16
Ý
NGHĨA LỄ VU LAN
Mỗi
năm đến ngày rằm tháng bảy Âm lịch, toàn thể Phật tử
Việt Nam chúng ta và Phật tử khắp năm châu đều tổ chức
long trọng lễ Vu Lan, cúng dường Phật và chúng Tăng, dựa
vào uy lực và giới đức của đức Phật và chúng Tăng, cầu
nguyện cho cha mẹ đang còn sống được an lạc và cha mẹ
đã quá cố được siêu thăng cõi Tịnh Độ.
Vu
Lan là gọi tắt, nếu nói đầy đủ là Vu Lan Bồn. Vu Lan Bồn
là cứu tội bị treo ngược, từ Sanskrit là Ulambana, hay là
Avalamba nghĩa là "treo ngược". Có tác giả nói từ Bồn là
từ Trung Quốc nghĩa là chậu, nghĩa là chậu đựng các thứ
cúng dường đức Phật và chư Tăng.
Tôn
giả Mục-kiền-liên là một đệ tử lớn của đức Phật,
và được suy tôn là bậc thần thông đệ nhất. Sau khi chứng
quả A-la-hán. Ngài dùng thiên nhãn quan sát khắp các cõi sống
thì thấy mẹ mình đang bị nạn đói khát dày vò trong cõi
sống quỷ đói. Tôn giả bèn cầm bát cơm xuống cõi quỷ
đói đưa cho mẹ. Mẹ cầm lấy bát cơm đưa vào miệng, thì
cơm hóa thành than hồng cháy đỏ không tài nào ăn được.
Tôn giả Mục-kiền-liên không biết làm sao được, bèn trở
về xin Phật ra tay cứu giúp. Đức Phật nói: "Mẹ ông bao
nhiêu đời sống xan tham keo kiệt, nên phải chịu khổ báo
là quỷ đói, một mình ông không thể cứu nổi mẹ đâu.
Phải nhân ngày rằm tháng bảy tổ chức cúng dường đức
Phật và chúng Thánh Tăng mười phương nhờ vào sức mạnh
chú nguyện của đức Phật và chúng Tăng mười phương thì
mẹ ông mới có thể siêu thóat được".
Tôn
giả Mục-kiền-liên vâng lời đức Phật dạy, đến ngày
rằm tháng bảy là ngày tự tứ ra hạ của chư Tăng, đem thức
ăn, đèn, sáp, hương hoa... đặt vào chậu lớn, cúng dường
trai Tăng. Bà mẹ của Tôn giả Mục-kiền-liên nương nhờ
vào uy lực của giới đức và phước đức của chư Tăng
mười phương, và cũng nương nhờ vào công đức bố thí và
lòng chí thành của Tôn giả Mục-kiền-liên, mà sớm thoát
khỏi nỗi khổ của quỷ đói, nỗi khổ ví như nỗi khổ
của người bị treo ngược, siêu thăng lên các cõi lành.
Nhân
đó, đức Phật Thích Ca có lời dạy Tôn giả Mục-kiền-liên
rằng: "Làm người đệ tử Phật có đức hiếu thuận, phải
thường xuyên ghi lòng tạc dạ công ơn cha mẹ đời này cho
đến bảy đời. Mỗi năm vào ngày rằm tháng bảy, hãy nên
làm lễ Vu Lan Bồn, cúng dường đức Phật và chúng Tăng,
để báo ơn sanh thành nuôi dưỡng của cha mẹ, cầu cho cha
mẹ sống lâu trăm tuổi và sau khi mạng chung được sanh vào
các cõi lành".
Kinh
Vu Lan Bồn chủ yếu được lưu hành rộng rãi ở các nước
Phật giáo Á Châu, là nơi có truyền thống hiếu kính cha mẹ
và thờ phụng tổ tiên rất sâu đậm. Ngày lễ Vu Lan được
nhân dân các xứ này tổ chức như một lễ lớn trong năm
và trong cả nước, ngày lễ báo ơn báo hiếu đối với cha
mẹ, ông bà, sư trưởng, cũng như đối với tất cả những
người xứng đáng được tri ân, nhưng trước hết là công
ơn cha mẹ và ông bà cho tới bảy đời.
Ở
Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và nhiều nước
khác ở Đông Nam Á, ngày lễ Vu Lan được quần chúng hưởng
ứng rất rộng rãi. Có thể nói là mọi người kể cả những
người không theo đạo Phật, những gia đình theo Nho giáo hay
theo Lão giáo cũng đều làm lễ Vu Lan, nhân ngày lễ đó tưởng
nhớ ông bà, cha mẹ đến bảy đời, công ơn thầy dạy, công
ơn quốc gia cũng như công ơn của tất cả chúng sinh.
Trong
kinh tạng Pàli của Phật giáo Nguyên thuỷ, chúng ta có thể
đọc được những lời đức Phật dạy về chữ Hiếu thật
là đầy đủ, sinh động và cụ thể, những lời mà chỉ
có đức Phật là bậc đại trí tuệ mới có thể nói ra được.
"Này
các Tỷ-kheo, có hai hạng người, Ta nói không thể trả ơn
được. Thế nào là hai? Đó là mẹ và cha. Nếu một bên vai
cõng mẹ, một bên vai cõng cha, làm như vậy suốt một trăm
năm cho đến khi cha mẹ trăm tuổi. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
cũng chưa làm đủ để trả ơn cho mẹ và cha. Nếu đấm bóp,
thoa xức, tắm rửa, xoa gội và dù tại đấy, mẹ cha có vãi
đại tiện, tiểu tiện, dù như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng
chưa làm đủ để trả ơn mẹ và cha... (Tăng Chi I, 75).
Các
kinh Bắc tông nói về đạo hiếu cũng rất nhiều, ngoài Kinh
Vu Lan Bồn ra, có thể kể các kinh khác như: Nhẫn Nhục Kinh,
Đại Tập Kinh, Tứ Thập Nhị Chương Kinh... lời lẽ trong
các kinh này cũng thống thiết, sinh động như trong các kinh
Nguyên thuỷ vậy. Như Kinh Nhẫn Nhục nói: "Thiện cùng cực,
không có gì hơn hiếu; ác cùng cực; không gì hơn bất hiếu".
Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: "Phàm người phụng thờ quỷ
thần, không bằng phụng thờ cha mẹ. Cha mẹ là vị thần
tối thượng". Kinh Đại Tập nói: "Nếu ở đời không có
Phật thì hãy khéo phụng thờ cha mẹ. Khéo phụ thờ cha mẹ
cũng giống như khéo phụng thờ Phật".
