21-
NĂM
HẠ PHẦN KIẾT SỬ
HAY
ĐẠI KINH MALUNKYAPUTTA
Năm
hạ phần kiết sử (Olambhàgiyàsam-yoyanà) -- thân kiến, nghi,
giới cấm thủ, tham dục và sân -- là những kiết sử trói
buộc con người vào sanh tử luân hồi. Có thoát ly khỏi các
hạ phần kiết sử, mới mong đạt được Thánh quả.
Thế
Tôn hỏi các Tỷ-kheo có ai thọ trì năm hạ phần kiết sử
này thời Tôn giả Màlunkyaputta đáp là có thọ trì năm pháp
này nhưng bị ngoại đạo dùng ví dụ đứa con nít ngây thơ
đang nằm ngửa, không có tự thân, thời đâu có thân kiến;
không biết đến các pháp, thời từ đâu có thể khởi lên
các nghi hoặc đối với các pháp; không có giới, thời từ
đâu có thể khởi lên giới cấm thủ trong các giới; không
có dục vọng, thời từ đâu nó có thể khởi lên tham dục
trong các dục; nếu đứa con nít nằm ngửa không có biết
các loài hữu tình, thời từ đâu nó có thể khởi lên lòng
sân?
Đứng
trước những lời chỉ trích như vậy, đức Phật dạy cách
trả lời là đứa con nít nằm ngửa, tuy không có thân kiến
hiện hành, nhưng thật sự thân kiến sống tiềm tàng trong
nó. Tuy không có nghi hoặc khởi lên, nhưng nghi hoặc tùy miên
sống tiềm tàng trong nó. Tuy không có giới, nhưng giới cấm
thủ tùy miên sống tiềm tàng trong nó. Tuy không có tham dục,
nhưng tham dục tùy miên sống tiềm tàng trong nó. Tuy không
có các loài hữu tình, nhưng sân tùy miên sống tiềm tàng
trong nó.
Theo
lời yêu cầu của Tôn giả A Nan, Thế Tôn bắt đầu giảng
về năm hạ phần kiết sử.
Trước
hết là hạng vô văn phàm phu không yết kiến các bậc Thánh
và các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Thánh
và các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Thánh và
các bậc Chân nhân, sống với thân bị thân kiến triền phược,
bị thân kiến chi phối, không như thật tuệ tri sự xuất
ly ra khỏi thân kiến đã khởi lên. Do vậy thân kiến của
vị này kiên cố, không được nhiếp nhục, trở thành một
hạ phần kiết sử. Cũng vậy đối với nghi hoặc, đối với
giới cấm thủ, đối với tham dục, đối với sân, năm hạ
phần kiết sử của vị này trở thành kiên cố, không được
nhiếp phục, trở thành hạ phần kiết sử.
Trái
lại đối với các bậc Đa văn Thánh đệ tử, vị này đến
yết kiến các bậc Thánh, các bậc Chân nhân, thuần phục
pháp các bậc Thánh, các bậc Chân nhân, tu tập pháp của bậc
Thánh, của bậc Chân nhân, không bị năm hạ phần kiết sử
chi phối, không bị năm hạ phần kiết sử triền phược.
Vị này như thật tuệ tri sự xuất ly các hạ phần kiết
sử khởi lên. Nhờ vậy năm hạ phần kiết sử với các tùy
miên được trừ.
Tiếp
đến đức Phật giải thích con đường đưa đến sự đoạn
trừ năm hạ phần kiết sử. Con đường ấy cần phải thực
hành mới mong biết rõ, thấy rõ, và đoạn trừ đuợc năm
hạ phần kiết sử. Như một cây lớn đứng thẳng với lõi
cây. Nếu người không đẽo vỏ trong, không đẽo giác cây,
vẫn có thể đẽo được lõi cây; sự tình như vậy không
xảy ra. Cũng vậy lộ trình nào, con đường nào đưa đến
sự đoạn trừ năm phần hạ kiết sử, nếu không thực hành
con đường ấy, thời không có hy vọng được thấy rõ, được
hiểu rõ hay được đoạn diệt; sự tình như vậy không xảy
ra. Và con đường nào, lộ trình nào đưa đến đoạn trừ
năm phần hạ kiết sử, nếu thực hành con đường ấy, thời
năm hạ phần kiết sử được biết rõ, được thấy rõ,
hay được đoạn diệt; sự tình như vậy có xảy ra.
Rồi
đức Phật dùng hai ví dụ để nêu rõ sự cần thiết phải
thực hành lộ trình ấy, con đường ấy. Ví như đối với
một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy sau khi
đẽo vỏ trong, sau khi đẽo giác cây, sẽ đẽo được lõi
cây; sự tình này xảy ra. Ví như sông Hằng nước đầy tràn,
con quạ có thể uống được. Rồi một người ốm yếu đi
đến và nghĩ như sau: "Sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng,
với tay của ta, ta đến được bờ bên kia an toàn". Nhưng
người ấy không thể lội cắt ngang sông Hằng. Cũng vậy
bất cứ ai, khi được nghe giảng pháp để đoạn trừ năm
hạ phần kiết sử, nếu tâm của vị ấy không phấn khởi,
không tịnh tín, không có an trú, không có hướng đến, thời
vị ấy cần phải được xem giống như người ốm yếu kia.
Ví như sông Hằng, nước đầy tràn con quạ có thể uống
được. Rồi một người lực sĩ đi đến và quyết định
với tay của mình, lội cắt ngang sông Hằng và đến được
bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy bất cứ ai, khi được
giảng pháp để đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu tâm
của vị ấy phấn khởi, tịnh tín, an trú và hướng đến
thời vị ấy được xem là giống như nhà lực sĩ kia, có
khả năng đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.
