Đạo
đức, dù với một xã hội tiến hóa văn minh như thế nào,
cũng luôn luôn là một nhu cầu cho tâm lý con người. lịch
sử từ xa xưa đến hiện đại, khi liệt đánh giá một nhân
cách đều chú trọng đến khía cạnh đạo đức của con người
đó.
Và
người ta đánh giá một con người, dù ở lĩnh vực nào, càng
cao bao nhiêu nếu mặt đạo đức người đó càng lớn bấy
nhiêu. Phải chăng đạo đức là một khuynh hướng tiềm ẩn,
một hạt giống tiềm ẩn trong lòng mỗi người khiến cho
họ luôn luôn đòi hỏi đạo đức ở những con người ưu
tú?
Ví
dụ người ta không gọi Gandhi là một nhà chính trị có công
giành lại độc lập cho Ấn Độ mà tôn xưng là Thánh Gandhi,
hay Mahatma Gandhi, (Mahatma có nghĩa là linh hồn vĩ đại, Linh
hồn cao cả). Hay chúng ta có cảm tình đặc biệt với Albert
Eindstein, người khai sáng ra vật lý học hiện đại, không
chỉ vì đầu óc thiên tài trong khoa học của ông, mà còn
vì tính tình hiền hòa, trẻ thơ, khuôn mặt, mang vẻ thiện
lành của ông.
Đến
bây giờ cũng vậy, người ta điều tra cho bằng được một
vụ quên thanh toán tiền thuê nhà của một tổng thống, một
vụ lăng nhăn, tình ái của một tổng thống, cũng chỉ vì
người ta muốn người lãnh đạo của họ phải trong sạch,
không thể là một người nói dối hay có một quan hệ mờ
ám. Người ta nói đến và thực hành đạo lý chính trị,
đạo đức kinh tế, đạo đức y học, thậm chí đạo đức
trong quảng cáo v.v... nghĩa là trong tất cả những lĩnh vực
của đời sống hiện đại. Như vậy, đạo đức vẫn là
một ám ảnh, một nhu cầu, một khuynh hướng cố hữu của
con người.
1.
Đạo
đức là sự tiến hóa của nhân loại
Nói
đến đạo đức, hình như chúng ta ai cũng có thể hình dung
đạo đức là gì, một con người đạo đức là sao, dù định
nghĩa và quan niệm của mỗi người có thể khác nhau theo mức
độ cao thấp, sâu cạn. Ở đây, chúng ta chỉ nêu lên vài
nhận xét:
- Cùng
với sự tiến hóa của hình thức xã hội, đạo đức cũng
có tiến hóa, ít nhất là về mặt hình thức: sự tiến bộ
này biểu hiện ở những tổ chức quốc tế. Ví dụ thời
cổ, tù binh có thể bị giết, ngày nay hội Chữ Thập Đỏ
đã đấu tranh không cho làm như vậy. Hay ngày xưa con người
gây chiến với nhau mà không có một tổ chức quốc tế nào
để hòa giải, ngày nay chúng ta có Liên Hiệp Quốc, ít ra
là một diễn đàn để gặp gỡ, trao đổi hoặc điều đình.
Thời cổ người ta chỉ dùng chiến tranh để giải quyết
bất hòa, ngày nay biện pháp ngoại giao là chủ yếu. Như vậy
là cùng với xã hội văn minh, người ta cư xử với nhau cũng
văn minh hơn, có đạo đức hơn.
- Đạo
đức gắn liền với những quy luật tiến hóa của con người
và vũ trụ. Những quy luật ấy trong văn hóa Viễn Đông gọi
là Lễ (theo Khổng Tử). Lễ là trật tự của vũ trụ và
con người. những quy luật của tiến hóa ấy Lão Tử gọi
là Đức, hoặc Đạo và Đức theo kinh Dịch. Và trong văn hóa
Ấn Độ gọi là Pháp (Dharma), theo Phật giáo và Ấn giáo.