Như
vậy kinh điển của Phật giáo Nam Tông cũng như Bắc Tông
đều nói đến đạo hiếu và rất coi trọng đạo hiếu. Trước
đây và hiện nay vẫn còn có một số người chưa hiểu hết
giáo lý giải thoát của nhà Phật, cho rằng các vị đi tu
không có vợ con nên không có con nối dõi tông đường, họ
cho là bất hiếu. Vì họ hiểu sai về lý tưởng xuất gia
của đạo Phật. Xuất gia không phải là từ bỏ cha mẹ và
người thân. Xuất gia chỉ có nghĩa là từ bỏ danh lợi thế
gian, từ bỏ mọi tình cảm hẹp hòi vị kỷ, từ bỏ ba độc
tham-sân-si. Sách Phật thường nói về sự xuất gia và lý
xuất gia. Cạo tóc, mặc áo cà sa vào chùa ở chỉ mới là
sự xuất gia. Từ bỏ được ân ái hẹp hòi, từ bỏ được
danh lợi thế gian tầm thường, từ bỏ được mọi tham muốn
thấp hèn về ăn uống, tiền tài danh sắc, ngủ nghỉ, từ
bỏ được tham sân mới gọi là xuất gia.
Người
tu sĩ sau khi xuất gia, chấp nhận tất cả chúng sinh, tất
cả mọi người trong xã hội đều là cha mẹ, anh em, con cái
của mình, và thương yêu với một tình thương không phân
biệt. Đức Phật Thích Ca được tôn xưng là đấng Từ phụ,
tức là cha lành, vì Ngài thương yêu tất cả chúng sinh như
con một của mình. Mọi người xuất gia cũng vậy, noi gương
đức cha lành, cũng xem mọi người trong xã hội đều như
cha mẹ anh em, bà con ruột thịt của mình.
Hơn
nữa người xuất gia làm tròn đạo hiếu của mình bằng một
cách khác. Tức là bằng cách xây dựng đức tin cho cha mẹ
thiếu đức tin, khuyến khích cha mẹ bỏ ác làm lành, khuyến
khích cha mẹ bố thí và tu học chánh pháp, đạt tới trí
tuệ chơn chánh. Và làm như vậy, theo như lời đức Phật
nói, chính là báo hiếu cha mẹ một cách đầy đủ trọn vẹn
nhất.
Chữ
báo hiếu không có nghĩa cha mẹ làm gì mình cũng tán thành,
dù rằng làm ác, làm điều bất thiện. Ngay báo hiếu cũng
phải có trí tuệ. Đạo Phật nói đến chữ Nhân và chữ
Hiếu như đạo Nho, nhưng với một nội dung rộng lớn hơn
nhiều, như có thể thấy qua câu mở đầu toát yếu toàn bộ
ý tứ trong tập truyện thơ dân gian "Nam Hải Quan Âm", rất
được ưa chuộng của dân chúng Việt Nam:
"Chơn
như đạo Phật rất mầu,
Tâm
trung chữ hiếu, niệm đầu chữ nhân,
Hiếu
là độ được song thân,
Nhân
là cứu vớt trầm luân muôn loài.
...
Trên
thời hiếu báo sanh thành,
Dưới
thời nhân cứu chúng sinh Ta bà".
Độ
thoát cha mẹ khỏi vòng sống chết luân hồi là cách thức
báo hiếu cha mẹ đầy đủ nhất, hoàn hảo nhất, nhưng không
phải ai cũng làm được. Bởi vì mình có tu hành chứng quả,
độ thoát được mình, mới có thể độ thoát cho cha mẹ
được. Đó là việc làm đức Phật bà Quan Âm Diệu Thiện
trong truyện Nam Hai Quan Âm.
Thế
nhưng tất cả chúng ta, dù xuất gia hay tại gia đều có thể
trả ơn đầy đủ cho cha mẹ, nếu chúng ta học tập và thực
hành theo lời đức Phật dạy trong Tăng Chi bộ Kinh Tập I
trang 75;
"Những
ai đền ơn bằng cách nuôi dưỡng, cúng dường cha mẹ với
của cải vật chất, tiền bạc thời không bao giờ đủ để
trả ơn cha mẹ. Nhưng này các Tỷ-kheo, ai đối với cha mẹ
không có lòng tin, thì khuyến khích cha mẹ an trú vào lòng
tin; đối với cha mẹ theo ác giới, thì khuyến khích hướng
dẫn cha mẹ an trú vào thiện giới; đối với cha mẹ xan tham,
khuyến khích hướng dẫn cha mẹ an trú vào bố thí; đối
với cha mẹ theo ác trí tuệ, thì khuyến khích cha mẹ an trú
vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo tức là làm
đủ và trả ơn đủ cho cha và mẹ".
Những
lời dạy của đức Phật, tất cả Phật tử chúng ta đều
có thể thực hành được.
Chúng
ta đều là đệ tử Phật, là con Phật. Chúng ta đều thọ
Tam quy: quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Nếu cha mẹ chúng
ta chưa tin Tam Bảo, thì chúng ta khéo léo hướng dẫn, khuyến
khích cha mẹ đặt niềm tin ở Tam Bảo, và tiến dần tới
Tam quy y. Phép quy y cũng có sự quy y và lý quy y. Làm lễ quy
y Tam Bảo mới chỉ là sự quy y. Chúng ta còn phải giảng giải
cho cha mẹ rõ thế nào là Phật, Pháp, Tăng và quy y Phật,
Pháp, Tăng có lợi ích như thế nào. Nếu cha mẹ có làm những
điều ác bất thiện nơi thân hay nơi lời nói như sát, đạo,
dâm, nói dối, nói chia rẽ, nói ác, nói lời vô nghĩa, thì
chúng ta phải khuyên cha mẹ bỏ ác làm lành, khuyến khích
cha mẹ phóng sanh, thay vì sát sanh; bố thí thay vì lấy của
không cho; sống chánh hạnh thay vì tà hạnh; nói lời thật
thay vì nói dối; nói lời đoàn kết thay vì nói chia rẽ; nói
lời dịu hiền thay vì nói ác độc; nói lời có ý nghĩa thay
vì nói vô nghĩa... Những lời dạy của đức Phật, mặc dù
nói ra cách đây hơn hai ngàn rưỡi năm, nhưng vẫn mang tính
thời sự nóng bỏng đối với xã hội chúng ta hiện nay. Những
lời nói đó xứng đáng là khuôn vàng thước ngọc cho đời
sống chúng ta, cho mọi cung cách ứng xử của chúng ta trong
gia đình cũng như ngoài xã hội. Tất cả chúng ta hãy sống
theo lời dạy của đức Phật, tức khắc chúng ta sẽ được
an lạc và hạnh phúc. Nếu ngược lại, chúng ta sẽ bất hạnh
và đau khổ.