Rồi
đức Phật trình bày lộ trình đưa đến đoạn năm hạ phần
kiết sử.
Ở
đây, vị Tỷ-kheo do viễn ly các sanh y (upadhi), do đoạn trừ
các pháp bất thiện, do làm cho an tịnh thân thể ác hạnh
một cách toàn diện, vị này ly dục, ly bất thiện pháp, chứng
và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục
sanh, có tầm có tứ. Vị này chánh quán mọi sắc pháp, mọi
thọ pháp, mọi tưởng pháp, mọi hành pháp, mọi thức pháp
là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên,
như điều bất hạnh, như bịnh chướng, như kẻ địch, như
phá hoại, là không, là vô ngã...Vị này giải thoát tâm khỏi
các pháp ấy (tức năm hạ phần kiết sử). Sau khi giải thoát
tâm khỏi các pháp ấy, vị ấy tập trung vào bất tử giới
(amata dhàtu) và nghĩ rằng: "Đây là tịch tịnh, đây là vi
diệu, đây là an chỉ tất cả hành, sự xả ly tất cả sanh
y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn". Nếu an trú vững
chắc ở đây, vị này đạt đến sự đoạn diệt các lậu
hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự đoạn diệt các lậu
hoặc, thời do tham pháp và hỷ pháp của mình, do sự đoạn
tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, nhập
Niết-bàn ở đấy, không phải trở lui đời này nữa. Đây
là lộ trình, đây là con đường đưa đến đoạn tận năm
hạ phần kiết sử.
Cũng
vậy vị Tỷ-kheo diệt tầm diệt tứ, chứng và trú Thiền
thứ hai... chứng và trú Thiền thứ ba,... chứng và trú Thiền
thứ tư. Vượt lên mọi sắc tưởng, chứng và trú Không vô
biên xứ, ... chứng và trú Thức vô biên xứ, ... chứng và
trú Vô sở hữu xứ. Vị này chánh quán mọi sắc pháp, mọi
thọ pháp, mọi tưởng pháp, mọi hành pháp, mọi thức pháp
là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên,
như điều bất hạnh, như bệnh chứng, như kẻ địch, như
phá hoại, là không, là vô ngã. Vị này giải thoát tâm khỏi
các pháp ấy. Vị ấy tập trung tâm vào bất tử giới, và
nghĩ rằng: "Đây là tịnh tịnh, đây là vi diệu, tức là
sự an chỉ tất cả hành, sự xả ly tất cả sanh y, sự ái
diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn". Nếu an trú vững chắc
ở đây, vị ấy đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc.
Nếu vị ấy không đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc,
thời do sự tham pháp và sự hỷ pháp của mình, do sự đoạn
tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, nhập
Niết-bàn ở đấy, không phải trở lui đời này nữa. Đây
là lộ trình, đây là con đường đưa đến đoạn tận năm
hạ phần kiết sử.
Cuối
cùng, Tôn giả A-nam hỏi đức Phật rằng đây là con đường
đưa đến sự đoạn trừ các năm hạ phần kiết sử, thời
do hành trì như thế nào mà một số Tỷ-kheo chứng tâm giải
thoát, một số chứng tuệ giải thoát. Thế Tôn trả lời
là do sự khác về căn tính.
22
NĂM
UẨN TRONG KINH XÀ DỤ
Trong
Kinh Trung Bộ, có nhiều kinh đề cập đến năm uẩn như Đại
Kinh Mãn Nguyệt (Số 9, Trung Bộ Kinh), cũng rất quan trọng
không kém. Nhưng nay, chỉ lựa Kinh Xà Dụ, vì muốn nhấn mạnh
những tai hại do chấp năm thủ uẩn là tự ngã và đường
hướng giải thoát là sự thoát ly khỏi sự chấp thủ năm
thủ uẩn.
Như
chúng ta đã biết, nói đến năm thủ uẩn là nói đến con
người của chúng ta, gồm có sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng
uẩn, hành uẩn, thức uẩn, cũng có khi được phân tích thành
sáu giới, tức là địa giới, thủy giới, phong giới, không
giới và thức giới. Dùng danh từ "thủ uẩn" hàm nghĩa sự
tập họp tác thành con người của chúng ta, và sự tập họp
chỉ có thể tác thành, nhờ sự nắm giữ, chấp thủ.
Trong
Kinh Xà Dụ, đức Phật đề cập đến sáu kiến xứ, chớ
không phải là năm. Chấp thủ năm uẩn sắc, thọ, tưởng,
hành, thức là của ta, là ta, là tự ngã của ta. Ngoài năm
kiến xứ ấy, những ai khởi lên tư kiến "Đây là thế giới,
đây là tự ngã, sau khi chết, ta sẽ sống, thường hằng,
thường tại, sống như vậy mãi mãi không có biến hoại"
Đây là kiến xứ thứ sáu, lập thành sáu kiến xứ, xem như
vầy: "Cái này là của ta, cái này là ta, cái này tự ngã của
ta". Đây là thái độ của các vô văn phàm phù, không yết
kiến các bậc Thánh, các bậc chân nhân, cho nên chấp sáu
kiến xứ này là tự ngã và do vậy, chịu đựng bao nhiêu
phiền lao nhiệt não. Trái lại, các hàng đa văn Thánh đệ
tử, thường yết kiến các bậc thánh, các bậc chân nhân,
tu tập pháp các bậc Thánh, các bậc chân nhân, không chấp
thủ sáu kiến xứ này là tự ngã, và như vậy thoát ly các
lo âu phiền muộn.
