26
KINH
ĐA GIỚI
Đây
là một bài kinh đức Phật dạy:
"Phàm
những sợ hãi (behayàni) gì khởi lên, chỉ khởi lên cho người
ngu, không khởi lên cho người trí; phàm có những thất vọng
(upaddavà) gì khởi lên, thất vọng ấy khởi lên cho người
ngu, không khởi lên cho người trí; phàm có những hoạn nạn
(upa-saggà) gì khởi lên, những hoạn nạn ấy khởi lên cho
người ngu, không khởi lên cho người trí".
Rồi
đức Phật dùng ví dụ tia lửa từ ngôi nhà bằng cây lau,
ngôi nhà bằng cỏ, có thể lây lan thiêu cháy ngôi nhà có
lầu gác, được trét trong trét ngoài, được che chở khỏi
gió, có chốt khóa gài kỹ, có cửa sổ gài kỹ. Như vậy
đức Phật đi đến kết luận:
"Kẻ
ngu đầy những sợ hãi, kẻ trí không có sợ hãi; kẻ ngu
đầy những thất vọng, kẻ trí không có thất vọng; kẻ
ngu đầy những hoạn nạn, kẻ trí không có hoạn nạn. Không
có sợ hãi cho người trí, không có thất vọng cho người
trí; không có hoạn nạn cho người trí". Và đức Phật khuyên
các Tỷ-kheo cần phải tu học để thành người có trí.
Theo
lời yêu cầu của Tôn giả Ananda, Thế Tôn giải thích mức
độ cần phải đạt được để trở thành người có trí:
"Cho đến khi vị Tỷ-kheo thiện xảo về giới, thiện xảo
về xứ, thiện xảo về duyên khởi, thiện xảo về xứ và
phi xứ, cho đến mức độ như vậy, này Ananda là vừa đủ
để nói với Tỷ-kheo là người Hiền trí biết suy tư tìm
hiểu".
Rồi
Thế Tôn giải thích thế nào là thiện xảo về 18 giới: tức
là nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới, nhĩ giới, thanh
giới, nhĩ thức giới; tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới;
thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới, thân giới, xúc
giới, thân thức giới; ý giới, pháp giới, ý thức giới.
Hay
thiện xảo về 6 giới: địa giới, thuỷ giới, hoả giới,
phong giới, không giới, thức giới.
Hay
thiện xảo về 6 giới: lạc giới, khổ giới, hỷ giới, ưu
giới, xả giới, vô minh giới.
Hay
thiện về 6 giới: dục giới, ly dục giới, sân giới, ly sân
giới; hại giới, bất hại giới.
Hay
thiện xảo về 3 giới: dục giới, sắc giới, vô sắc giới.
Hay
thiện xảo về 2 giới: hữu vi giới, vô vi giới.
Như
thế nào là thiện xảo về xứ? Tức là thiện xảo về 6
nội xứ, 6 ngoại xứ. Tức là mắt và sắc, tai và tiếng,
mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp.
Thế
nào là vị Tỷ-kheo thiện xảo về duyên khởi? Ở đây, vị
Tỷ-kheo biết như sau: Nếu cái này có, cái kia có; do cái này
sanh cái kia sanh. Nếu cái này không có, cái kia không có; do
cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành, hành
duyên thức, thức duyên sanh sắc, danh sắc duyên sáu nhập,
sáu nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên
thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, do duyên sanh, lão tử,
sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi
của toàn bộ khởi uẩn này. Nhưng do diệt trừ, sự ly tham
hoàn toàn của chính vô minh này, các hành diệt. Do các hành
diệt nên thức diệt, do thức diệt nên danh sắc diệt, do
danh sắc diệt nên sáu nhập diệt, do sáu nhập diệt nên xúc
diệt, do xúc diệt nên thọ diệt, do thọ diệt nên ái diệt,
do ái diệt nên thủ diệt, do thủ diệt nên sanh diệt, do sanh
diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy
là sự đoạn diệt hoàn toàn Khổ uẩn này. Cho đến như vậy
là vừa đủ để nói vị Tỷ-kheo thiện xảo về duyên khởi.
Và
như thế nào để nói vị Tỷ-kheo thiện xảo về xứ và phi
xứ? Xứ có nghĩa là những sự kiện không thể xảy ra. Trước
hết là trường hợp người có Chánh kiến không đi đến
các hành (sankhara) và xem các hành là thường còn; không có
thể đi đến các pháp với ý niệm tự ngã. Trái lại người
phàm phu có thể đi đến các hành với ý niệm thường còn;
đi đến các hành với ý niệm lạc trú, đi đến các pháp
với các ý niệm lạc trú, đi đến các pháp với ý niệm
tự ngã. Sự kiện không thể xảy ra là người thành tựu
chánh kiến có thể giết sinh mạng người mẹ, có thể giết
sinh mạng của người cha, có thể giết sinh mạng vị A-la-hán,
với ác tâm làm Như Lai chảy máu, có thể phá hòa hợp Tăng,
có thể đề cao một Đạo sư khác. Trái lại người phàm
phu có thể giết mẹ, có thể giết cha, có thể giết vị
A-la-hán, có thể vì ác tâm làm thân Như Lai chảy máu, có
thể phá hòa hợp Tăng có thể đề cao một vị Đạo sư khác.
"Vị
ấy biết rõ rằng trong một thế giới (Lokadhàtu), hai vị
A-la-hán Chánh đẳng Giác có thể xuất hiện một lần; sự
kiện như vậy không thể xảy ra. Sự kiện này có xảy ra
trong một thế giới: một vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác có
thể xuất hiện một lần; sự kiện như vậy có thể xảy
ra.
Vị
ấy biết rõ sự kiện này không xảy ra: cùng trong một thế
giới, hai vua Chuyển Luân Thánh Vương có thể xuất hiện một
lần, không trước không sau; sự kiện như vậy không xảy
ra. Và vị ấy biết rõ rằng sự kiện này có xảy ra trong
một thế giới: một vị Chuyển Luân Thánh Vương có thể
xuất hiện, sự kiện như vậy có xảy ra.