Vì
lợi lạc của mọi người, của số đông, chúng ta hãy phổ
biến rộng rãi những lời dạy vàng ngọc đó của đức Phật.
Mỗi chúng ta, chứ không gì riêng Tăng sĩ, đều phải nói
pháp, khéo nói pháp, có như vậy bánh xe pháp mới thường
chuyển, ngọn đèn pháp mới ngày đêm sáng tỏ.
Đức
Phật đã từng dạy rằng: "Trong tất cả hình thức bố thí,
thì bố thí pháp là đệ nhất".
Cho
nên tất cả chúng ta phải học nói pháp, biết nói pháp, khéo
nói pháp. Đừng nên nghĩ rằng nói pháp phải là đăng đàn
thuyết pháp, nói hai ba giờ liền và dẫn chứng nhiều kinh
điển mới là thuyết pháp. Trong Kinh Pháp Cú, đức Phật đã
từng răn dạy rằng: "Nói trăm ngàn lời cũng không bằng nói
một lời làm cho tâm người nghe được an tịnh".
Học
pháp là học những lời đức Phật dạy để biết rõ đâu
là thiện, đâu là bất thiện; đâu là gốc rễ của thiện,
của bất thiện. Không sát sanh, không lấy của không cho, không
tà hạnh trong các dục, không nói láo, không nói hai lưỡi,
không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham,
không sân, có chánh kiến là thiện. Ngược lại là bất thiện.
Tham sân si là gốc rễ của bất thiện. Ngược lại là thiện.
Học rồi đem sở học ấy áp dụng vào nếp sống hàng ngày
của chính mình và khuyến khích người khác áp dụng thì gọi
là hành pháp.
Học
pháp là hành pháp là nếp sống tu học song đôi của người
Phật tử. Nếp sống ấy vừa phù hợp với đạo lý tu nhân
tích đức của người Việt Nam, vừa nói lên ý nghĩa đúng
đắn của một người Phật biết sống vì mình vì người.
Đó là cách báo hiếu báo ân tốt đẹp nhất của mỗi người
Phật tử chúng ta.
(Bài
thuyết giảng Đại Lễ Vu Lan PL 2540)
17
CHỮ
HIẾU TRONG KINH TẠNG PÀLI
Đối
với người Việt Nam chúng ta, Vu Lan đã trở thành truyền
thống là một mùa báo hiếu cho những người con chân thành
tưởng nhớ đến công ơn cha mẹ - người còn cũng như kẻ
mất - và cố gắng thực hiện những cái có thể làm được
để trả ơn, đền ơn và phụng dưỡng cha mẹ.
Chúng
ta làm sao quyên được những câu ca dao mộc mạc nói lên công
ơn trời biển của cha mẹ, khi các bà cụ nhẹ nhàng âu yếm
ru cháu ngủ:
"Ru
hời ru hỡi ru hơi,
Công
cha như núi ngất trời,
Nghĩa
mẹ như nước ở ngoài biển Đông.
Núi
cao biển rộng mênh mông,
Cù
lao chín chữ ghi lòng con ơi".
Hay:
"Nhớ
ơn chín chữ cù lao
Ba
năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình".
Hoặc:
"Tôm
càng lột vỏ bỏ đuôi
Giã
gạo cho trắng mà nuôi mẹ già".
Và
gần đây hơn, ta nhớ đến hình ảnh của một thi sĩ đã
diễn tả nỗi niềm mất mẹ của một người con như đã
mất cả một bầu trời:
" Năm
xưa tôi còn nhỏ
Mẹ
tôi đã qua đời
Lần
đầu tiên tôi hiểu
Thân
phận kẻ mồ côi.
Quanh
tôi ai cũng khóc
Im
lặng tôi sầu thôi
Để
dòng nước mắt chảy
Là
bớt khổ đi rồi.
Độ
nhỏ tôi không tin
Người
thân yêu sẽ mất
Hôm
ấy tôi sững sờ
Và
nghi ngờ trời đất.
Từ
nay tôi hết thấy
Trên
trán mẹ hôn con
Những
khi con phải đòn
Đau
lòng mẹ la lẫy.
Kia
nhà ai sung sướng
Mẹ
con vỗ về nhau
Tìm
mẹ con không có
Khi
buồn biết chốn đâu
Hoàng
hôn phủ trên mộ
Chuông
chùa nhẹ rơi rơi
Tôi
thấy tôi mất mẹ
Là
mất cả bầu trời".
Và
nói đến chuông chùa, tức là nhớ đến lời Phật dạy, nhớ
đến truyền thống báo Hiếu mà giáo lý đức Phật đã gầy
dựng lên. Vì vậy, nhân ngày lễ Vu Lan, chúng tôi xin trích
dịch một số lời dạy của đức Phật về báo Hiếu, từ
kinh tạng Pàli. Chúng tôi cố ý hạn chế vào một số kinh
điển thật sự Nguyên thuỷ, cho đến các kinh Jàtaka Pàli
(Chuyện tiền thân đức Phật) cũng để ra ngoài, vì muốn
nói lên những gì trung thực nhất của đức Phật về sự
liên hệ giữa cha mẹ và con cái, khỏi phải qua những phát
triển tưởng tượng và tình cảm của các học phái về sau.
Chúng tôi cũng phải thú nhận rằng, chúng tôi chỉ có thể
trích dịch từ những kinh điển đã được phiện dịch. Đây
là một khuyết điểm không thể tránh được khi kinh tạng
Pàli chưa được dịch xong, và chúng ta chủ trương "Quý hồ
tinh, bất quý hồ đa".
Chúng
ta được biết đức Phật là một vị đã đạt được Pháp
nhãn, đã chứng ngộ trí tuệ, nên cái nhìn của Ngài rất
khác lạ đối với hành động của con người và sự liên
hệ giữa người và người. Khi thấy Singàla (Thi-ca-la-việt)
mỗi buổi sáng, dậy sớm đảnh lễ sáu phương (Kinh Giáo
thọ Thi-ca-la-việt, Trường Bộ IV, 188B), đúng theo lời dặn
của người cha để lại, đức Phật thấy rõ sự vô ích
của lễ nghi và Ngài đã giải thích theo hướng chuyển thành
hành động đúng bổn phận của mình. Phương Đông chỉ cho
cha mẹ và con cái, phương Nam chỉ cho sư trưởng, phương Tây
chỉ cho vợ chồng, phương Bắc chỉ cho bạn bè, phương Dưới
chỉ cho kẻ phục vụ và phương Trên chỉ cho Sa môn, Bà-la-môn.