Đến
đây, Thế Tôn trả lời các câu hỏi của vị Tỷ-kheo, hỏi
rằng có thể có cái không thực có ở ngoài có thể gây ra
phiền mụôn. Thế Tôn đáp có. Nếu có người suy nghĩ như
sau: "Cái này chắc chắn đã là của tôi nay chắc chắn không
còn là của tôi nữa. Cái gì chắc chắn có thể là của tôi
chắc chắn tôi không được cái ấy, Suy nghĩ như vậy, vị
ấy sầu muộn, than vãn, đập ngực, đi đến bất tỉnh. Như
vậy có cái không thực có ở ngoài, có thể gây ra lo âu phiền
muộn".
Vị
Tỷ-kheo hỏi tiếp: "Có cái không thực có ở ngoài mà không
gây ra lo âu phiền muộn?" Thế Tôn đáp: "Có cái không thực
có ở ngoài mà không gây ra lo âu phiền muộn. Ở đây có
người không suy nghĩ như sau: 'Cái này chắc chắn đã là của
tôi, nay chắc chắn không còn là của tôi. Cái gì chắc chắn
có thể là của tôi, chắc chắn tôi không được cái ấy'.
Do không suy nghĩ như vậy, nên người ấy không sầu muộn
than vãn, khóc lóc, đập ngực đi đến bất tỉnh. Như vậy,
có cái không thực có ở ngoài, mà không gây ra lo âu phiền
muộn".
Vị
Tỷ-kheo hỏi tiếp: "Có cái gì không thực có ở trong, có
thể gây ra lo âu phiền muộn?" Thế Tôn đáp: "Có thể có.
Ở đây, có người có tà kiến: 'Đây là thế giới, đây
là tự ngã. Sau khi chết, ta sẽ thường còn, thường hằng,
thường trú, không biến chuyển'. Khi được nghe Thế Tôn hay
đệ tử Thế Tôn thuyết pháp để để bạt trừ tất cả
kiến xứ, cố chấp, thiên kiến, tùy miên, làm tịnh chỉ
tất cả hành, từ bỏ các sanh y, diệt trừ tham ái, đưa đến
ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn; thời người ấy suy nghĩ: 'Chắc
chắn ta sẽ bị đoạn diệt, sẽ bị hoại diệt, sẽ không
tồn tại'". Như vậy vị ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc,
đập ngực đi đến bất tỉnh. Như vậy có cái không thật
có ở trong, nhưng có thể gây ra lo âu phiền muộn. Nếu người
ấy không có tà kiến nghĩ rằng sau khi chết sẽ tồn tại,
mãi mãi, không biến hoại, thì dầu có nghe Thế Tôn hay đệ
tử Thế Tôn có thuyết pháp để bạt trừ khát ái, thời
vị ấy không có nghĩ sau khi ta chết ta sẽ bị đoạn diệt,
sẽ bị hoại diệt. Do không suy nghĩ như vậy, nên vị ấy
không sầu muộn, than vãn, than khóc, đập ngực đi đến bất
tỉnh. Như vậy là có cái không thực có ở bên trong không
gây nên sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực đi đến
bất tỉnh..."
Như
vậy, chúng ta có thể nói, nhờ không rơi vào sáu kiến xứ,
không chấp nhận các kiến xứ là của ta, là ta, tự ngã của
ta, nên chận đứng được các phiền lao nhiệt não, khiến
chúng khôgn khởi lên.
Tiếp
đến, đức Phật trình bày rất rõ ràng, phàm sở hữu gì
được nắm giữ, sở hữu ấy không thể thường còn, thường
hằng mãi mãi mà phải hoại diệt. Như vậy mọi tà kiến
chấp sáu kiến xứ là của ta, là ta, là tự ngã của ta, là
nguồn gốc của mọi đau khổ, sầu muộn than vãn. Tiếp đến,
đức Phật xác nhận với các Tỷ-kheo, phàm có ngã luận thủ
gì, nếu chấp thủ ngã luận thủ ấy, thời khởi lên sầu
bi khổ ưu não. Phàm y chỉ kiến y gì, thời cũng khởi lên
sầu bi khổ não. Hơn nữa, thật là ngu si ám độn, khi đã
thấy ngã và ngã sở thuộc đều không thể chấp nhận là
thường còn, thường hằng, mà còn chấp kiến xứ. "Đây là
thế giới, đây là tự ngã. Sau khi chết, ta sẽ sống thường
hằng, thường tồn." Thật là tối thượng ngu si mới chấp
các kiến xứ tự ngã.
Không
những chấp sáu kiến xứ là ngu si và là nguồn gốc phát
sinh đau khổ vô lượng vô biên; và vì muốn cho chúng sinh
thoát khỏi mê hồn trận này, đức Phật dạy, cần phải
chánh quán năm thủ uẩn là vô thường, là khổ... cái này
không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã
của tôi. Và cuối cùng đức Phật trải rộng thuyết vô ngã
đối với toàn thể sự vật như sau: "này các Tỷ-kheo, bất
cứ sắc pháp nào... bất cứ cảm thọ nào... bất cứ tưởng
nào... bất cứ hành nào... bất cứ thức nào quá khứ, vị
lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng,
xa hay gần, tất cả thức là: "Cái này không phải của ta,
cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của
ta".
Đến
đây, Thế Tôn khuyên các vị Tỷ-kheo: "Nên từ bỏ cái gì
không phải của ta, từ bỏ như vậy sẽ đưa lại hạnh phúc
an lạc lâu dài cho các ngươi. Sắc không phải của các ngươi,...