Vị
ấy biết rõ rằng sự kiện này không có xảy ra: một nữ
nhân có thể thành một vị A-la-hán Chánh đẳng Giác; sự
kiện như vậy không có xảy ra. Và vị ấy biết rõ rằng
sự kiện này có thể xảy ra: một nam nhân có thể thành một
vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác; sự kiện như vậy có thể xảy
ra. Vị ấy biết rõ rằng sự kiện này không xảy ra: một
nữ nhân có thể trở thành một vị Sakka (Đế Thích); sự
kiện như vậy không có xảy ra. Và vị ấy biết rõ rằng
sự kiện này có thể xảy ra: một nam nhân trở thành một
vị Sakka (Đế Thích); sự kiện như vậy có thể xảy ra. Vị
ấy biết rõ rằng sự kiện này không có xảy ra: một nữ
nhân có thể trở thành Ma vương; sự kiện như vậy không
có xảy ra. Và vị ấy biết rõ sự kiện nầy có thể xảy
ra: một nam nhân trở thành Ma vương; sự kiện như vậy có
xảy ra. Vị ấy biết rõ rằng sự kiện này không có xảy
ra: một nữ nhân có thể trở thành Phạm thiên; sự kiện
như vậy không có xảy ra. Và vị ấy biết rõ rằng sự kiện
này có thể xảy ra: một nam nhân có thể trở thành Phạm
thiên; sự kiện như vậy có xảy ra.
Vị
này biết rõ rằng sự kiện này không xảy ra: một thân ác
hành có thể sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả lạc;
sự kiện này không xảy ra. Và vị ấy biết rõ rằng sự
kiện này xảy ra: một thân ác hành có thể ra quả báo không
khả ái, không khả hỷ, không khả lạc; sự kiện như vậy
có xảy ra. (tương tự cho khẩu ác hành và ý ác hành).
Vị
ấy biết rõ rằng sự kiện này không xảy ra, không có hiện
hữu: một thân thiện hành có thể sanh ra quả báo không khả
ái, không khả hỷ; sự kiện như vậy không có xảy ra. Và
vị ấy biết rõ rằng sự kiện này có xảy ra: một thân
thiện hành có thể sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ; sự
kiện như vậy có xảy ra (tương tự cho khẩu ác hành và ý
ác hành).
Vị
ấy biết rõ rằng sự kiện này không có xảy ra: một người
hành trì thân ác hành, do nhân thân ác hành ấy, sau khi thân
hoại mạng chung có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi
đời này; sự kiện như vậy không có xảy ra. Và vị ấy
biết rõ rằng sự kiện này có xảy ra: một người hành trì
thân ác hành, do nhân thân ác hành ấy, sau khi thân hoại mạng
chung có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đoạ xứ, địa ngục;
sự kiện này có xảy ra (tương tự cho khẩu ác hành và ý
ác hành).
Vị
ấy biết rõ rằng sự kiện này không có xảy ra: một người
hành trì thân thiện hành, do thân thiện hành ấy, có thể
sanh vào cõi dữ, ác thú. đoạ xứ, địa ngục; sự kiện
như vậy không có xảy ra. Và vị ấy biết sự kiện này có
xảy ra: một người hành trì thiện hành, do nhân thân thiện
hành ấy, có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời
này; sự kiện như vậy có xảy ra (tương tự cho khẩu ác
hành và ý ác hành).
Cho
đến mức độ như vậy là vừa đủ để nói: "Vị Tỷ-kheo
thiện xảo về xứ, phi xứ".
Khi
được nghe Thế Tôn giảng như vậy, Tôn giả Ananda nói lên
lời tán thán hy hữu và hỏi pháp môn này có tên gì. Thế
Tôn dạy hãy thọ trì pháp môn này là Đa giới, hãy thọ trì
là Bốn chuyển (Catuparivatto), hãy thọ trì là Trống bất tử.
(Kinh
Trung Bộ III, số 115)
27
KINH
VÍ DỤ TẤM VẢI
Việc
huấn luyện tâm và cải thiện tâm là vấn đề được đức
Phật quan tâm hàng đầu. Chúng ta có thể thấy có rất nhiều
phương thức được đức Phật trình bày như là pháp môn
tu tập nhằm huấn luyện và cải thiện tâm. Ở đây, chúng
tôi muốn giới thiệu một pháp môn tu tập rất thiết thực,
cụ thể, đơn giản nhưng đầy đủ, đó là pháp môn tu tập
qua kinh Ví Dụ Tấm Vải.
(1)
Trước hết, đức Phật trình bày giáo lý nhân quả được
cụ thể hóa bằng ví dụ tấm vải. Ngài dạy:
"Này
các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một
người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này
hay thuốc nhuộm khác, vải ấy sẽ được màu nhuộm không
tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy?
Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải không được sạch sẽ. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế.
Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch,
một thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay
thuốc nhuộm khác, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp,
sẽ được màu nhuộm tốt đẹp. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo,
vì tấm vải được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế".
Tâm
Không cấu uế sẽ đưa đến kết quả được sanh vào cõi
thiện, còn tâm cấu uế sẽ đưa đến kết quả sanh vào cõi
ác; cũng như tấm vải dơ hay sạch tất sẽ đưa đến kết
quả màu nhuộm của nó xấu hay đẹp của chính nó, cho dù
được nhuộm với màu với màu nhuộm gì. Thực tế là như
vậy, bởi vì giá trị tấm vải trước hết phải là chất
lượng, chứ không phải màu nhuộm. Ở đây chịu trách nhiệm
tạo ra mọi hạnh phúc hay khổ đau của chính chúng ta trong
đời này và đời sau. Khi chúng ta hành động cho dù bất cứ
công việc gì thì công việc ấy vẫn chưa xác định là thiện
hay ác, nếu chưa có sự tác ý của tâm. Mọi hình thức công
việc trong đời này chỉ là "màu nhuộm" mà thôi. Màu nhuộm
ấy luôn luôn có giá trị tùy thuộc vào "tấm vải" tâm của
chúng ta. Mối tương quan này là nghiệp nhân; và nghiệp quả
là cõi thiện, cõi ác. Với ví dụ tấm vải, chúng ta dễ
dàng soi rọi vào tâm của chúng ta, dễ dàng thấy được quy
luật nhân quả vận hành như thế nào để có chánh kiến
cho đường hướng tu tập của mình.