Riêng với Phật giáo, Pháp có nghĩa là con đường đi đến
sự hoàn thiện cao nhất của con người, tức là quả Phật.
Chữ Đạo của Viễn Đông cũng là con đường. Như vậy, đạo
đức gắn liền với con đường hay những quy luật tiến hóa
của con người, để nâng cấp con người càng ngày càng đến
chỗ hoàn thiện, thành hiền, thánh theo Nho giáo và thành Phật
theo Phật giáo. Chính vì cùng hướng đến một đạo đức
tối cao tối thượng này, nên đó là một lý do để người
xưa gọi Phật, Nho, Lão là đồng nguồn, “Tam giáo đồng
nguyên”.
- Đạo
đức, dù với một quan niệm thô sơ thế nào hay trong một
nền đạo đức phong phú và trùm khắp, thì nó luôn luôn gắn
với cái thiện. Một người đạo đức trong hình dung của
mỗi người là một người thiện. Như thế đạo đức nhắm
đến cái thiện, một trong ba phẩm tính Chân – Thiện –
Mỹ là lý tưởng chung của loài người. “Thiện” trong từ
Hán Việt có nghĩa là tốt, trái với xấu (ác), nếu óc thể
kể thêm một nghĩa nữa, thì thiện có nghĩa là trọn vẹn
(như hoàn thiện, toàn thiện...).
Chúng
ta không thể hình dung một con người được gọi là tiến
hóa cao mà lại không có đạo đức, không phải là người
thiện. Nói cách khác, một người càng tiến hóa cao thì ngoài
những phẩm tính khác, nơi người đó đạo đức lại càng
nhiều, cái thiện lại càng đầy dẫy, đến độ toàn bộ
con người, thân khẩu ý đều hoàn toàn thiện, như Đức Phật.
Như vậy, đạo đức không nằm ngoài cuộc tiến hóa của
con người. Đạo đức chính là một trong những phương diện
tiến hóa của con người, và muốn tiến hóa, muốn hoàn thiện,
phát triển đến mức trọn vẹn, không thể nào không có đạo
đức trên con đường tiến hóa, hoàn thiện ấy.
2.
Đạo
dức là hạnh phúc
Khi
đạo đức gắn với cái thiện như một điều tất yếu thì
đạo đức cũng đi liền với hạnh phúc vì cái thiện là
cái tất yếu đưa đến hạnh phúc. Lấy một ví dụ, khi chúng
ta nói lời dịu dàng, thân mến với ai (ái ngữ – một trong
bốn nhiếp pháp), chúng ta có ngay hạnh phúc, niềm vui trong
lòng, chưa kể đối tượng kia. Bất kỳ ai trong chúng ta cũng
có cảm giác hạnh phúc này khi làm một việc thiện, nghĩa
là làm một hành động đạo đức. Thậm chí chúng ta làm
một việc thiện nhỏ, một hành động đạo đức nhỏ với
chỉ bản thân chúng ta – chẳng hạn như giữ một giới nào
đó trong một thời hạn ngắn – chúng ta cũng có ngay cảm
giác hạnh phúc. Và khi chúng ta làm một việc ác (xấu) dù
nhỏ với chỉ riêng bản thân mình, chúng ta cũng thấy mình
mất đi một phần hạnh phúc.
Cái
thiện của đạo Phật rất lớn, bao gồm toàn bộ mọi mặt
của đời sống con người. Ví dụ một tâm thức được gọi
là thiện theo Phật giáo thì tâm thức ấy không nghĩ đến
chuyện làm hại (giới), không lăng xăng, buông lung (định),
có tỉnh giác sáng tỏ (tuệ) và còn đủ mọi đức hạnh
như từ bi hỷ xả... Với một tâm thức như vậy, hạnh phúc
ắt có ở nơi đó. Hoặc hết tham sân si là cái thiện đối
với Phật giáo, và tâm thức không tham sân si như vậy ắt
phải hạnh phúc. Nói tóm gọn, đạo đức Phật giáo là: “Các
điều ác, xấu chớ nên làm. Các việc thiện, tốt hãy vâng
làm. Hãy tự làm thanh tịnh tâm ý mình”. (Chư ác mạc tác,
chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý).