Thọ không phải của các ngươi,... Tưởng không phải của
các ngươi,... Hành không phải của các ngươi,... Thức không
phải của các ngươi. Hãy từ bỏ năm thù uẩn. Từ bỏ năm
thù uẩn sẽ đưa lại hạnh phúc cho các ngươi. Như trong rừng
Jetavana này, nếu có người thâu lượm cỏ lá cành cây lại
rồi đốt chúng. Làm như vậy, không phải thâu lượm chúng
ta và đốt chúng ta. Vì sao vậy? Vì chúng ta không phải tự
ngã hay không phải sở thuộc của ngã. Cũng vậy, cái gì không
phải của các ngươi, hãy từ bỏ chúng. Năm uẩn thủ không
phải của các ngươi. Hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng sẽ
đem lại hạnh phúc an lạc cho các ngươi".
Cần
phải như thật quán với chánh trí tuệ. Và chính nhờ chánh
quán như vậy, vị Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc,
nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm
chán đối với hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán
nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải
thoát có trí khởi lên biết được đã giải thoát. "Sanh đã
tận. Phạm hành đã thành. Những gì nên làm đã làm. Không
còn trở lui tại đây với một đời sống khác".
(Trung
Bộ I, số 22)
23
KINH
SÁU SÁU
Đây
là một kinh được xem là rất đặc biệt, vì sau khi đức
Phật thuyết pháp kinh này, có 60 vị Tỷ-kheo được chứng
quả A-la-hán.
Như
thường lệ, đức Phật tổng thuyết phân biệt 36 pháp cần
phải được hiểu biết, tức là sáu nội xứ, sáu ngoại
xứ, sáu thức thân, sáu xúc thân, sáu thọ thân và sáu ái
thân cần phải được biết.
Rồi
đức Phật biệt thuyết 36 pháp này là gì:
- 6
nội xứ là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.
-
6 ngoại xứ là sắc, tiếng, hương, vị, xúc và pháp.
-
6 thức thân là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức,
thân thức và ý thức.
-
6 xúc thân là nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân
xúc và ý xúc.
-
6 thọ thân là thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ
do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh,
thọ do ý xúc sanh.
-
6 ái thân là ái do nhãn xúc sanh, ái do nhĩ xúc sanh, ái do tỷ
xúc sanh, ái do thiệt xúc sanh, ái do thân xúc sanh, ái do ý
xúc sanh.
Như
vậy có tất cả là 36 pháp, rồi đức Phật giải thích 36
pháp ấy là vô ngã, không thể xem là tự ngã, vì 36 pháp này
có sanh, có diệt. Nếu nói 36 pháp này là tự ngã thời xác
nhận tự ngã có sanh có diệt là một điều không hợp lý.
Và như vậy phải đi đến kết luận 36 pháp này là vô ngã.
Tiếp đến, đức Phật trình bày con đường đưa đến sự
tập khởi của thân kiến (sakkàyaditti). Đối với ai quán
36 pháp này là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi, thời
như vậy là sự tập khởi của thân kiến. Trái lại, những
ai quán 36 pháp này không của tôi, không phải là tôi, không
phải tự ngã của tôi, thời như vậy là sự đoạn diệt
của thân kiến.
Đến
đây, đức Phật mới hướng dẫn con đường đưa đến giải
thoát và giác ngộ.
Trước
hết, đức Phật lấy ví dụ con mắt (nội xứ) duyên với
các sắc (ngoại xứ), khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của
ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ
thọ, bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm giác lạc thọ,
khởi lên hoan hỷ tán thán, lạc ấy xâm nhập tâm và an trú.
Do vậy tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy cảm giác
khổ thọ, sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào
bất tỉnh. Sân tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy cảm
giác bất khổ bất lạc thọ, không như thật tuệ tri sự
tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự
xuất ly khỏi cảm thọ ấy. Do vậy vô minh tùy miên của vị
ấy tùy tăng. Chính vì do không đoạn tận tham tùy miên, đối
với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ
thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ
bất lạc thọ. Không đoạn tận vô minh, không làm cho minh
khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt
đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra. Tiến trình tương
tự như vậy sẽ xảy ra đối với năm căn và năm trần còn
lại, tức là tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân
và xúc, ý và các pháp.
Chính
tại nơi đây, đức Phật chỉ rõ con đường đưa đến đoạn
tận khổ đau, được giải thoát và giác ngộ. Do duyên mắt,
do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba
pháp này là xúc. Do duyên xúc khởi lên lạc thọ, khổ thọ,
bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ, không
hoan hỷ tán thán, không để lạc ấy xâm nhập tâm và an trú.
Do vậy tham tùy miên không có tùy tăng. Vị ấy cảm giác khổ
thọ, không sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, đi đến
bất tỉnh. Sân tùy miên của vị ấy không có tùy tăng. Vị
ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, như thật biết sự
tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự
xuất ly ra khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy
không có tùy tăng. Chính do đoạn tận tùy miên, chính do nhổ
lên vô minh tùy miên, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi
lên, có thể ngay trong hiện tại là chấm dứt khổ đau, sự
kiện như vậy có xảy ra. Tiến trình giải thoát như vậy
cũng đến với các nội xứ và ngoại xứ khác.
Giảng
đến đây, đức Phật mới trực tiếp khuyên các vị Tỷ-kheo
là những vị Thánh đệ tử, nhàm chán mắt, nhàm chán sắc,
nhàm chán nhãn thức, nhàm chán xúc, nhàm chán thọ, nhàm chán
ái; cũng vậy đối với năm nội xứ và ngoại xứ khác. Nhờ
nhàm chán ái nên ly tham; nhờ ly tham nên giải thoát. Trong sự
giải thoát vị ấy tụê tri: "Sanh đã tận. Phạm hạnh đã
thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng
thái này nữa".
Như
đã nói ở trên, kinh này kết thúc với 60 vị Tỷ-kheo chứng
ngay quả A-la-hán.