(2)
Kế tiếp, đức Phật đi sâu vào phân tích các trạng thái
cấu uế của tâm; và khi biết được chúng là cấu uế của
tâm thì cấu uế ấy được đoạn trừ. Chẳng hạn, khi biết
được tham dục là cấu uế của tâm đưa đến cõi ác trong
tương lai thì tham dục ấy được đoạn trừ. Như một người
biết một món ăn được nấu bằng những chất liệu có nhiều
độc tố gây bệnh nguy hiểm và ảnh hưởng đến tính mạng
trong tương lai, người ấy sẽ từ bỏ, không ăn món ăn đó.
Bằng
kinh nghiệm chúng ngộ, đức Phật phân tích cấu uế của
tâm gồm có mười sáu pháp, tức là dục tham, sân, phẫn,
hận, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống,
ngoan cố, cấp tháo, mạn, quá mạn, kiêu, phóng dật (abhijjha-visama-lobha,
byapada, kodha, upanaha, makkha, palasa, issa, macchariya, maya, satheyya,
thambha, sarambha, mana, atimana, mada, pamada).
Mười
sáu pháp này là mười sáu pháp tu quán, nhìn thẳng vào tâm
của mình. Khi biết loại cấu uế nào khởi lên trong tâm,
thấy sự nguy hiểm của cấu uế này và quán sát như vậy
nhiều lần, chúng ta có thể đoạn trừ được nó.
(3)
Khi biết và đoạn trừ được cấu uế của tâm, vị ấy
thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với đức Phật: "Ngài
là bậc Thế Tôn A-la-hán, Chánh đẳng giác, Minh hạnh túc,
Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng
phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn". Vị ấy thành tựu lòng
tin tuyệt đối với Pháp: "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết
giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để
mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí
chứng hiểu". Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối
với Tăng: "Diệu hạnh là chúng Tăng đệ tử Thế Tôn, trực
hạnh là chúng Tăng đệ tử Thế Tôn, như lý hạnh là chúng
Tăng đệ tử Thế Tôn, Chánh hạnh là chúng Tăng đệ tử
Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử của
Thế Tôn đáng được cung kính, tôn trọng cúng dường, đáng
được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời".
Ba
ngôi báu là chuẩn mực lý tưởng cho đời sống tâm linh của
người đệ tử Phật. Lòng tin Tam bảo ở đây là lòng tin
ở mức độ cao, với cấu uế đã được đoạn trừ, nên
đức Phật gọi là "Thành tựu lòng tin tuyệt đối" đối
với Tam bảo. Đây là sự thành tựu của hành giả trên đạo
lộ tu tập đoạn trừ các tâm cấu uế.
(4)
Đến giai đoạn này, vị ấy đã đạt đến sự giải thoát,
sự xả ly. Vị ấy tự nghĩ: "Ta thành tựu lòng tin tuyệt
đối với Phật, Pháp. Tăng" và chứng được nghĩa tín thọ,
pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ
hân hoan, hỉ sanh; từ hỉ, thân được khinh an; từ thân khinh
an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được
Thiền định. Chỉ với lòng tịnh tín bất động đối với
Tam bảo, vị ấy cũng có thể đạt được giải thoát.
Vị
Tỷ-kheo thành tựu giới như vậy (đoạn trừ cấu uế), pháp
như vậy (thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Tam bảo),
tuệ như vậy (sự giải thoát, sự xả ly), nếu có ăn đồ
ăn khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với
các món ăn khác cũng không vì vậy trở thành một chướng
ngại cho vị ấy, Như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi,
được bỏ vào trong nước sạch trở thành thanh tịnh sạch
sẽ, như vàng bỏ vào lò lửa trở thành thanh tịnh sạch sẽ.
Vị
hành giả đến đây đã được đạt tâm tự tại. Dù vị
ấy có thọ dụng các vật dụng thế gian, hay hành động với
hình thức nào thì những hình thức đó đều biểu lộ sự
vô hại, không trở thành chướng ngại cho vị ấy, vì vị
ấy không còn tham đắm, tâm không bị chi phối bởi các vật
dụng. Lúc này vị ấy sống nương tựa vào pháp, an trú vào
pháp; và chính pháp đã khiến cho vị này trở thành thanh tịnh
sạch sẽ hơn; như nước trong sạch làm cho tấm vải sạch
sẽ hơn, lửa làm cho vàng tinh khiết hơn.
(5)
Qua quá trình tu tập như vậy, vị hành giả đạt được sự
thanh tịnh tự thân; và tâm không còn bị dao động. Khi đạt
được như vậy, đức Phật hướng dẫn cho hành giả tu tập
bước tiếp theo, đó là tu tập bốn vô lượng tâm: từ, bi,
hỉ, xả. Ngài dạy: "Vị ấy an trú, biến mãn một phương
với tâm cùng khởi với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng
vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng
khắp thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ,
cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm
cùng khởi với từ, quảng đại vô biên, không hận, không
sân. Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm cùng khởi
với bi... , hỉ... , xả... quảng đại vô biên, không hận,
không sân".
Trong
giai đoạn này, vị hành giả phát khởi tâm rộng lớn hơn.
Tâm từ, bi, hỉ, xả được mở ra không có giới hạnh trong
bất cứ đối tượng nào, phương xứ nào. Tinh thần lợi
tha được thực hiện triệt để ở nơi đây; và trong lúc
hành lợi tha, hành giả cũng đạt được tâm hướng thượng
và giải thoát cho tự thân.