Với
đạo đức như vậy, bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống,
con người tiến trên con đường của hạnh phúc, từ những
hạnh phúc nho nhỏ, dần dần đến hạnh phúc tối thượng
là An lạc, trạng thái tâm thức tối thượng, mục đích đạt
đến của con người. “Các điều ác chớ làm, các việc
thiện vâng làm” là sự tích tập công đức và “sự tịnh
tâm ý”, lĩnh vực của trí tuệ soi thấy vô ngã và vô pháp,
là sự tích tập trí tuệ. Cả hai sự tích tập này được
mối kết với nhau trong chỉ một hành động, trong chỉ một
tâm.
Hành
động đạo dức đưa ngay đến hạnh phúc cho người làm nó.
nhưng hành động như thế nào để hạnh phúc đó càng lớn
rộng và sâu xa? Về mặt chủ thể, hành động đó được
thực hiện không vì một mục tiêu ích kỷ (nếu ích kỷ thì
không còn là thiện hay hành động đạo đức theo quan điểm
chung của người bình thường) và không bị bó hẹp trong một
cái ta và cái của ta. Với một tâm thức rộng mở, không
bị chướng ngại bởi những phiền não về ta và cái của
ta, thì hành động đạo đức ấy là một hành động thanh
tịnh, và như vậy hành động đó đưa ngay đến một hạnh
phúc rộng lớn và sâu xa.
Đây
là điều mà ai trong chúng ta cũng có thể thể nghiệm được.
Và có thể nói thêm, chính sự an lạc càng rộng lớn và sâu
xa sẽ làm cho tiêu trừ sự trói buộc trong cái ta và cái của
ta. Về mặt đối tượng, theo nguyên lý nhân quả, hành động
càng có lợi lạc cho đối tượng (về phẩm cũng như về
lượng) thì hạnh phúc càng lớn và sâu. Một hành động đạo
đức đem lại lợi lạc cho mình và cho người trên căn bản
trí tuệ nghĩa là thoát khỏi cái ta và cái cái của ta, hành
động đó được Phật giáo gọi là Hạnh.
Qua
quan sát ở trên, chúng ta thấy một hành động đạo đức,
một hành động thiện, để được rộng lớn và bao la thì
chính người làm hành động đó phải rộng lớn và bao la,
hay nói theo ngôn ngữ Phật giáo thì phải càng ít chướng
ngại (phiền não chướng và sở tri chướng), càng vô ngã
và vô pháp (không có một sự ngã hiện hữu độc lập ở
nơi con người và mọi hiện tượng). Ở đây chúng ta thấy
sự tương liên giữa đạo đức và trí tuệ, hay nói cách
khác là mối tương liên giữa cái thiền và cái chân.
Cái
thiện gắn với sự thật vô ngã và vô pháp, và càng vô ngã
vô pháp thì càng thiện. Chúng ta thấy công thức gắn hành
động đạo đức với trí tuệ là một đặc điểm của Đại
thừa, ví dụ như ở trong kinh Kim Cương: “Hãy không trụ
sắc thanh hương vị xúc pháp (trí tuệ) mà bố thí (hành động
đạo đức)”. Chính sự gắn kết hành động công đức và
trí tuệ này, hay còn gọi là hai sự tích tập công đức và
trí tuệ, đã làm nên con đường Bồ tát, hay Bồ tát hạnh.