Một
vài nhận xét:
Chúng
ta nhận thấy từ trong bản kinh quý giá này là trước tiên
người Đa văn Thánh đệ tử phải nghe nhiều và hiểu biết
sự sanh khởi và sự đoạn diệt của các pháp, và các pháp
đây liên hệ đến thế giới con người và thế giới con
người đang sống. Ở đây, đức Phật đã khéo léo tán thán
các pháp ấy trong 36 pháp được đề cập đến trong kinh này.
Và việc đầu tiên của vị Thánh đệ tử là phải quan sát
36 pháp ấy là vô ngã. Quán các pháp là vô ngã mới thấy
sự sanh khởi thân kiến (sakkàyaditthi) là do chấp 36 pháp này
là "Của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi". Và muốn tiến
bước vào con đường tu hành đi đến giải thoát và giác
ngộ, đưa đến sự đoạn diệt thân kiến là phải quán 36
pháp này là "Cái này không phải của tôi, cái này không phải
là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Chỉ có khi
đoạn trừ được thân kiến rồi, người tu hành mới thật
sự tiến dần đến đích giác ngộ và giải thoát.
Vị
Tỷ-kheo thấy được 36 pháp là không phải tự ngã, là vô
ngã, nên sanh nhàm chán đối với 36 pháp; do nhàm chán nên
ly tham; do ly tham vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát,
vị ấy tuệ tri được rằng Ta đã giải thoát. Vị ấy tuệ
tri: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm
đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa".
(Trung
Bộ Kinh III, Kinh số 148, tr, 522.)
24
KINH
TỔNG THUYẾT VÀ BIỆT THUYẾT
Kinh
này đáng chú ý vì đề cập đến một lời dạy của đức
Phật, trong ấy tóm thâu gọn ghẽ tiến trình tu tập của
một người xuất gia đưa đến thánh quả. Kinh này cũng giới
thiệu một phương pháp đức Phật hay thường dùng để thuyết
pháp. Phần đầu gọi là tổng thuyết (Uddesa) tóm thâu tất
cả một vài câu súc tích, rồi phân tích giải thích rộng
ra (Vibhanga). Có khi đức Phật chỉ nói lên phần tổng thuyết,
rồi để một Đại đệ tử của mình phân tích phần biệt
thuyết. Như trong kinh này, chính Ngài Mahà Kàccana (Đại Ca
Chiên Diên) giải thích phần biệt thuyết rồi được đức
Phật xác chứng là đúng với Chánh pháp. Có khi đức Phật
giải thích cả phần tổng thuyết và biệt thuyết, nhờ vậy
bài kinh được trình bày gọn ghẽ và súc tích hơn. Một điều
đáng chú ý nữa là kinh này diễn tả tiến trình giải thoát
và dùng một số danh từ chuyên môn có thể ghi chép sai lạc,
cả tiếng Pàli và chữ Hán, bắt buộc chúng ta phải suy nghĩ
và lựa chọn. Chính nhờ phải suy nghĩ và lựa chọn, chúng
ta có khả năng tiến gần đến chính xác hơn.
Lời
tổng thuyết của đức Phật dạy trong kinh này như sau:
"Này
cácTỷ-kheo, vị Tỷ-kheo cần phải quán sát một cách như
thế nào để thức của vị ấy đối với ngoại trần không
tán loạn, không tản rộng, tâm không trú trước nội trần,
không bị chấp thủ quấy rối (khủng bố: anupàdàya na parttas-seyya)?
Này các Tỷ-kheo, nếu thức đối với ngoại trần không tán
loạn, không tản rộng, tâm không trú trước nội trần không
tán loạn, không tản rộng, tâm không trú trước nội trần,
không bị chấp thủ quấy rối (khủng bố), thời sẽ không
có tập khởi, sanh khởi của khổ về sanh già bệnh chết
trong tương lai".
Lời
tổng thuyết này được Tôn giả Mahà Kaccàna phân tích như
sau:
"Sao
gọi là thức đối với ngoại trần bị tán loạn, bị tản
rộng? Ở đây, khi vị Tỷ-kheo thấy sắc với con mắt, thức
truy cầu sắc tướng, bị trói buộc bởi vị của sắc tướng,
bị cột chặt bởi vị của sắc tướng, bị triền phược
bởi kiết sử vị của sắc tướng, như vậy gọi là thức
đối với ngoại trần bị tán loạn, bị tản rộng. Cũng
vậy đối với tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm
vị, thân cảm xúc, ý thức pháp.
"Sao
gọi là thức đối với ngoại trần không bị tán loạn, bị
tản rộng? Ở đây khi vị Tỷ-kheo thấy sắc với con mắt,
thức không truy cầu sắc tướng, không bị trói buộc bởi
vị của sắc tướng, không bị cột chặt bởi vị của sắc
tướng, không bị triền phược bởi kiết sử vị của sắc
tướng. Như vậy gọi là thức đối với ngoại trần, không
bị tản rộng. Cũng vậy đối với tai nghe tiếng, mũi ngửi
mùi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý nhận thức pháp.
"Thế
nào là tâm trú trước nội trần? Ở đây vị Tỷ-kheo ly dục
ly bất thiện pháp, chứng và an trú sơ thiền, một trạng
thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Thức vị ấy
truy tìm hỷ lạc do ly dục sanh, bị trói buộc bởi vị hỷ
lạc do ly dục sanh, bị cột chặt bởi vị hỷ lạc do ly dục
sanh, bị triền phược bởi kiết sử hỷ lạc do ly dục sanh,
như vậy gọi là tâm trú trước nội trần. Lại nữa vị
Tỷ-kheo đình chỉ tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai,
một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ,
nội tỉnh nhất tâm. Thức của vị ấy truy tầm hỷ lạc
do định sanh, bị trói buộc bởi vị hỷ lạc do định sanh,
bị cột chặt bởi vị hỷ lạc do định sanh, bị triền phược
bởi kiết sử hỷ lạc do định sanh, như vậy gọi là tâm
trú trước nội trần. Lại nữa, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả,
chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc
Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú thiền thứ
ba. Thức của vị ấy truy tầm xả và lạc, bị trói buộc
bởi vị xả và lạc, bị cột chặt bởi vị xả lạc, bị
triền phược bởi kiết sử xả và lạc, như vậy gọi là
tâm trú trước nội trần. Lại nữa, vị Tỷ-kheo, xả lạc
xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú
thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Thức của vị ấy truy tìm không khổ không lạc, bị trói
buộc bởi vị không khổ không lạc, bị triền phược bởi
kiết sử không khổ không lạc. Như vậy gọi là tâm trú trước
nội trần.