(6)
Sự thành tựu do tu tập bốn vô lượng tâm khiến hành giả
dần dần bước vào tuệ giác cứu cánh phạm hạnh. Vị ấy
biết: "Có cái này, có cái hạ liệt, có cái cao thượng, có
sự giải thoát vượt qua các tưởng". Do biết và thấy như
vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô
minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát, trí khởi lên:
"Ta đã giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những
việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
(7)
Từ khi mười sáu pháp cấu uế hiện hữu trong tâm cho đến
khi chứng được quả A-la-hán là một quá trình gột rửa
nội tâm. Đối với hành giả thành tựu quả vị cuối cùng
này, đức Phật gọi là vị "được tắm nội tâm". Như vậy,
pháp môn tu tập theo Kinh Ví Dụ Tấm Vải này là pháp môn
huấn luyện, cải thiện nội tâm theo trình tự thứ lớp được
áp dụng cho bất kỳ ai. Điều quan trọng được Kinh này nhấn
mạnh là chúng ta phải có chánh kiến ngay từ bước ban đầu,
nghĩa là do tâm tác thành. Và trong quá trình tu tập, vị hành
giả luôn luôn theo dõi sát tâm của mình, biết được cấu
uế nào đang khởi lên và đoạn trừ cấu uế ấy. Khi tất
cả các cấu uế đã được đoạn trừ, con đường thênh
thang sẽ tự mở ra cho sự an lạc và giải thoát, vì cấu
uế chính là chướng ngại căn bản, làm che mờ sự giác ngộ
giải thoát. Lòng tịnh tín bất động đối với Phật, Pháp,
Tăng chỉ được phát sinh khi cấu uế của tâm đã được
đoạn trừ. Cũng như để tu tập bốn vô lượng tâm được
thành tựu viên mãn thì vị hành giả phải là người đã
đoạn tận cả các tâm cấu uế.
Không
có một sức mạnh từ bên ngoài nào có thể gột rửa được
tâm cấu uế của chúng ta. Và cũng không có một thế lực
từ bên ngoài nào có khả năng đem lại sự giải thoát cho
chúng ta, mà mỗi người phải tự mình làm cho mình giải thoát
thanh tịnh, mỗi người phải tự mình làm cho mình giải thoát.
Như tiếng chuông cảnh tỉnh giữa đêm dài chi những ai mù
quáng tin theo những phong tục mê tín, đức Phật tuyên bố
sông Bahuka, sông Gàya, sông Sundarikà không thể đem lại sự
giải thoát cho kẻ ngu nhiều ác nghiệp, cũng không thể rửa
sạch nghiệp đen của kẻ ác gây tội. Rồi Ngài nói lên bài
kệ sau:
Với
kẻ sống thanh tịnh,
Ngày
nào cũng ngày tốt,
Với
kẻ sống thanh tịnh
Ngày
nào cũng ngày lành.
Các
tịnh nghiệp thanh tịch,
Luôn
thành tựu thiện hạnh
Này
vị Bà-la-môn
Chỉ
nên tắm ở đây,
Khiến
mọi loài chúng sinh
Được
sống trong an ổn
Nếu
không nói dối trá,
Nếu
không hại chúng sinh,
Không
lấy của không cho,
Có
lòng tin không tham,
Đi
Gagà làm gì?
Gaỳa,
một giếng nước!".
Đức
Phật đã mở ra một con đường tìm cầu hạnh phúc chân thật,
không huyền bí, không cao siêu, mà rất thiết thực, phù hợp
với mọi tâm tư của con người. Trong kinh Ví Dụ Tấm Vải,
đức Phật nói lên một trình tự tu tập từ đầu cho đến
khi giải thoát, tuy nhiên, ví dụ tấm vải vẫn là biểu tượng
rõ ràng cho tâm của chúng ta; và phương pháp làm cho tấm vải
trong sạch như thế nào thì phương pháp làm cho tâm của chúng
ta trong sạch cũng như vậy.
(Kinh
Ví Dụ Tấm Vải, Trung Bộ I, số 7)
28
MỘT
NẾP SỐNG AN LÀNH
Đây
là bài học kinh nói lên một đề tài quán tưởng, đức Phật
dạy cho các đệ tử đầu tay của Ngài, một thời Thế Tôn
trú ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà-lâm), giảng
đường Ông Anathapindika (Cấp Cô Độc), Thế Tôn gọi các
Tỷ-kheo và nói Ngài sẽ thuyết giảng Tổng thuyết và Biệt
thuyết của bài kệ tên là "Kinh Một Nếp Sống An Lành". Chữ
Pàli là Bhaddekaratta, Bhaddeke có thể dịch là hiền, là an lành,
Ðây là một bài kệ đem lại sự an lành cho người quán.
Trước hết, là Tổng thuyết bài kệ:
"Quá
khứ không truy tìm.
Tương
lai không ước vọng.
Quá
khứ đã đoạn tận,
Tương
lai lại chưa đến.
Chỉ
có pháp hiện tại,
Tuệ
quán chính ở đây,
Không
động, không rung chuyển.
Biết
vậy nên tu tập.
Hôm
nay, nhiệt tâm làm,
Ai
biết chết ngày mai.
Không
ai điều đình được,
Với
đại quân thần chết.
Trú
như vậy nhiệt tâm,
Đêm
ngày không mệt mỏi,
Xứng
gọi nhất dạ hiền
Bậc
an tịnh trầm lặng".
Tiếp
đến là phần Biệt thuyết.
"Thế
nào là vị Tỷ-kheo truy tìm quá khứ? Vị Tỷ-kheo nghĩ "Như
vậy là Sắc của tôi trong quá khứ" và truy tìm sự hân hoan
trong ấy. "Như vậy là Thọ của tôi trong quá khứ" và truy
tầm sự hân hoan trong ấy. "Như vậy là Tưởng của tôi trong
quá khứ: " và truy tìm sự hân hoan trong ấy. "Như vậy là
Hành của tôi trong quá khứ" và truy tìm sự hân hoan trong ấy.
"Như vậy là Thức của tôi trong quá khư" và truy tìm hân hoan
trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự truy tìm quá khứ.