Như
vậy, khác với những kiến giải có một viễn cảnh không
rộng, cho rằng làm một việc thiện chỉ là tạo một nhân
tốt để hưởng quả tốt, nghĩa là chỉ nằm trong lĩnh vực
phước báu trời người, Đại thừa dùng việc thiện nối
kết với trí tuệ để đạt đến mục đích tối hậu.
Trong
mục đích tối hậu đó, cái thiện trở thành cái thiện rốt
ráo, tức là không còn sự phân chia ta – người, chủ thể
– đối tượng, tâm – cảnh..., mà nói theo kinh Hoa Nghiêm,
đó là một trạng thái trong đó “Một là tất cả, tất
cả là một”. Trạng thái đó đầy đủ các mặt của trạng
tahí Phật, mà chúng ta chỉ kể một số đức tính như Trí
tuệ, Từ bi, Hạnh hay hoạt động của một vị Phật (Từ
bi và Hạnh có thể xếp vào mặt đạo đức), An lạc (hạnh
phúc tối thượng)...
3.
Đạo
đức là cái vốn có sẵn nơi chúng ta, nó là một phương
diện của Phật tính hay Như Lai tạng
Không
ai có thể hình dung được một vị Phật, một vị Bồ tát,
mẫu người lý tưởng của Phật giáo mà lại thiếu kém về
phương diện đạo đức. Trái lại, một con người tiến hóa
đến mức độ lý tưởng thì phải đủ “muôn hạnh, muôn
đức” như các kinh thường nói về Đức Phật.
Ai
trong chúng ta cũng hình dung được một con người “thần
tượng” của mình như thế nào, và chẳng ai muốn thần tượng
của mình là một người không có đạo đức, không trong sạch.
Dù người ta say mê thần tượng của mình về mặt nào, tài
năng, thông minh, khéo léo, hay đẹp đẽ, trong sạch... thì
sở dĩ người ta đam mê các đức tính đó là vì nơi bản
thân người say mê đã tiềm ẩn cái đức tính đó. Chúng
ta say mê các đức tính của Phật vì chính nơi mỗi chúng
ta đều tiềm ẩn những đức tính đó. Đây là điều mà
đạo Phật nói là “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính,
đều sẽ thành Phật”. Phật tính này kinh Đại Bát Niết
Bàn gọi là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.
Với
quan điểm của Đại thừa, “muôn hạnh muôn đức” không
phải là cái gì ở ngoài vào, cái gì chưa có mà phải tập
luyện mới có, mà chúng đã được chứa đựng và tiềm ẩn
nơi Phật tính, là cái đã có sẵn nơi mỗi chúng sinh, và
để trở nên hoàn thiện người ta chỉ cần nhận biết sự
có mặt của chúng và triển khai chúng đến trọn vẹn.
Như
vậy hành động đạo đức của chúng ta chính là làm hiển
lộ Phật tính ấy nơi mỗi chúng ta. Với những nhà Đại
thừa hậu kỳ ở Ấn Độ, Phật tính được tượng trưng
bởi Phật Samantabhadra (Phổ Hiền), tiếng Anh là All food (Toàn
thiện). Trong kiến giải như thế, đạo đức là sự trở
lại cái Thiện nguyên sơ của mỗi chúng ta. Nhìn ở một phương
diện, hành động đạo đức có công năng phá tan những che
chướng (vô minh), chúng che lấp Phật tính vốn toàn thiện
nơi mỗi chúng ta. Và trong hành động đạo đức như vậy
chúng ta đã phần nào (vì vẫn còn nhiều che chướng) tương
ưng với Phật tính, cội nguồn của mọi hạnh, mọi cái thiện,
mọi hình thức đạo đức.
Khi
chúng ta giúp đỡ một người, chúng ta cảm thấy hạnh phúc.