"Thế
nào là tâm không trú trước nội trần? Ở đây vị Tỷ-kheo
ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú sơ thiền, một trạng
thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Thức của vị
ấy không truy tìm hỷ lạc do ly dục sanh, không bị trói buộc
bởi vị hỷ lạc do ly dục sanh, không bị cột chặt bởi
vị hỷ lạc do ly dục sanh, không bị triền phược bởi kiết
sử hỷ lạc do ly dục sanh, như vậy gọi là tâm không trú
trước nội trần. Lại nữa, vị Tỷ-kheo, đình chỉ tầm
và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ
lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm.
Thức của vị ấy không truy tìm hỷ lạc do định sanh, không
bị trói buộc bởi vị hỷ lạc do định sanh, không bị cột
chặt bởi vị hỷ lạc do định sanh, không bị triền phược
bởi kiết sử hỷ lạc do định sanh, như vậy gọi là tâm
không trú trước nội trần. Lại nữa, vị Tỷ-kheo ly hỷ,
trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà
các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú thiền
thứ ba. Thức của vị ấy không truy tìm xả và lạc, không
bị trói buộc bởi vị xả và lạc, không bị cột chặt bởi
vị xả và lạc, không bị triền phược bởi kiết sử xả
và lạc, như vậy gọi là tâm không trú trước nội trần.
Lại nữa, vị Tỷ-kheo xả lạc và khổ, diệt hỷ ưu đã
cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ,
không lạc, xả niệm thanh tịnh. Thức của vị ấy không truy
tầm không khổ không lạc, không bị trói buộc bởi vị không
khổ không lạc, không bị cột chặt bởi vị không khổ không
lạc, không bị triền phược bởi kiết sử không khổ không
lạc. Như vậy gọi là tâm không trú trước nội trần.
"Thế
nào là bị chấp thủ quấy rối (khủng bố)? Ở đây kể
vô văn phàm phu, không yết kiến các bậc Thánh, các bậc chân
nhân, không thuần pháp các bậc Thánh, các bậc chân nhân,
không tu học pháp các bậc Thánh, các bậc chân nhân, thấy
sắc như là tự ngã, hay là tự ngã như là có sắc, thấy
sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã như là trong sắc. Sắc pháp
của vị ấy biến hoại đổi khác. Với sự biến hoại đổi
khác trong sắc pháp ấy, thức của vị ấy bị tùy chuyển
bởi sự biến hoại đổi khác trong sắc pháp của vị ấy.
Do thức bị tùy chuyển, nên các pháp quấy rối (khủng bố)
khởi lên, xâm nhập tâm và an trú. Vì tâm bị xâm nhập nên
vị Tỷ-kheo sợ hãi, bực phiền và đầy những khao khát,
và vị Tỷ-kheo bị chấp thủ quấy rối (khủng bố: anupàdà
paritassanà). Cũng vậy đối với bốn thủ uẩn thọ, tưởng,
hành, thức.
"Và
thế nào là không bị chấp thủ quấy rối (khủng bố)? Ở
đây, vị đa văn thánh đệ tử yết kiến các bậc Thánh,
các bậc chân nhân, thuần thục pháp các bậc Thánh, các bậc
chân nhân, không thấy sắc như là tự ngã, không thấy tự
ngã như là có sắc, không thấy sắc ở trong tự ngã, không
thấy tự ngã ở trong sắc. Sắc pháp của vị ấy bị biến
hoại đổi khác. Với sự biến hoại đổi khác trong sắc
pháp, thức của vị ấy không tùy chuyển bởi sự biến hoại
đổi khác trong sắc pháp của vị ấy. Do thức không bị tùy
chuyển bởi sự biến hoại đổi khác trong sắc pháp, nên
các pháp quấy rối (khủng bố) không khởi lên, không xâm
nhập tâm vào an trú. Vì tâm không bị thâm nhập, nên vị
Tỷ-kheo không sợ hãi, không bực phiền, không đầy những
khao khát. Và vị ấy không bị chấp thủ quấy rối (khủng
bố). Như vậy là không bị chấp thủ quấy rối (khủng bố).
Cũng vậy đối với bốn thủ uẩn thọ, tưởng, hành thức."
Như
đã được đề cập, kinh này trình bày một phương pháp tu
tập cho vị Tỷ-kheo đạt đến tiến trình giải thoát và
giác ngộ. Vị Tỷ-kheo trước hết đối với ngoại trần:
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, không truy cầu sắc tướng,
thanh tướng v.v... không bị luyến aí, triền phược bởi vị
của sắc tướng, thanh tướng v.v..., được tự tại, thoát
ly sự chi phối của ngoại trần. Đối với nội trần, ở
đây chỉ cho các thiền chi của bốn cảnh thiền, tức là
hỷ lạc do ly dục sanh, hỷ lạc do định sanh, xả và lạc
xả, không khổ không lạc, vị Tỷ-kheo không bị đam mê bởi
các thiền chi này, mà vượt lên trên chúng để đạt các
thiền chứng cao hơn, và nhờ vậy vị Tỷ-kheo không có trú
trước nội trần. Vị Tỷ-kheo tuệ quán năm uẩn: sắc, thọ,
tưởng, hành, thức là vô ngã, và nhờ vậy khi năm uẩn này
bị biến hoại đổi khác, thức của vị Tỷ-kheo không bị
tùy chuyển theo sự biến hoại đổi khác này. Nhờ vậy, các
pháp quấy rối (khủng bố) không khởi lên, không thâm nhập
tâm vào an trú.