"
"Và
này, các Tỷ-kheo, thế nào là không truy tìm quá khứ?" Vị
ấy nghĩ: "Như vậy là Sắc của tôi trong quá khứ", và không
truy tìm sự hân hoan trong ấy. "Như vậy là Thọ của tôi trong
quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan ấy. "Như vậy là
Tưởng của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan
trong ấy. "Như vậy là Hành của tôi trong quá khứ", và không
truy tìm sự hân hoan trong ấy. "Như vậy là Thức của tôi
trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy, như
vậy này các Tỷ-kheo, là không truy tìm quá khứ".
"Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là ước vọng tương lai?". Vị ấy
nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là Sắc của tôi trong tương
lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. "Mong rằng như vậy
sẽ la Thọ của tôi trong tương lai", và truy tìm hân hoan trong
ấy. "Mong rằng như vậy sẽ là Tưởng của tôi trong tương
lai" và truy tìm sự hân hoan trong ấy. "Mong rằng như vậy sẽ
là Hành của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong
ấy. "Mong rằng như vậy sẽ là Thức của tôi trong tương
lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
là ước vọng tương lai. "
"Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là không ước vọng trong tương
lai". Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là Sắc của tôi
trong tương lai", và không truy tìm hân hoan trong ấy. "Mong rằng
như vậy sẽ là Thọ của tôi trong tương lai", và không truy
tìm hân hoan trong ấy. "Mong rằng như vậy sẽ là Tưởng của
tôi trong tương lai", và không truy tìm hân hoan trong ấy. "Mong
rằng như vậy sẽ là Hành của tôi trong tương lai", và không
truy tìm hân hoan trong ấy. "Mong rằng như vậy, sẽ là Thức
của tôi trong tương lai", và không truy tìm hân hoan trong ấy.
Như vậy này các Tỷ-kheo là không ước vọng trong tương lai".
"Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện
tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo có kẻ vô văn phàm phu, không
đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh,
không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân
nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập
pháp các bậc Chân nhân. Vị nầy quán sắc là tự ngã, hay
quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc trong tự ngã, hay quán
tự ngã là trong sắc; quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã
là có thọ, hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã
là trong thọ; quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là
có tưởng, hay quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã
là trong tưởng; quán hành là tự ngã, hay quán tự ngã là
có hành, hay quán hành là trong tự ngã, hay quán tự ngã là
trong hành; quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức,
hay là quán thức trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bị lôi cuốn trong các pháp
hiện tại. "
"Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là không bị lôi cuốn trong các
pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị đa văn Thánh
đệ tử, đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc
Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân,
thuần thục pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc
là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc
trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ...
không quán tưởng... không quán hành... không quán thức là
tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong
tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại".
"Quá
khứ trong truy tìm
Tương
lai không ước vọng.
Quá
khứ đã đoạn tận,
Tương
lai lại chưa đến.
Chỉ
có pháp hiện tại,
Tuệ
quán chính ở đây,
Không
động, không rung chuyển.
Biết
vậy nên tu tập.
Hôm
nay, nhiệt tâm làm,
Ai
biết chết ngày mai,
Không
ai điều đình được,
Với
đại quân thần chết.
Trú
như vậy nhiệt tâm,
Đêm
ngày không mệt mỏi,
Xứng
gọi nhất dạ hiền,
Bậc
an tịnh trầm lặng".
Khi
Ta nói: "Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảm cho các thầy Tổng thuyết
và Biệt thuyết", chính duyên ở đây mà nói như vậy
(Kinh
Nhất dạ hiền giả, Trung Bộ II, 131).
29
KINH
ĐIỀM LÀNH TỐI THƯỢNG
Bài
kinh "Điềm lành tối thượng" nói về nếp sống học pháp
và hành pháp của người Phật tử, một nếp sống thiết
thực, có cân nhắc chọn lựa giữa thiện và bất thiện:
một nếp sống cung kính khiêm tốn, biết làm tròn các bổn
phận; một nếp sống không phóng dật, biết điều phục thân
tâ, hướng đến Thiền định và trí tuệ.
Bài
kinh này (kinh số IV, Phẩm Nhỏ, Kinh Tập) do đức Phật thuyết
giảng cho một vị này đến hỏi Ngài về ý nghĩa của điềm
lành. Sau đây là câu hỏi của vị Thiên nhân:
"Nhiều
thiên nhân và người
Suy
nghĩ đến điềm lành
Mong
ước và chờ đợi
Xin
Ngài hãy nói lên
Về
điềm lành tối thượng".
Như
vậy, điềm lành là niềm mong ước và chờ đợi của tất
cả mọi người. Cả chư Thiên và loài Người đều mong ước
và chờ đợi điềm lành, đúng như lời vị Thiên nhân đã
nói. Nhưng điềm lành ấy là gì? Đó là một nếp sống an
toàn và an lành, đáp ứng lòng tha thiết của mọi người.
Quả vậy, tất cả mọi người chúng ta đều mong ước và
chờ đợi một nếp sống an toàn. Nhưng nếp sống an toàn
sẽ không tự dưng đến với chúng ta nếu không được nuôi
dưỡng và xây dựng tốt cả mọi người chúng ta. Và đó
là lý do vì sao đức Phật giảng dạy kinh Điềm lành của
người Phật tử, mà chúng tôi sẽ lần lượt trình bày sau.
Trước
hết điềm lành thứ nhất là:
"Không
thân cận kẻ ngu
Nhưng
gần gũi bậc trí
Đảnh
lễ người đáng lễ
Là
điềm lành tối thượng".
Điềm
lành tối thượng đầu tiên mà người Phật tử cần nuôi
dưỡng là thái độ chọn lựa giữa kẻ ngu và bậc trí để
giao thiệp, thân cận, người ngu thời xa lánh, bậc trí thời
gần gũi. Đây là thái độ hết sức căn bản nhằm xác định
người nào nên theo, cũng như pháp nào nên theo, pháp nào cần
từ bỏ. Người trí tiêu biểu cho tiếng nói của Chánh pháp,
thiện hạnh, đạo đức, do đó là người nên theo, nên gần
gũi, thân cận. Kẻ ngu tiêu biểu là tà pháp, ác hạnh, phi
đạo đức, do đó cần xa lánh, không nên gần gũi. Đây là
điềm lành thứ nhất mở đường cho nếp sống thiện, nếp
sống thiện, nếp sống bỏ ác làm lành của người Phật
tử.