Và hành động ở đây có nghĩa là bổn phận của người
con đối với cha mẹ, và cha mẹ đối con, chỉ cho phương
Đông; bổn phận thầy đối với trò, trò đối với thầy,
chỉ phương Nam, v.v...: Như vậy, người con có năm bổn phận
đối với cha mẹ: "Nuôi dưỡng cha mẹ (khi cha mẹ già yếu);
làm đủ bổn phận người con đối với cha mẹ; giữ gìn
gia đình với truyền thống, bảo vệ tài sản kế thừa tự,
và làm tang lễ khi cha mẹ qua đời." Cha mẹ cũng có năm trách
nhiệm với con cái: "Ngăn chặn con làm điều ác; khuyến khích
con làm việc thiện; dạy con nghề nghiệp; cưới vợ xứng
đáng cho con; đúng thời trao của thừa tự cho con". Đây rõ
là một thông điệp trách nhiệm hỗ tương không chỉ một
chiều. Con có năm bổn phận đối với cha mẹ, và cha mẹ
cũng có năm bổn phận đối với con. Và khi cha mẹ và con
cái làm tròn bổn phận của mình, thời phương Đông được
an lành hạnh phúc. Nói cho rõ hơn, vận may chỉ đến gia đình
nào, khi trong gia đình ấy cha mẹ chọn tình đối với con
cái, và con cái trọn đạo đối với cha mẹ. Trong Kinh Mangalasutta
(Hạnh phúc Kinh), khi được một thiên nhân hỏi tại sao được
vận may (mangala), với hi vọng đức Phật sẽ dạy cho một
hình thức lễ nghi để cầu may phước, đức Phật dạy cho
ba mươi tám hành động phải làm để được may mắn và một
trong hành động ấy là phải phụng dưỡng mẹ cha:
"Màtàpitu
uptthànam...
Etammanagalamuttamam".
"Phụng
dưỡng cha và mẹ...
Là
vận may tối thượng"
Hiếu
không phải những gì nói suông bằng lỗ miệng, bằng những
nghi lễ cầu may cầu phước, Hiếu phải được cô đọng
bằng những việc làm cụ thể, và ở đây là phải hầu hạ
và phụng dưỡng mẹ cha.
Hình
ảnh sau đây gợi ý cho chúng ta thấy công ơn trời biển của
cha mẹ rộng như biển cả ngàn trùng, khi đức Phật tuyên
bố trong Kinh Tương Ưng tập I, trang 208, rằng sữa mẹ nuôi
con trải qua nhiều đời nhiều kiếp, nhiều hơn bể cả:
"Các
người nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo? Cái gì là nhiều hơn?
Sữa mẹ mà các ngươi đã uống, trong khi các ngươi di chuyển
luân hồi trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?"
"Bạch
Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu
rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ chúng con đã
uống, trong khi chúng con lưu chuyển liên hồi trong một thời
gian dài, chớ không phải nước trong bốn biển".
"Lành
thay, lành thay này các Tỷ-kheo; lành thay này các Tỷ-kheo, các
ngươi đã hiểu như vậy, pháp do Ta dạy".
"Cái
này là nhiều hơn, cái này các Tỷ-kheo, tức là sữa mẹ các
ngươi đã uống, trong khi các ngươi lưu chuyển luân hồi trong
thời gian dài, chớ không phải nước trong bốn biển".
"Vì
cớ sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo! Vô thỉ
là luân hồi này, này các Tỷ-kheo! Khởi điểm không thể
nêu rõ, đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sinh,
bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc, là vừa đủ để
các ngươi giải thoát, đối với tất cả các hành".
Trong
Kinh Tăng Chi tập I, trang 74, cha mẹ được ví như những ngọn
lửa đáng cung kính, vì chính người cha người mẹ đã đem
lại sự sống cho các người con, như ngọn lửa đem lại nguồn
nóng, sức sống cho loài người.
"Thế
nào là lửa đáng cung kính?"
"Ở
đây, này Bà-la-môn, những người mẹ những người cha của
người ấy. Này Bà-la-môn, đây gọi là lửa đáng cung kính.
Vì cớ sao?"
"Từ
đấy, này Bà-la-môn, khiến cho mang lại, khiến cho sanh ra (ato
yamàhùto sambhùto). Do vậy, lửa đáng cung kính, được tôn
trọng, được cúng dường, đem lại chánh lạc".
Sữa
mẹ dùng để nuôi con được xem là nhiều hơn biển cả, cha
mẹ lại được ví như ngọn lửa đem lại nguồn sống cho
con, thời công ơn của cha mẹ đối với con, thật là vô cùng
vô tận, và vì vậy, đức Phật nói đến hai hạng người
không thể trả ơn được, tức là mẹ và cha, như được
ghi trong Kinh Tăng Chi tập I trang 75.
"Có
hai hạng người, này các Tỷ-kheo, ta nói không thể trả ơn
được (suppatikàram). Thế nào là hai? Mẹ và cha. Nếu một
bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, nếu một bên vai cõng cha,
làm như vậy suốt trăm năm cho đến trăm tuổi; nếu đấm
bóp, thoa xức, tắm rửa, thoa gội, và dầu tại đấy, họ
có vãi tiểu tiện đại tiện; như vậy, này các Tỷ-kheo,
cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa, này
các Tỷ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối
thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này; Như
vậy, này các Tỷ-kheo cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ
và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm
nhiều cho con cái, nuôi nấng (àpàdakà), nuôi dưỡng chúng
lớn, giới thiệu chúng vào đời này".
Chính
trong khi phụng dưỡng, nuôi nấng cha mẹ, chính người con
lại được hưởng những công đức tốt lành, do lòng hiếu
dưỡng đem lại. Trước hết, phụng dưỡng cha mẹ, thời
được cha mẹ thương tưởng, và như vậy gia đình ấy sẽ
được lớn mạnh, không bị giảm thiểu, như đoạn kinh sau
đây nêu rõ (Tăng Chi tập 2B, trang 106): "Ở đây, này Mahànàma,
vị thiện nam tử với những tài sản nỗ lực tinh tấn thu
hoạch đụơc, do sức mạnh của cánh tay gom góp lại, phải
trả bằng những giọt mồ hôi đổ ra, làm ra một cách hợp
pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng giường cha mẹ.
Cha mẹ được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ,
cúng dường với thiện ý, khởi lên lòng thương mến. Và
này Mahànamà, với một thiện nam tử được cha mẹ thương
tưởng, chờ đợi là sự tăng trưởng không phải là sự
giảm thiểu". Như vậy, người con hiếu dưỡng cha mẹ được
hưởng rất nhiều hạnh phúc.