Thậm chí khi chúng ta thấy, chỉ thấy thôi chứ không trực
tiếp làm, chẳng hạn một đứa trẻ giúp đỡ một đứa
trẻ khác, lòng chúng ta cũng rung lên những tiếng chuông hạnh
phúc. Sở dĩ như vậy vì lúc ấy chúng ta đã cảm thông, tương
ưng chút gì với Phật tính, cái vốn có sẵn và có rất đổi
gần gũi với chúng ta, mà chỉ vì ít khi chúng ta tiếp xúc
với nó. Trong ý nghĩa ấy mà kinh Pháp Hoa nói:
Nhẫn
đến trẻ em chơi
Nhóm
cát thành tháp Phật
Tất
cả người như thế
Đều
đã thành Phật đạo.
...
Hoặc
người lòng hoan hỷ
Hát,
ngâm ca ngợi Phật
Nhẫn
đến một tiếng nhỏ
Đều
đã thành Phật đạo.
...
Nếu
người lòng tán loạn
Vào
nơi đền chùa tháp
Một
xưng Nam mô Phật
Đều
đã thành Phật đạo.
Khi
người ta làm một hành động đạo đức, dù nhỏ và có vẻ
vô tình, ta liền tương ưng với Phật tính Thường – Lạc
– Ngã – Tịnh ở nơi chúng ta và nơi tất cả, do đó kinh
nói “Đều đã thành Phật đạo” (giai dĩ thành Phật đạo).
Và chúng ta có thể suy ra, nếu hành động đạo đức càng
lớn thì Thường – Lạc – Ngã – Tịnh càng sâu xa.
Cũng
trong một chiều hướng khai triển hạt giống đã có sẵn
nơi mỗi người, mặc dù ở đây chúng ta không bàn đến mức
độ cao hoặc sâu đến đâu, cái nào ưu thế hơn cái nào,
chúng ta thấy trong sáng Đại học của Khổng giáo nói: “Đại
học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ
ư chí thiện”. Tạm dịch là: Cái đạo của sự học lớn
lao, cốt ở làm sáng cái đức sáng ở nơi mình, cốt ở cái
cách đổi mới cho người, cốt ở dừng yên nơi chỗ chí
thiện. Đạo đức của Khổng giáo chính là “làm sáng cái
đức sáng ở nơi mình”, một lần nữa chúng ta thấy chiều
hướng chung của Tam giáo đồng nguyên.
Trở
lại với cái nhìn Phật giáo, làm một việc thiện không chỉ
là tạo một nhân tốt để sau đó được hưởng một quả
tốt, rồi quả này cũng biến mất khi hết tác dụng, theo
đúng luật nhân quả và vô thường, và chúng ta sẽ trở lại
như cũ. Khi thực hiện một việc thiện là khai thác, làm biểu
lộ chính cái nguồn Thường – Lạc – Ngã – Tịnh nơi mỗi
chúng ta. Đạo đức không phải là kỷ luật, một bổn phận
phải tuân thủ, mà là quyền lợi, tài nguyên hạnh phúc vốn
có sẵn với mỗi người, sẵn sàng vào bất cứ lúc nào cho
chúng ta khai thác và thọ hưởng.
Ngược
lại, làm một việc xấu, không thiện, đó là chúng ta tự
phá hoại chính gia tài của mình, phá hoại chính mạch nguồn
Thường – Lạc – Ngã – Tịnh của mình. Theo kinh Duy Ma Cật
cũng như các kinh khác, cõi này là cõi thanh tịnh (Tịnh độ)
của Phật Thích Ca, chỉ vì tâm mình bất tịnh mà biến cõi
này thành bất tịnh. Theo kiến giải của truyền thống Duy
Thức, một trong hai dòng chính của Đại thừa, với một cái
nhìn ở một mức độ rất cao, thì tất cả đều là tâm
ta, tất cả đều là mình: ba cõi duy chỉ là tâm, muôn pháp
duy chỉ là thức – tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.