"Học
nhiều nghề nghiệp giỏi
Khéo
huấn luyện học tập
Nói
những lời khéo nói
Là
điềm lành tối thượng".
Một
điềm lành khác mà người Phật tử cần nuôi dưỡng ấy
là về phương diện học tập và rèn luyện cho thật giỏi.
Để xây dựng cuộc sống hạnh phúc, người Phật tử cần
phải nỗ lực học tập thật nhiều cũng như cần phải nắm
vững tay nghề của mình và không ngừng học hỏi thêm nhiều
kinh nghiệm trong cuộc sống. Học tốt làm tốt rồi, người
Phật tử cũng cần nói lời tốt đẹp nữa. Đó là điềm
lành tối thượng thứ hai vậy.
Điềm
lành tiếp theo đây là:
"Hiếu
dưỡng mẹ và cha
Nuôi
dưỡng vợ và con
Làm
nghề không rắc rối
Là
điềm lành tối thượng".
Đây
là điềm lành nói về trách nhiệm và bổn phận của một
người Phật tử sống tại gia đình, có trách nhiệm chăm
lo đời sống cho vợ con và bổn phận đối với cha mẹ khi
cha mẹ tuổi già. Là người Phật tử thì trách nhiệm và
bổn phận đối với cha mẹ, vợ con là hết sức quan trọng.
Gia đình có hạnh phúc hay không sẽ tùy thuộc vào mỗi thành
viên trong gia đình có làm tốt trách nhiệm và bổn phận của
mình đối với gia đình hay không. Dĩ nhiên, trách nhiệm và
bổn phận sẽ tùy thuộc vào vị trí và vai trò của từng
thành viên trong gia đình mà có sự sai khác. Ở đây vì nhấn
mạnh đến vai trò chủ quản của người Phật tử ở trong
gia đình nên trách nhiệm và bổn phận của vị ấy là chăm
sóc nuôi dưỡng vợ con và phụng dưỡng cha mẹ. Bởi có trách
nhiệm chăm lo đời sống cho cha mẹ vợ con nên người ấy
cần có công ăn việc làm ổn định. Người ấy cần làm
việc với nghề nghiệp hợp pháp, đúng pháp. Vị ấy không
nên vì bất cứ lý do gì mà làm các nghề nghiệp không hợp
pháp khiến gây bất an cho gia đình và làm rối loạn xã hội.
Trong trách nhiệm nuôi dưỡng vợ con thì người Phật tử
không những phải chăm lo đầy đủ các tiện nghi vật chất
cho vợ con, mà còn phải chú ý đến đời sống tinh thần
của vợ con nữa. Người Phật tử cần dành thì giờ để
chăm lo việc giáo dục con cái, hướng dẫn trở thành những
đứa con ngoan, những học trò giỏi. Người ấy cần vui vẻ,
hòa thuận với vợ mình trong mọi công việc và đặc biệt,
cần lắng nghe và tham khảo ý kiến của cha mẹ trong nhiều
trường hợp. Đó là dấu hiệu của điềm lành tối thượng
dành cho những ai khéo cư xử tốt trong các trách nhiệm và
bổn phận đối với gia đình.
Một
điềm lành khác:
"Bố
thí, hành đúng pháp
Săn
sóc các bà con
Làm
nghiệp không lỗi lầm
Là
điềm lành tối thượng".
Ngoài
các quan hệ có tính cách gia đình ra, người Phật tử cũng
cần có những quan hệ khác như quan hệ với bà con thân hữu,
quan hệ với mọi người ở trong xã hội. Ở đây, một điềm
lành khác chờ đợi người Phật tử đó là việc bố thí
đúng pháp và săn sóc các bà con thân thuộc khi những người
này cần đến sự giúp đỡ của mình. Trong trường hợp này,
người
Phật
tử cần có thái độ hoan hỷ và thiệp vì đây là những
quan hệ khá tế nhị. Việc bố thí không những cần đúng
pháp, đúng đối tượng, mà cũng cần đúng lúc, đúng thời
và cần được làm với một tâm tư hoan hỷ, trân trọng.
Tương tự, việc săn sóc, giúp đỡ các bà con cũng cần được
tiến hành với các tinh thần trên thì mới có kết quả tốt
đẹp, lợi mình, lợi người. Mọi việc làm của người Phật
tử cần phải được làm một cách đúng pháp, không lỗi
lầm thì kết quả mới tốt đẹp. Đó là dấu hiệu của
điềm lành tối thượng vậy.
Một
điềm lành khác nữa:
"Chấm
dứt, từ bỏ ác
Chế
ngự đam mê rượu
Trong
pháp, không phóng dật
Là
điềm lành tối thượng".
Đây
là điềm lành nói về sự tu tập cá nhân, không phóng dật
trong cuộc sống, từ bỏ điều ác và chế ngự sự đam mê
cờ bạc, rượu chè. Có thể nói đây là các đức tánh hết
sức căn bản nhằm xây dựng nhân cách tốt đẹp cho người
Phật tử, bởi vì người Phật tử là người luôn luôn gương
mẫu trong nếp sống không phóng dật, nếp sống từ bỏ điều
ác, làm các điều lành và nếp sống không chạy theo rượu
chè, cờ bạc. Không phóng dật tức là không để cho thân,
khẩu, ý tự do hoạt động theo sở thích của mình, mà ngược
lại, cần phải thường xuyên theo dõi và kiểm soát thân,
khẩu, ý, không để chúng rơi vào các hành vi ác, bất thiện.