Do
tâm không bị xâm nhập, nên vị Tỷ-kheo không có sợ hãi,
bực phiền, lòng đầy khao khát. Nhờ vậy vị Tỷ-kheo không
bị chấp thủ quấy rối và như vậy được giác ngộ, được
giải thoát. Ở đây chúng ta nhận thấy lý thuyết vô ngã
quan trọng bực nào trong tiến trình giác ngộ, được giải
thoát. Vị Tỷ-kheo còn chấp ngã, xem năm thủ uẩn là của
Ta, là Ta, là tự ngã của Ta, thời khi năm uẩn chịu sự biến
hoại và đổi khác, thức của vị Tỷ-kheo tùy chuyển theo
sự biến hoại đổi khác này. Do vậy các pháp quấy rồi,
khủng bố khởi lên, xâm nhập tâm vào an trú. Do tâm bị xâm
nhập, vị Tỷ-kheo sợ hãi, bực phiền, lòng đầy khao khát...
Do vậy vị Tỷ-kheo bị chấp thủ quấy rối, bị khủng bố,
không được giác ngộ. Có một số danh từ cần phải giải
thích, như: anupàdàya paritassati - vị ấy bị chấp thủ quấy
rối hay khủng bố. Chữ paritassati dịch là khủng bố có hơi
nặng nên dùng chữ quấy rối cho nhẹ hơn, dẫu rằng chữ
khủng bố thường được kinh chữ Hán dùng. Ở đây, kinh
chữ Hán tương đương giải thích đoạn này có dùng một
số danh từ sai khác nhưng nói chung cũng tương đương với
lời giải thích từ chữ chữ Pàli. Kinh Hán tạng tương đương
là "Kinh Phân biệt quán pháp", Trung A Hàm số 164, Đại I, 694b.
Kinh
Hán tạng chép: "Chư hiền, thế nào là Tỷ-kheo không thọ
mà khủng bố? Chư hiền, Tỷ-kheo không ly sắc nhiễm, không
ly sắc dục, không ly sắc ái, không ly sắc khát. Chư hiền,
nếu có Tỷ-kheo không ly sắc nhiễm, không ly sắc dục, không
ly sắc ái, không ly sắc khát, vị ấy muốn được sắc, cầu
sắc, trước sắc, trụ sắc, sắc tức là ngã, sắc là sở
hữu của ngã. Khi muốn được sắc, cầu sắc, trú sắc, sắc
tức là ngã, sắc là sở hữu của ngã, thời thức ôm ấp
sắc. Khi thức ôm ấp sắc, thời khi sắc ấy biến dị, thức
chuyển theo sắc, thời nó sanh khủng bố pháp và tâm trú trong
ấy. Nhân vì tâm không biết, nên sanh sợ hãi phiền lao, không
thọ mà khủng bố". Ở đây, kinh chữ Hán dịch "annupàdà
aparitassanti" là "không thọ mà khủng bố".
Thình
thoảng, chúng ta gặp một bài kinh, tóm tắt một cách tuyệt
diệu tiến trình giải thoát giác ngộ như bài kinh này. Ở
đây, chúng ta chứng kiến cách dùng văn khéo léo của đức
Phật, đã tóm thâu cả phương pháp tu hành đạt đến thánh
quả, chỉ trong một số câu ngắn gọn súc tích, được phân
tích rạch ròi, không có kéo dài lê thê, không có rườm rà
với những điển tích khó hiểu. Lời dạy của Ngài bao giờ
cũng trong sáng gọn nhẹ, nhưng thiết thực và hướng thượng.
(Trung
Bộ III, số 138)
25
KINH
BÁNH MẬT
Bài
kinh nêu rõ mục đích hòa bình của đạo Phật là Kinh Bánh
Mật (Xác định rõ thái độ không tranh chấp với một ai
ở đời). Hơn thế nữa, kinh này lại giới thiệu phương
pháp giải quyết các tranh chấp, chấp trượng, chấp kiếm,
đưa đến tiêu diệt các bất thiện pháp, không còn dư tàn.
Kinh
này có thể xem là gồm có ba lời tuyên bố: Hai lời đầu
là hai lời tuyên bố của Thế Tôn, nói lên quan điểm không
tranh chấp của đức Phật và phương pháp diệt tận các tranh
chấp. Lời tuyên bố thứ ba là của Tôn giả Mahà Kaccàna,
giải thích rộng hơn và rõ hơn lời tuyên bố thứ hai của
Thế Tôn, và trình bày rõ tiến trình đoạn tận các tranh
chấp, các ác, bất thiện pháp.
1/
Câu trả lời thứ nhất: Khi được một ngoại đạo tên là
Dandapàni (gậy cầm tay) hỏi Sa môn Gotama có quan điểm thế
nào, giảng thuyết những gì. Thế Tôn trả lời một cách
rõ ràng dứt khoát: "Này Hiền giả, theo lời dạy của Ta,
trong thế giới với chư Thiên, Mara và Phạm thiên, với các
chúng Sa môn, Bà-la-môn, chư môn và loài người, không có tranh
luận với ai ở đời". Đây là một câu trả lời dứt khoát,
lời dạy của Ngài không gây một tranh chấp nào, cạnh tranh,
đấu tranh nào. Rồi Ngài giải thích thêm hạng người nào
có thể thoát ly khỏi sự tranh chấp: Chính là những vị không
bị các tưởng chi phối, sống không bị các dục triền phược,
với mọi nghi ngờ, hối quá đoạn diệt, không có tham ái
đối với hữu và phi hữu. Chính do các tưởng chi phối, các
dục triền phược, các nghi ngờ do dự triển khai, các tà
kiến hữu và phi hữu ám ảnh, nên con người rơi vào các
tranh chấp, đấu tranh, cạnh tranh.