Do
đó mà khi giết hại, trộm cướp, tà dâm, nói dối... nghĩa
là làm hại bất cứ một ai tức là chúng ta đang làm hại
chính bản tâm của mình; mà bản tâm của mình chính là Phật
tâm (Tâm của muôn loài tức Phật tâm, Phật tâm bèn với
tâm ta hiệp. Pháp vốn như nhiên suốt cổ kim – Tuệ Trung
Thượng Sĩ, Phật Tâm Ca). Khi tạo ra sự phân chia, chia rẻ,
tranh chấp, tưởng là ta làm việc với cảnh vật bên ngoài,
nhưng thật ra đó là việc làm phân chia, chia rẻ chính tâm
thức của mình, tâm thức tự chia rẻ để tranh chấp với
chính nó. Làm điều gì trái với đạo đức, làm thương tổn
một sinh vật hay thực vật hay loài vô tri nào, đó là chúng
ta đang làm thương tổn chính tâm mình, bởi vì tất cả đều
là Tâm, nhất như một thể.
Làm
trái đạo đức, làm điều xấu như vậy, không chỉ phải
chịu lãnh nhân quả mà còn phá hoại chính trí tuệ thấy
“Tất cả là một” của mình, tức là nói theo thành ngữ
của người xưa, phá đi “tuệ mạng” của mình.
Sơ
lược qua một vài kiến giải như vậy, chúng ta thấy đạo
đức gần với mỗi người chúng ta hơn chúng ta tưởng rất
nhiều. Và dù những kiến giải ấy có vẻ mang nhiều tính
triết học, ít thực tế – chỉ thực tế với những người
đã đạt đến một tâm vi tế – với phần đông chúng ta,
thì ít ra chúng ta cũng thấy rằng nếu Phật tính hay Phật
tâm là cái gì gắn liền với chúng ta trong mỗi phút giây,
thì đạo đức, hành động thuận với Phật tính, và không
đạo đức, hành động trái với Phật tính, hẳn cũng là
ở sát ngay chúng ta trong mỗi phút giây. Từ đó, đời sống
là sự tự do để biểu lộ Phật tính hay để che lấp Phật
tính tùy theo chúng ta thuận với đạo đức hay nghịch với
đạo đức.
4.
Đạo đức và xã hội
Suốt
trong lịch sử loài người, con người dù ở bất cứ xã hội
nào, giai đoạn lịch sử nào cũng đều tìm cách hoàn thiện
xã hội mình đang sống, và do đó có nhiều lý thuyết xã
hội ra đời. Vì sự tiến hóa của con người là tiến đến
Chân – Thiện – Mỹ, nên về mặt xã hội con người cũng
mong muốn một xã hội Chân Thiện Mỹ. Trong quan niệm về
một xã hội tốt đẹp, Phật giáo cũng cho rằng phương diện
Thiện, phương diện đạo đức là không thể thiếu. Hơn thế
nữa đạo đức chính là động lực để xây dựng một xã
hội hoàn thiện.
Đạo
đức, khuynh hướng đam mê cái tốt, cái thiện, sự hoàn thiện
nơi con người là sinh khí làm cho xã hội, dù theo bất kỳ
hình thức xã hội nào, vận hành, lưu thông và tiến bộ.
Đạo đức theo Phật giáo, là tất cả những đức tính của
con người; những đức tính ấy cần được khai triển đến
chỗ tròn vẹn. Có thể nói nhân loại có bao nhiêu đức tính,
và hình dung ra được bao nhiêu đức tính, thì tất cả những
đức tính ấy đều có trong Phật giáo. Bất cứ kinh điển
nào cũng nêu ra hàng chục, hàng trăm những đức tính cần
có, cần trau dồi để trở nên một người toàn thiện.
Chỉ
kể sơ lược một số: trí tuệ, từ bi hỷ xả, rộng lượng,
tự chế, kiên nhân, cương quyết, nỗ lực chuyên cần, có
lý tưởng, tâm thức không tạp loạn, không thành kiến v.v...
rồi biết ơn, báo ơn, trung kiên, không sợ hãi, thích học
hỏi để tiến bộ, lòng hiếu, tình bạn... cho đến những
đức tính nổi bật của thời hiện đại như bén nhạy, dễ
thích ứng, tinh thần hợp tác, trách nhiệm phổ quát đối
với toàn bộ sự sống...