Chấm dứt hay từ bỏ ác có nghĩa là xa lìa các hành động
ác, bất thiện như sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong
các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời
phù phiếm, tham dục, sân hận, tà kiến. Đây là nếp sống
thông minh, sáng suốt của người Phật tử nhằm xây dựng
hạnh phúc cho cá nhân, gia đình và xã hội. Chế ngự đam
mê rượu chè là nếp sống thông minh, sáng suốt của người
Phật tử. Bởi rượu chè làm cho con người mất đi bản tính
sáng suốt, thiếu tự chủ trong mọi hành động, dẫn đầu
nhiều hậu quả tai hại. Do đó, người Phật tử kiên quyết
không uống rượu hay các chất say tức là đang sống một
đời sống tỉnh táo, sáng suốt, có thể nhìn rõ mọi sự
bằng cặp mắt bình thường của mình, chớ không phải bằng
con mắt quờ quạng, bệnh hoạn. Vì cuộc sống vốn đã quay
cuồng rồi, cần phải tỉnh táo sáng suốt hơn, chớ không
nên góp phần làm cho thêm quay cuồng nữa!
Tiếp
theo là điềm lành nói về thái độ nghe pháp, thái độ cung
kính khiêm tốn và thái độ cung kính khiêm tốn và thái độ
biết đủ, biết ơn của người Phật tử:
"Kính
lễ và hạ mình
Biết
đủ và biết ơn
Đúng
thời nghe Chánh pháp
Là
điềm lành tối thượng".
Là
người Phật tử thì việc học pháp, nghe pháp hết sức cần
thiết để nuôi dưỡng tuệ đức cho cá nhân và đóng góp
tiếng nói trí tuệ cho con người và cuộc đời. Bởi trí
tuệ là sự nghiệp lớn, giải thoát con người và cuộc đời
khỏi mọi sai lầm, tối tăm do lòng dục, lòng sân và lòng
si gây nên. Vì việc nghe pháp nhắm pháp triển trí tuệ nên
rất quan trọng đối với người Phật tử; có nghe pháp và
hành pháp thì trí tuệ mới phát sinh. Thiếu hoặc không nghe
pháp, giống như người đi trong đêm tối rất khó định hướng,
lối đi của mình. Đạo Phật đề cao trí tuệ, xem trí tuệ
là ngọn đèn soi sáng hướng đi giải thoát của người Phật
tử, giống như ngọn hải đăng luôn soi tỏ hướng đi của
các con tàu vậy. Ngoài việc nghe pháp, phát triển trí tuệ,
người Phật tử cần nuôi dưỡng thêm các đức tính như
lòng cung kính khiêm tốn, thái độ biết đủ, biết ơn đối
với cuộc đời vậy. Đây là các đức tính đặc biệt của
người Phật tử, bởi sự khiêm cung luôn là sức mạnh chinh
phục mọi kiêu căng, ngã mạn của con người, thái độ biết
ơn là lòng thủy chung cao đẹp; và mọi cám dỗ của tham dục.
Cuộc sống đang ra sức cám dỗ con người bằng nhiều hình
thức hấp dẫn và phương tiện tinh vi, nếu không nhận ra
sự thật của lòng dục (nghĩa là vị ngọt, sự nguy hiểm,
sự xuất ly của các dục) thì con người khó lòng thoát khỏi
sự chi phối của lòng dục. Vì các dục vui ít, khổ nhiều,
não nhiều, sự nguy hại càng nhiều. Do đó thái độ sống
biết đủ của người Phật tử đối với các nhu cầu cuộc
sống chính là mũi tên phá vỡ mọi ràng buộc cám dỗ của
tham dục đang nô lệ hóa con người vậy.
Các
đức tính khác như nhẫn nhục, nói lời hòa nhã, yết kiến
các Sa môn, và bàn luận chánh pháp cũng là điềm lành cần
được nuôi dưỡng của người Phật tử:
"Nhẫn
nhục lời hòa nhã
Yết
kiến các Sa môn
Đúng
thời, bàn luận pháp
Là
điềm lành tối thượng".
Các
đức tính này tỏ cho thấy người Phật tử là người có
hành trì pháp và tôn trọng pháp. Bởi có hành trì pháp, tôn
trọng pháp, người Phật tử mới có các đức tính nói trên.
Thái độ nhẫn nhục là thái độ của người Phật tử biết
kham nhẫn mọi phiền toái của cuộc đời không để cho cuộc
đời lung lạc bởi sự khen chê, tốt xấu. Với sự nhẫn
nhục đúng pháp, người Phật tử nhìn cuộc đời một cách
an nhiên tự tại, không vui khi được khen, không buồn khi bị
chê. Vị ấy đón nhận mọi việc với lòng thanh thản, thản
nhiên. Người Phật tử cũng là người khéo nói với lời
từ tốn, hòa nhã vì "Lời nói không mất tiền mua". Vậy vì
sao không tìm lời tao nhã để nói với nhau? Một lời nói
tao nhã, lịch sự không những để gây cảm tình với người
khác mà còn khiến cho nhân cách người nói được nâng cao.
"Yết kiến các Sa môn và bàn luận chánh pháp": Vì các Sa-môn
là những vị sống tùy thuận pháp và hành trì pháp. Do vậy,
yết kiến Sa-môn, bàn luận chánh pháp với các Sa-môn, là
điềm lành tối thượng của người Phật tử có học pháp
và hành pháp vậy.
Điềm
lành tiếp theo là:
"Khắc
khổ và Phạm hạnh
Thấy
được lý Thánh đế
Giác
ngộ quả Niết-bàn
Là
điềm lành tối thượng".
Ðây
là điềm lành đòi hỏi nhiều thực hành, thực sâu của người
Phật tử trong giáo pháp giải thoát của đức Phật. Các việc
như sống Phạm hạnh kham khổ, thấy lý Thánh đế, giác ngộ
quả Niết-bàn là những việc khó làm, nhưng đó cũng là các
mục tiêu cần hướng đến của người Phật tử, Phạm hạnh
là nếp sống chuyên sâu vào việc thực hành Giới Ðịnh Tuệ,
là nếp sống thanh tịnh về giới đức, từ bỏ hay xa lìa
các dục, các ác pháp, bất thiện pháp để đi vào Thiền
chứng; còn sự phát triển trí tuệ giải thoát nhằm đoạn
trừ các phiền não, lậu hoặc, chấm dứt sinh tử khổ đau.
