đã bị ảnh hưởng khi ta bị
vây hãm trong thứ ý niệm và cảm xúc tiêu cực mạnh mẽ
như hận thù và giận dữ. Vào lúc đó trí (lo) và tâm ta đang
hỗn loạn. Không những điều đó khiến ta mất quân bình
và tình thế, mà còn mất luôn cái nhìn về ảnh hưởng của
hành động mình đối với người khác. Thật vậy, chúng ta
có thể trở nên quá bối rối đến độ quên mất vấn đề
của người khác, và quyền hạnh phúc của họ, nói chung.
Hành động của chúng ta trong hoàn cảnh đó — cả hành, ngữ,
ý, quên và muốn — gần như chắc chắn có thể làm thương
tổn đến hạnh phúc kẻ khác. Cho dù ý định trường kỳ
của ta đối với người khác ra sao, cũng như hành động của
ta có chủ tâm ý thức hoặc không. Đặt trường hợp chúng
ta nổi nóng khi cãi vã cùng người nhà. Cách thức đương
đầu cùng bầu không khí căng thẳng đang lan rộng đó còn
tùy thuộc khá nhiều vào điều tiềm ẩn dưới hành động
hiện tại — nói cách khác, kun long của chúng ta. Càng thiếu
bình tĩnh, chúng ta càng dễ có các phản ứng tiêu cực với
lời lẽ nặng nề, và càng chắc chắn là điều nói hoặc
làm đó sẽ khiến chúng ta hối tiếc về sau, mặc dù rất
thương mến người đó.
Hoặc
thử tưởng tượng một trường hợp chúng ta gây trở ngại
cho người khác một chút, như là vô tình đụng phải người
nào khi đang đi, và người đó la mắng chúng ta vô ý. Chúng
ta rất dễ dàng bỏ qua chuyện đó nếu khuynh hướng (kun long)
đang thiện lành, nếu trái tim đầy tình thương, hơn là lúc
đó đang chứa đầy các cảm xúc tiêu cực. Khi động cơ của
hành động là thiện lành, thì hành động tự động xu hướng
về việc góp phần vào tha lợi. Do đó chúng sẽ tự động
có luân lý. Ngoài ra, nếu trạng thái bình thường của chúng
ta đa phần là thế, thì phản ứng xấu lúc bị khiêu khích
càng ít xảy ra. Ngay dù chúng ta mất bình tĩnh, sự bộc phát
cũng sẽ không có ác tánh hoặc hận thù. Do vậy, theo ý tôi,
mục đích của tâm linh và thật hành luân lý chính là cải
biến và kiện toàn kun long của cá nhân. Đó là cách khiến
chúng ta trở thành những người tốt hơn.
Chúng
ta hiểu được, khi sự thành công trong việc cải biến tâm
và trí qua việc đào luyện các phẩm chất tâm linh càng lớn,
thì khả năng đối phó cùng nghịch cảnh càng mạnh; và hành
động thiện lành luân lý càng nhiều. Nếu có thể, tôi xin
đơn cử trường hợp của tôi làm thí dụ. Sự hiểu biết
về luân lý có nghĩa là trong khi nỗ lực liên lũy để đào
luyện một tình trạng tâm trí tích cực hoặc thiện lành,
thì tôi cố gắng phục vụ người khác bằng khả năng của
mình.
Để
chắc ăn, thêm vào việc đó, nội dung của hành động là,
trong sự khả thi tối đa, tôi cố gắng giảm các cơ hội
hành động thiếu luân lý. Sách lược này có hữu hiệu không,
là điều để cứu xét, dựa trên căn bản kết quả đối
với sự an sinh của tha nhân đoản kỳ hoặc trường kỳ.
Nhưng, thường xuyên đặt hết nỗ lực, và luôn cố gắng
quan tâm, cho dù chuyện gì xảy ra, tôi tin mình sẽ không làm
gì để phải hối tiếc. Ít nhất tôi biết rõ mình đã cố
gắng hết sức.
Mô
tả trong chương về tương quan giữa luân lý và tâm linh không
nêu ra câu hỏi về các phương cách giải quyết tình trạng
tiến thoái lưỡng nan của nền luân lý ngày nay. Chúng ta sẽ
bàn đến sau. Tôi quan tâm hơn đến việc đề phác một khuynh
hướng nghiên cứu luân lý, bằng cách đưa ra mối liên hệ
của thảo luận luân lý và kinh nghiệm cơ bản về hạnh phúc
và đau khổ của con người, tránh các vấn đề khơi dậy
khi đặt nền tảng của luân lý lên tôn giáo. Hiện thực
là đa phần nhân loại ngày nay không tin vào nhu cầu tôn giáo.
Hơn nữa, có những hành vi tạm chấp nhận trong truyền thống
tôn giáo này chứ không được nơi truyền thống khác.
Còn
về ý nghĩa của từ "cách mạng tâm linh," tôi đã minh xác
rằng một cuộc cách mạng tâm linh sẽ kéo theo một cuộc
cách mạng luân lý.