Trong
Kinh Tương Ưng tập một, trang 225, Bà-la-môn Màtaposka đến
hỏi đức Phật:
"Thưa
Tôn giả Gotama, tôi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp.
Sau khi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp, tôi nuôi dưỡng
mẹ cha. Thưa Tôn giả Gotama, tôi làm như vậy, tôi có làm
đúng trách nhiệm không?".
"Này
Bà-la-môn, người làm như vậy là có làm đúng trách nhiệm:
Này Bà-la-môn, ai tìm món ăn, thiết thực theo thường pháp,
lại nuôi dưỡng mẹ cha, người ấy được nhiều công đức".
"Người
này theo thường pháp,
Nuôi
dưỡng mẹ và cha,
Chính
do công hạnh này,
Đối
với cha và mẹ,
Nhờ
vậy, bậc Hiền thánh,
Trong
đời này tán thán,
Sau
khi chết, được sanh
Hưởng
an lạc chư Thiên".
Khi
Bà-la-môn Manatthaddba hỏi đức Phật nên cung kính dường ai
là tốt lành, đức Phật khuyên (Tương Ưng tậpI, trang 221):
"Với
mẹ và với cha,
Với
anh tuổi nhiều hơn,
Với
thầy là thứ tư,
Không
nên sanh kiêu mạn,
Nên
kính trọng vị ấy,
Nên
tôn kính vị ấy,
Cúng
dường chúng tốt lành".
Phụng
dưỡng cha mẹ đúng Pháp, được hưởng quả tốt lành như
kệ số 404 sau đây trong Kinh Suttanipàta đã nêu rõ:
"Dhanmena
màtàpitaro bhareyya,
Payojaye
dhammikam so vanijjam
Etam
gihì vattayam appamatto
Sayam
pabhe nàma upeti dive".
"Thờ
mẹ cha đúng pháp,
Buôn
bán đúng, thật thà,
Gia
chủ không phóng dật,
Được
sanh Tự Quang Thiên".
Bước
thêm một bước nữa, đức Phật trong Kinh Tăng tập I, trang
147, dùng một hình ảnh táo bạo hơn nhưng rất linh động
và chính xác để tán dương các gia đình có những người
có hiếu. Những gia đình ấy, được xem ngang bằng với Phạm
Thiên, ngang bằng với các bậc Đạo sư thời xưa, gia đình
đó đáng được cúng dường, tôn trọng. Nói một cách rõ
rệt hơn, là gia đình nào có con cháu biết hiếu dưỡng với
cha mẹ, những gia đình ấy là những gia đình đáng được
cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được chấp tay, ngang
bằng với Phạm Thiên, là những chư Thiện cao nhất ở dục
giới và sắc giới, ngang bằng với các bậc Đạo sư thời
xưa, là những vị đáng được tôn trọng nhất từ xưa đến
nay.
"Những
gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy các con cái kính lễ
(pùjittà) mẹ cha ở nhà, những gia đình ấy được chấp
nhận ngang bằng với Phạm Thiên. Những gia đình nào, này
các Tỷ-kheo, trong ấy các con cái kính lễ cha mẹ ở trong
nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các Đạo sư
thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy các
con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được
chấp nhận là đáng được cúng dường (sàhuneyyakàni).
"Phạm
Thiên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Các Đạo
sư ngày xưa, này các Tỷ-kheo, là các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa
với mẹ cha. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỷ-kheo,
là mẹ cha đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng dục
chúng vào đời".
"Cha
mẹ gọi Phạm Thiên,
Bậc
Đạo sư thời trước,
Xứng
đáng được cúng dường,
Vì
thương đến con cháu.
Do
vậy bậc hiền trí,
Đảnh
lễ và tôn trọng.
Dâng
đồ ăn và uống,
Vải
mặc và giường nằm,
Thoa
bóp (cả thân mình).
Tắm
rửa cả chân tay.
Với
sở hành như vậy,
Đối
với mẹ và cha,
Đời
này người hiền khen,
Đời
sau hưởng thiên lạc"
(Tăng
Chi II A, trang 94)
Và
chính Saka (Đế Thích), vị Thiên chủ ở cõi Tam thập tam thiên
cũng nhờ công ơn phụng dưỡng cha mẹ và sau được sanh làm
Thiên chủ (Sakka). Như đoạn kinh sau đây diễn tả (Tương
Ưng tập I, trang 288):
"Này
các Tỷ-kheo, thuở xưa khi Thiên chủ (Sakka) còn là người,
vị này chấp trì và thực hành bảy cấm giới. Nhờ chấp
chỉ bảy cấm giới này. Vị ấy được địa vị Sakka".
"Ai
hiếu dưỡng cha mẹ,
Kính
trọng bậc gia trưởng,
Nói
những lời nhu hoà,
Từ
bỏ lời hai lưỡi,
Chế
ngự lòng xan tham,
Là
con người chân thực,
Nhiếp
phục được phẫn nộ,
Với
con người như vậy,
Chư
Thiên Tam thập tam,
Gọi
là bậc chân thân".
Khi
đáng giá giá trị con người, đức Phật không bao gìơ quên
đề cập đến hiếu thuận và Ngài đánh giá con người có
hiếu rất cao.
Trong
khi đó có người xem:
"Giữa
các loài hai chân,
Sát-ly
là tối thắng;
Giữa
các loài bốn chân,
Bò
đực là tối thắng;
Trong
các loài thê thíêp,
Quý
nữ là tối thắng;
Trong
các loài con trai,
Trưởng
nam là tối thắng".
Thế
Tôn xác nhận rất sai khác như sau:
"Giữa
các loài hai chân,
Chánh
giác là tối thắng;
Giữa
các loài bốn chân,
Thuần
thục là tối thắng;
Trong
các loài thê thiếp,
Nhu
thuận là tối thắng;
Trong
các loài con trai,
Hiếu
thuận nam là tối thắng".
(Tương
Ưng tập một, trang 8)
Cha
mẹ khi sinh con, tự nhiên muốn con phụ giúp cho mình để xây
dựng gia đình, và vì vậy người con cần phải hiểu bổn
phận của mình, đừng để cho cha mẹ phải thất vọng. Bài
kệ sau đây, trong Kinh Tăng Chi tập 2B, trang 69, nói lên sự
mong ước ấy của cha mẹ, và lòng biết ơn, nhớ ơn của
những người con có trí:
"Do
thấy năm sự việc,
Bậc
trí muốn con trai,
Được
giúp, giúp ta lại,
Sẽ
làm việc cho ta,
Sẽ
duy trì lâu dài,
Truyền
thống của gia đình.