Hơn
nữa, theo Phật giáo Đại thừa, tất cả những đức tính
ấy đều nằm trong Như Lai tạng hay Phật tính, nghĩa là không
phải từ ngoài nhà vào, không phải là những cái giả tạo
và nhân tạo, không phải do xã hội tạo ra để huân tập
cho con người, mà những đức tính ấy nằm tiềm ẩn trong
mỗi con người và nhờ xã hội và qua xã hội những đức
tính ấy được khai triển cho đến khi con người trở thành
hoàn thiện.
Như
vậy, Đại thừa không có khuynh hướng lánh xa xã hội, mà
ngược lại, quan niệm xã hội là môi trường, là hoàn cảnh,
hay dùng một thuật ngữ Phật giáo, là đạo tràng cho con người
tự hoàn thiện, tự thực hiện mình. Con người cần khai triển,
trau dồi những đức tính vốn đã tiềm ẩn nơi mình để
thành tựu định mệnh vinh quang của mình. Đó là con đường
lợi mình lợi người, hay là sự tự phát triển của cá nhân
kéo theo sự phát triển của xã hội, cả hai tương tác lẫn
nhau trên con đường tự hoàn thiện.
Sự
tiến hóa của con người là biểu lộ cái thiện ra nơi thân
tâm của mình, và như vậy xã hội, một cộng đồng nhiều
con người, cũng là sự biểu lộ của cái thiện ra trong sinh
hoạt của xã hội. Với sự hiển lộ của những điều thiện,
xã hội sẽ tốt đẹp, tiến bộ về cả ba mặt Chân, Thiện,
Mỹ. Xã hội là môi trường để con người thành tựu đạo
đức, tức cái Thiện, của mình, đồng thời xã hội cũng
được nâng cấp tiến bộ khi nỗ lực của con người là
tự hoàn thiện chính nó. Cái thiện hay đạo đức là sức
sống và niềm vui của xã hội, sự sống tốt lành của xã
hội. Không có một xã hội nào, trong bất cứ hình thức văn
minh nào lại không muốn loại trừ những điều không thiện,
không tốt, tức là những tệ nạn xã hội ra khỏi cơ thể
xã hội. Cái thiện hay đạo đức như vậy chính là ý nghĩa
sống của xã hội, là giá trị sống của xã hội, là sức
sống của xã hội.
Tóm
lại, khi mỗi cá nhân thấy rằng đạo đức hay cái thiện
là nguồn hạnh phúc và sống theo đó, nghĩa là trải rộng
đạo đức hay hạnh phúc ra môi trường chung quanh (xã hội),
thì lúc đó chúng ta có một xã hội tốt đẹp, tôn vinh cho
ý nghĩa của con người và xã hội. Xã hội đó cũng là quan
niệm lý tưởng của Nguyễn Trãi khi ông nói về âm nhạc
trong một bản tấu với vu Lê: “Ý nghĩa của âm nhạc là
hòa. Cho nên khi nào người người, nhà nhà, làng làng hòa
thuận với nhau, thì đó là cái gốc của nhạc”.
Nếu
có điều cần nói thêm thì đạo Phật không chỉ nêu lên
một lý tưởng cho con người, mà đạo Phật là một con đường,
nghĩa là có đủ những phương tiện để cho con người có
thể đi trên con đường đó, hay nói cách khác, có đủ những
phương pháp thực hành để hiện thực hóa đạo đức hay
cái thiện, hay hạnh phúc, nơi mỗi con người và xã hội.
Nguyễn
Thế Đăng
(Giác
Ngộ)
07-30-2007
11:23:29