2/
Câu trả lời thứ hai: Thế Tôn dạy: "Do bất cứ nhân duyên
gì, một số lý luận vọng tưởng ám ảnh một người, nếu
ở nơi đây không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng
chấp thủ, thời như vậy là sự đoạn tận tham tùy miên,
mạn tùy miên, sân tùy miên, kiến tùy miên, nghi tùy miên,
mạn tùy miên, hữu tham tùy miên, vô minh tùy miên, sự đoạn
tâm của chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh,
luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ, chính ở nơi
đây những ác bất thiện pháp này được tiêu diệt không
có dư tàn". Lời khuyên của đức Phật rất rõ ràng: Chớ
có hoan hỷ, chớ có đón mừng, chớ có chấp thủ, các hý
luận vọng tưởng ấy, thời thái độ như vậy sẽ giúp đoạn
tận bảy tùy miên, giúp đoạn tận mọi cạnh tranh, mọi chấp
kiếm, chấp trượng, ly gián ngữ, các bất thiện pháp không
còn dư tàn. Tốt nhất là đừng cho khởi lên các hý luận
vọng tưởng; và nếu chúng có khởi lên thời đừng hoan hỷ,
đón mừng, chấp thủ chúng. Có vậy mới đoạn trừ mọi
tranh chấp, chấp trượng, chấp kiếm, ly gián ngữ, vọng ngữ,
và mọi bất thiện pháp đều được đoạn trừ không có
dư tàn.
3/
Lời tuyên bố thứ ba: Câu trả lời thứ hai của Thế Tôn
không có giải thích rõ ràng, khiến một số Tỷ-kheo không
hiểu rõ ý nghĩa, nên đồng thanh mời Tôn giả Kaccàna giải
thích thêm cho rõ. Ban đầu, Tôn giả Kaccàna từ chối; trước
sự cầu thỉnh nhiệt tình, Tôn giả Kaccàna mới chấp thuận
và giải thích như sau: "Do nhân sáu căn xúc chạm với sáu
trần, sáu thức, khởi lên, sự gặp gỡ của ba pháp này là
xúc. Dó duyên xúc nên cảm thọ, những gì có thọ thời có
tưởng. Những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận
này làm nhân, một số hý luận vọng tưởng hiện hành khởi
lên cho một người, đối với sáu trần, do sáu căn nhận
thức, quá khứ, tương lai, hiện tại... Sự kiện này không
xảy ra, khi nào không có sáu căn, khi nào không có sáu trần,
khi nào không có sáu thức thời không có sự thi thiết của
xúc. Khi nào không có sự thi thiết của xúc, thời sự thi
thiết của thọ không được hiển lộ. Khi nào không có sự
thi thiết của thọ, sự thi thiết của tưởng, sự thi thiết
của suy tầm không được hiển lộ. Khi nào không có sự thi
thiết của suy tầm, thời sự thi thiết hiện hành một số
hý luận vọng tưởng không được hiển lộ. Như vậy toàn
bộ các pháp hý luận không được xuất hiện, không thể
làm cho khởi lên đấu tranh, luận tranh, chấp trượng, chấp
kiếm, cuối cùng đoạn trừ tất cả bất thiện pháp, không
có dư tàn. Pháp môn này không những loại bỏ các tranh chấp,
hý luận, lại còn loại trừ 7 tùy miên, đoạn tận các ác,
bất thiện pháp, giúp người hành giả được giải thóat
khỏi sanh, già, bệnh, chết một cách hoàn toàn.
Sau
khi nghe Tôn giả Mahà Kaccàna thuyết giảng, các vị Tỷ-kheo
liền đi đến yết kiến Thế Tôn và trình bày lời giải
thích của Tôn giả Mahà Kaccàna. Thế Tôn tán thán Tôn giả
Mahà Kaccàna là bậc Đại tuệ, là bậc Hiền trí. Ngài nói,
nếu các Tỷ-kheo có hỏi Ngài, thời Ngài cũng trả lời như
Tôn giả Mahà Kaccàna đã trả lời.
Tôn
giả Ananda có mặt trong buổi họp này, dùng ví dụ một người
bị đói lả và mệt mỏi, tìm được một bánh mật và cứ
mỗi miếng vị ấy được nếm, vị ấy được thưởng thức
vị ngọt thuần nhất. Cũng vậy, vị Tỷ-kheo có tri thức
biệt tài, cứ mỗi phần suy tư đến ý nghĩa của pháp môn
này với trí tuệ, cứ mỗi phần vị ấy được thưởng thức
sự hoan hỷ, được thưởng thức sự thoải mái tâm trí.
Tôn giả Ananda hỏi Thế Tôn nên đặt tên kinh này là gì,
Thế Tôn đáp nên đặt tên kinh này là bánh mật (mật hoàn)
và hãy như vậy mà thọ trì.
Nếu
bánh mật làm dịu được sự khao khát của con người, thời
những lời dạy của đức Bổn Sư làm dịu đi khát vọng
của con người, giải thoát con người khỏi các tùy miên,
loại trừ các đấu tranh, kháng tranh, đem lại sự hòa đồng,
thông cảm cho tất cả mọi người .
(Trung
Bộ I, số 18)