Sẽ
tiếp tục gìn giữ,
Gia
sản được thừa hưởng.
Hay
đối với hương linh,
Hiến
dâng các vật cúng.
Do
thấy sự việc ấy,
Bậc
trí muốn con trai.
Bậc
hiền thiện chân nhân,
Nhớ
ơn biết trả ơn.
Nhớ
đến việc làm xưa,
Chúng
hiếu dưỡng cha mẹ,
Chúng
làm mọi công việc,
Như
trước làm cho chúng.
Thực
hiện lời giảng dạy,
Đươc
giúp, hiếu dưỡng lại.
Với
truyền thống gia đình,
Duy
trì được lâu dài
Đầy
đủ tín và giới,
Con
trai được tán thán".
Khi
đã nói đến nhớ ơn và trả ơn mẹ cha, chúng ta sẽ thấy
đức Phật nhấn mạnh đến và đề cao đức tánh nhớ ơn
và trả ơn một cách rất đặc biệt như thế nào, trong đoạn
kinh sau đây sẽ nêu rõ (Tăng Chi tập 2B, trang 210):
Các
người Licchavi thưa với đức Phật có năm châu báu khó tìm
lại được ở đời là voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ
báu và cư sĩ báu, đức Phật lại nói đến năm châu báu
khác khó tìm đuợc ở đời, vì là những châu báu có thể
đem lại sự giải thoát đau khổ cho chúng sinh: "Sự hiện
diện của Như Lai, bậc A-la-hán, chánh đẳng giác khó tìm
được ở đời. Và hạng người có thuyết giảng Pháp và
Luật do Như Lai tuyên bố, khó tìm được ở đời. Và người
hiểu được lời thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai
tuyên bố, khó tìm đuợc ở đời. Và người đem thực hành
các Pháp và tùy Pháp được hữu hiệu, từ lời thuyết giảng
về Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố, khó tìm được ở đời.
Và người biết ơn và nhớ ơn khó tìm đuợc ở đời". Khi
nói đến biết ơn và nhớ ơn trước hết là nói đến biết
ơn và nhớ ơn cha mẹ.
Nhưng
dù đức Phật có khuyên các người con nên phụng dưỡng cha
mẹ, Ngài cũng đề cao cảnh giác những người con vì muốn
phục vụ cho cha mẹ mà làm các ác hạnh vào thân, về lời
nói, về ý nghĩ.
Vấn
đề ở đây, được đức Phật đặt ra rất khác biệt. Phụng
dưỡng cúng dường cha mẹ là điều nên làm, nhưng vì muốn
cha mẹ sung sướng mà làm việc bất nhân, thời nhất định
đức Phật không thể nào chấp nhận. Trong kinh Dhànanjàni,
Trung Bộ Kinh tập II, trang188a; Ngài Sàriputta đã khéo hỏi
Dhànanjàni: "Này Dhànanjàni, nhà ngươi nghĩ thế nào? Một
người vì cha mẹ làm các điều phi pháp, làn các điều bất
chánh, hay một người vì cha mẹ làm các điều đúng pháp
làm các điều chân chánh, ai tốt đẹp hơn?"
"Thưa
Tôn giả Sàriputta, người vì cha mẹ làm các điều phi pháp,
làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp. Và
thưa Tôn giả Sàriputta, người vì cha mẹ làm các điều đúng
pháp, làm các điều chân chánh, người ấy tốt đẹp hơn"...
Và
ngài Sàriputta kết luận: "Này Dhànanjàni, có những hành động
khác, cá nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể
phụng dưỡng cha mẹ, không làm các điều ác, làm được
các thiện hành. Người đã làm ác để nuôi cha dưỡng mẹ,
cũng không thể nào tránh khỏi quả báo của những hành vi
bất thiện của mình; và như vậy, không thể lấy lý do nuôi
dưỡng cha mẹ để tự cứu mình và để bào chữa cho những
hành động bất chánh của mình."
Như
đoạn kinh sau sẽ nêu rõ:
"Dhànanjàni,
nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì cha mẹ làm
điều phi pháp, làm các điều bất chánh. Do nhân duyên làm
các điều bất chánh, các quân địa ngục quăng kéo nó vào
địa ngục. Nó có làm được gì khi nó nói: 'Tôi vì cha mẹ
làm các điều phi pháp, đã làm các điều bất chánh, chớ
có để các quân địa ngục kéo tôi vào địa ngục'. Hay cha
mẹ có làm gì được khi nói: 'Con chúng tôi đã vì cha mẹ
làm các điều phi pháp, đã làm các điều bất chánh. Chớ
để quân địa ngục kéo nó vào địa ngục'?"
- "Thưa
không được, Tôn giả Sàriputta. Các quân địa ngục vẫn
quăng nó xuống địa ngục vẫn quăng xuống đại ngục, dù
nó than khóc".
Không
những đức Phật khuyên các người con không nên vì cha mẹ
mà làm các điều ác, vì làm như vậy chỉ đem tai hại cho
tự thân mà cón đem lại sự nguy hại cho mẹ cha. Đức Phật
còn khuyên các người con còn phải làm thế nào để cha mẹ
từ bỏ con đường bất thiện, dấn thân vào con đường thiện.
Trong Tăng Chi bộ Kinh tập một, trang 75; khi đề cập đến
các vị chân nhớ ơn và đền ơn cha mẹ, đức Phật dạy
rằng:
"Những
ai đền ơn bằng cách nuôi dưỡng, cúng dường cha mẹ với
các của cải, vật chất, tiền bạc thời không bao giờ đủ
để trả ơn cha mẹ. Nhưng này các Tỷ-kheo, ai đối với cha
mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào
thiện giới, đối với cha mẹ xan tham, khuyến khích, hướng
dẫn an trú vào bố thí; đối với cha mẹ theo ác trí tuệ,
khuyến khích hướng dẫn an trú vào trí tuệ. Cho đến như
vậy, này các Tỷ-kheo là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và
cha".
Nói
cho rõ hơn, trả hiếu bằng cách cúng dường tài sản vật
chất cho cha mẹ chưa đủ để trả ơn, vì của cải tài sản
vật chất dù cho có dồi dào đi nữa, cũng phải vô thường
biến hoại...