Thấy lý Thánh đế tức là thấy rõ về bốn chân lý: khổ,
khổ đoạn diệt, và con đường đưa đến khổ diệt. Thấy
rằng sanh, già, bệnh, chết là khổ; sự có mặt của thân
ngũ uẩn là khổ, thấy rõ ái là nguyên nhân đưa đến sự
khổ đau tập khởi, thấy rõ ái diệt là khổ diệt, thấy
rõ Bát Chánh Ðạo là con đường đưa đến đoạn diệt khổ
đau. Giác ngộ quả Niết-bàn tức là giác ngộ quả vị tối
thượng Bồ-đề của chư Phật. Rõ ràng người Phật tử
sống tại gia khó hoàn thành trọn vẹn đời sống Phạm hạnh
với các sở hành, sở chứng nói trên. Tuy nhiên, đây là các
mục tiêu mà người Phật tử cần nhắm đến, nhất là việc
giữ gìn các giới đức (ngũ giới, thập thiện giới), và
hành Thiền là hết sức cần thiết cho cuộc sống hằng ngày
của người Phật tử.
Một
điềm lành khác nữa chứng tỏ nếp sống có hành trì Thiền
định của người Phật tử:
"Khi
xúc chạm việc đời
Tâm
không động, không sầu
Không
uế nhiễm, an ổn
Là
điềm lành tối thượng."
Thiền
là nếp sống điều hòa thân tâm dựa trên pháp môn Anàpànasati
(quán hiệm hơi thở) của đức Phật. Thiền bắt đầu bằng
việc xa lìa các dục, các ác pháp, bất thiện để tập trung
năng lực vào việc theo dõi và giác tỉnh về các đối tượng.
Có hai đối tượng chính đề bạt trong Thiền là niệm hơi
thở ra vào và giác quán 16 đề tài về thân thọ, tâm và
pháp. Cốt yếu của Thiền dẫn đến sự an tịnh của thân
tâm, khi thân tâm đã tịnh thì hành giả sẽ tập trung niệm
vào 16 đề tài Thiền quán để tiếp tục nuôi dưỡng niệm
và để phát triển trí tuệ về sự sanh diệt của các pháp;
nhằm cắt đứt tâm tham ái - chấp thủ. Dĩ nhiên, Thiền là
pháp môn đơn giản nhưng không dễ làm, bởi Thiền đòi hỏi
sự nỗ lực kiên trì thường xuyên của người thực hành.
Người Phật tử chúng ta nên xem Thiền là pháp môn căn bản
cho sự tu tập của mình. Ðặc biệt là cần phải áp dụng
Thiền vào đời sống hằng ngày như là một sinh hoạt thường
nhật. Ban đầu tuy khó khăn nhưng hãy tập, tập nhiều lần
rồi mọi khó khăn sẽ qua đi, cho đến lúc chúng ta nhận ra
Thiền là sinh hoạt không thể thiếu trong đời sống hàng
ngày của chúng ta. Nhờ có Thiền, khi xúc chạm với mọi việc
ở đời, tâm tư người Phật tử sẽ không bị khuấy động,
không sầu muộn, không bị uế nhiễm và hoàn toàn được
an ổn. Đó là điềm lành tối thượng của sự thực hành
Thiền định mà người Phật tử đạt được trong giáo lý
cùa đức Phật.
Điềm
lành sau cùng, tóm tắt toàn bộ các điềm lành như đã trình
bày:
"Làm
sự việc như vậy
Không
chỗ nào thất bại
Khắp
nơi được an toàn
Là
điềm lành tối thượng".
Tóm
lại, Kinh "Điềm lành tối thượng" trên đây được trình
bày như là nếp sống thiện, nếp sống bỏ ác làm lành của
người Phật tử. Đây là điều mong mỏi của chúng tôi khi
trình bày với quý vị bài kinh này. Mong rằng quý vị Phật
tử chúng ta hãy yên tâm tin tưởng nhiều hơn về nếp sống
thiện, nếp sống bỏ ác làm lành của mình. Bởi vì, khi chúng
ta làm lành thì không những tự thân chúng ta được hạnh
phúc an lạc mà ngay cả người khác cũng được hạnh phú
an lạc nhờ những ảnh hưởng bởi nếp sống làm lành của
chúng ta. Một người sống làm lành, một gia đình được
hạnh phúc an lạc. Một gia đình sống làm lành, một khu phố
được thêm bình yên, loại bỏ các tệ nạn xã hội. Một
thành phố trông chờ các khu phố bình yên. Nhưng tất cả
sẽ tùy thuộc vào nếp sống làm lành của mỗi người chúng
ta.
Chúng
ta làm lành đồng thời khuyên người khác cũng làm lành. Có
làm thời có kết quả. Nếp sống làm lành của người Phật
tử chúng ta được ví như bông hoa tươi đẹp, vừa có sắc
lại vừa có hương, hân hoan, thích thú như đức Phật từng
dạy:
"Như
bông hoa tươi đẹp
Có
sắc lại thêm hương
Cũng
vậy lời khéo nói
Có
làm có kết quả". (Kinh Pháp cú)
Bông
hoa tươi đẹp dự báo một hương sắc tinh khiết đối với
người trồng hoa cần mẫn. Cũng vậy, điềm lành tối thượng
của Phật tử dự báo một nếp sống hạnh phúc an lạc đối
với người Phật tử chuyên tâm học pháp và hành pháp. Mọi
khả năng đều nằm sẵn trong bàn tay của chúng ta, trông chờ
sự quyết tâm, nỗ lực thực hành của mỗi người chúng
ta. Đã qua rồi các thời đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi
hạnh phúc là gì và đạo đức là gì? Ngày nay, không nghi
ngờ gì nữa, chúng ta đã hiểu rõ hạnh phúc không thể trông
chờ người khác và đạo đức không chỉ là sự cổ vũ,
đề cao các giá trị nhân bản trên sách báo, hoặc trong các
bài diễn văn mang tính chuyên đề. Cuộc sống hiện đại
không cần thêm lượng tri thức về hạnh phúc và đạo đức.
Cuộc sống hiện đại trông đợi nhiều những biểu hiện
của đạo đức và hạnh phúc nơi mỗi con người, mỗi gia
đình, mỗi xã hội.