Nói
một cách khác, trong trách nhiệm của một giáo chủ, đức
Phật không bao giờ quên mục giải thoát mọi khổ đau của
con người; và vì vậy muốn cho cha mẹ thật sự giải thoát,
con cái cần phải gây dựng lòng tin nơi cha mẹ, hướng dẫn
cha mẹ bỏ các ác hạnh, làm các hạnh lành; từ bỏ xan tham,
thực hành bố thí; và nhất là từ bỏ vô minh, chứng đạt
trí tuệ. Chỉ có như vậy mới thiết thực báo đáp công
ơn cho họ.
Phân
tích lời dạy trên của đức Phật, chúng ta thấy khởi điểm
là xây dựng lòng tin nơi cha mẹ nếu cha mẹ chưa có lòng
tin. Lòng tin ở đây là lòng tin Chánh pháp, và Chánh pháp không
có nghĩa là lời Phật dạy, mà Pháp còn có nghĩa là chân
thật, là quyết định tánh hiền thiện. Pháp là những gì
chân thật, không có hư vọng, không có giả dối; Pháp là
những gì hiền thiện tốt đẹp, không phải độc ác bất
thiện. Và xây dựng lòng tin cho cha mẹ là xây dựng tánh chất
chân thực, tánh chất hiền thiện nơi cha mẹ.
Lời
khuyên thứ hai là một thông điệp bỏ ác làm lành. Nếu cha
mẹ theo ác giới, tức là sống một nếp sống không lành
mạnh, nhiều bất thiện, thời khuyên cha mẹ làm các điều
thiện hạnh về thân, về lời, về ý nghĩ, một đời sống
trong sạch và hiền thiện. Lời khuyên thứ ba là một lời
khuyên nhân đạo, lợi tha, khuyên cha mẹ, nghĩ đến sự đau
khổ của người khác mà bố thí, làm vơi nhẹ những khổ
đau chung quanh ý nghĩ đến tình nhên loại. Lời khuyên thứ
tư không theo ác tuệ, là một lời khuyên chánh kiến chân
thật, xây dựng một các nhìn lành mạnh và hướng thiện
cho cuộc đời.
Và
chúng ta cũng không lấy làm lạ, khi tội giết mẹ được
đức Phật liệt kê vào năm tội ngũ nghịch, một tội mà
phạm nhân không bao giờ thoát khỏi địa ngục, như được
trích trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 2b, trang 185:
"Có
năm nghịch tội (parikuppa) này, này các Tỷ-kheo, đưa đến
đoạ xứ, đưa đến địa ngục, không thể chữa trị. Thế
nào là năm? Đoạt mạng của mẹ, đoạt mạng của cha, đoạt
mạng của vị A-la-hán, với ác tâm làm Như Lai chảy máu và
pháp hòa hợp Tăng".
"Này
các Tỷ-kheo, năm pháp ngũ nghịch này đưa đến đoạ xứ,
đưa đến địa ngục, không thể chữa trị".
Và
vì vậy khi Vua Ajàtasattu (A-xà-thế) đến yết kiến đức
Phật và nghe pháp, như đã được ghi chép trong Kinh Sa môn
quả, Trường Bộ Kinh. Vua đã chịu nhận tội giết cha của
mình và ăn năn hối tiếc:
"Bạch
Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội vì ngu si, vi vô minh,
vì bất thiện; con đã hại mạng phụ vương con, một vị
vua chơn chánh đế đoạt vương quyền. Mong Thế Tôn nhận
cho con tội ấy là một tội để con ngăn đón về tương lai".
Và
đức Phật chấp nhận tội ấy cho vua:
"Này
đại vương, thật là một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh,
vì bất thiện, đại vương đã hại mạng một vị vua chơn
chánh, để đoạt vương quyền. Vì đại vương đã thấy tội
ấy là một tội, đã thú tội đúng với Chánh pháp, Ta nhận
tội ấy cho đại vương. Đó là một sự tiến bộ. thưa đại
vương, trong luật pháp của bậc Thánh: Những ai thấy tội
là tội, thú tội đúng Chánh Pháp và ngăn đón ở tương lai".
Và
khi vua Ajàtasattu từ biệt và ra đi, đức Phật đưa ra nhận
xét như sau: "Này các Tỷ-kheo, tâm của vị vua ấy rất ăn
năn. Này các Tỷ-kheo, cái tâm của vị vua ấy rất hối quá.
Nếu vị vua rất chơn chánh, thì ngay trong chỗ ngồi này, vua
ấy đã chứng được pháp nhãn, không trần cấu, không ô
uế".
Trong
những đoạn kinh trên, chúng ta đã thấy rõ ngang qua lời dạy
của đức Phật, công ơn trời biển của cha mẹ như thế
nào, bổn phận đền ơn và trả ơn của con cái phải như
thế nào, và như vậy đức Phật không bao giờ quên khuyên
dạy các đệ tử biết lòng nhớ ơn và trả ơn cha mẹ. Tuy
vậy, Ngài hiểu được tâm tánh của chúng sinh một cách sâu
sắc và xác thực, và vì vậy, chắc Ngài cũng phải buồn
lòng khi đưa ra nhận xét rằng số chúng sinh không có hiếu
với cha mẹ nhiều hơn là chúng sinh có hiếu với cha mẹ,
như đã được ghi trong Tương Ưng Bộ kinh tập 5B, trang 255
(bản ronéo):
...
Rồi Thế Tôn lấy một ít đất trên đầu móng tay và bảo
các Tỷ-kheo: "Các ngươi nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo? Cái
nào là nhiều hơn, một ít đất Ta lấy trên đầu móng tay?"
-"Chúng
con không thể ước tính được, so sánh được có thể thành
một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn, với
một ít đất Thế Tôn lấy trên đầu móng tay".
-"Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là chúng sinh có hiếu kính với
mẹ. Và nhiều hơn là chúng sinh không hiếu kính với mẹ...
Cũng vậy ít hơn là chúng sinh có hiếu kính với cha mẹ. Và
nhiều hơn chúng sinh không hiếu kính với cha... ".
Và
với nhận xét trên đây, khi đức Phật thấy một người
cha già bị các người con đuổi ra khỏi nhà, không nuôi dưỡng,
vì cha già yếu vô dụng, đức Phật liền can thiệp cà dạy
cho người cha học thuộc lòng và đọc lên bài sau đây (Tương
Ưng Bộ Kinh tập một, trang 218), khi quần chúng tụ họp tại
thính đường và giữa các người con đang ngồi họp:
"Khi
chúng sinh, tôi sướng,
Tôi
muốn chúng sinh thành,
Cùng
vợ chúng âm mưu,
Chống
tôi và đuổi tôi,
Chẳng
khác gì con chó,
Xua
đuổi bầy heo lợn.
Ác
độc và lỗ mãng.
Chúng
gọi tôi: "Cha thân"
Chúng
thật quỷ Dạ Xoa,
Đội
lốt là con tôi
Và
chúng đuổi tôi ra,
Khi
tôi đến tuổi già,
Như
ngựa già suy nhược.
Bị
đuổi khỏi chuồng ăn.
Nay
cha già bọn trẻ,
Phải
xin ăn ở người .
Thà
cho tôi cái gậy,
Hơn
lũ con bất hiếu,
Với
gậy chận bò dữ,
Chận
được loài chó dữ.
Chỗ
tối dò an toàn,
Chỗ
sâu, tìm chân đứng,
Với
sức mạnh chiếc gậy,
Vấp
ngã đứng dậy được"
Người
cha làm theo như lời Phật dạy và các người con khi nghe người
cha đọc lên bài kệ này, liền hối hận ăn năn và đem người
cha về nuôi.
Hình
ảnh người cha già bị các người con bất hiếu hất hủi
vì lớn tuổi vô dụng, là một cảnh giác nghiêm trọng mà
đức Phật đã kéo nhắn nhủ chúng ta, và nhất là mùa Vu
Lan này, chúng ta cũng nên tự kiểm điểm lấy mình, và xem
lại chúng ta đã và đang đối xử với cha mẹ chúng ta như
thế nào?
Chúng
ta đã được nghe một số lới Phật dạy nói về chữ Hiếu,
nói đến công ơn trời biển của cha mẹ, nói đến trách
nhiệm của con cháu đền ơn đáp nghĩa cha mẹ. Chúng ta đã
được hiểu rằng không phải lễ nghi là chính yếu mà chính
những hành động cụ thể, nuôi dưỡng cha mẹ mới là quan
trọng. Chúng ta cũng hiểu được rằng, cách trả ơn tốt
nhất là hướng dẫn cha mẹ bước vào con đuờng chánh thiện,
bỏ ác giới, bỏ xan tham, theo đời sống đạo đức, thực
hành bố thí, bỏ con đường ô minh tối tăm, hướng đến
ánh sáng của trí tuệ quang vinh. Và ở nơi đây, chúng ta càng
thấy rõ vai trò chánh pháp đã hướng dẫn chữ Hiếu đạt
đến những thiện quả tốt đẹp và thù thắng.
Nhưng
rồi đức Phật cũng cảnh giác chúng ta rằng, với sự nhận
xét của Ngài, người không có hiếu với cha mẹ nhiều hơn
là người có hiếu với cha mẹ. Và hình ảnh của người
cha già bị con cháu ruồng bỏ vì già yếu vô dụng đuợc
đức Phật can thiệp, cũng là một cảnh giác não lòng cho
chúng ta suy nghĩ, và đánh giá lại niềm hiếu thảo của chúng
ta đối với cha mẹ, và xem có gì khiếm khuyết để bổ túc
cho đươc chu đáo tốt đẹp hơn. Nhất là trong các mùa Vu
Lan, chúng ta hãy thành tâm hướng niệm đến công ơn của
cha mẹ và thực hiện ngay những gì chúng ta có thể làm được,
để cha mẹ hoan hỉ an lạc. Và đi xa hơn nữa, hạnh phúc
tốt đẹp nhất để dành cho cha mẹ như lời Phật dạy là
hướng dẫn cha mẹ vào con đường hành thiện, bỏ ác làm
lành, xây dựng lòng tin, theo Chánh pháp, và đạt giải thoát
sanh tử khổ đau.
Nhân
dịp lễ Vu Lan năm nay, chúng tôi xin cầu chúc toàn thể quý
vị một mùa báo Hiếu viên mãn, đầy đủ ý nghĩa cao quý
tốt đẹp đúng như lời Phật dạy. Xin kính chúc quý vị
song thân người còn cũng như kẻ mất, được thọ hưởng
nhiều duyên lành, nhiều phước đức thù thắng tốt đẹp
trong mùa Vu Lan này.
18
CHỮ
HIẾU TRONG KINH TẠNG HÁN VĂN
Chúng
ta có thể nói rằng, một người Á Đông, một người dân
Việt Nam không thể không có hiếu với cha mẹ. Lòng biết
ơn cha mẹ đã trở thành tánh tự nhiên, ăn sâu vào tâm của
những người phương Đông; và khi lọt lòng chào đời, đứa
con như đã thâm cảm được tất cả ân đức sâu dày của
cha mẹ đã tác thành và đã thương yêu mình. Một người
Việt Nam không ghi ơn và trả ơn cha mẹ thì còn là một người
Việt nữa, vì người ấy đã tự mình bới gốc rễ những
gì tinh hoa nhất của tinh thần Viêt Nam, tự mình phá huỷ
những gì cao đẹp nhất của tinh thần dân tộc.
Tinh
hoa và tinh thần cao đẹp ấy của người dân Việt, không
phải chính tự nhiên mà có, mà chính là nhờ ảnh hưởng
của cả một nền giáo dục, một tổ chức văn hóa từ ngàn
xưa để lại, xứng hợp với bản tánh, với phong tục của
người Á Đông, của dân tộc Việt Nam; và nhờ vậy mà truyền
thống từ lâu đời này qua đời khác vẫn được mật thiết
duy trì phát triển. Trong tất cả các ảnh hưởng, ảnh hưởng
lớn nhất của đạo Phật, một tôn giáo, một nền giáo dục
được truyền vào Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ I, được
đi sâu vào tầng lớp quần chúng và mãi được duy trì, qua
các thời đại; cho đến ngày nay vẫn được đa số dân chúng
tôn thờ quy ngưỡng. Chúng ta hãy tìm ở đây quan điểm đạo
Phật đối với chữ Hiếu như thế nào, và những lời Phật
dạy đã có ảnh hưởng gì đối với dân tộc Việt Nam.
Trước
hết, đạo Phật nêu rõ công ơn của cha mẹ đối với con
cái, công ơn sâu dày thâm trọng không thể nào tả xiết.
Với lý tương quan tương duyên giữa mọi sự vật trong vũ
trụ, đức Phật đã trình bày rõ ràng luật tương quan sinh
tồn của con người; và người con được sống ở đời được
thành người tất cả là nhờ công ơn sanh thành dưỡng dục
của mẹ cha trải biết bao năm tháng. Hãy thành kính đọc
lên những câu kinh thấm nhuần đạo Hiếu của người con
đã nhớ đến nỗi đau khổ của người mẹ trong khi thai sản:
"Ở
đời mẹ hiền chịu thai con
Mười
tháng cưu mang luôn chịu khổ
Với
năm dục lạc, tình không đắm
Tùy
thời ăn uống cũng chung đồng
Ngày
đêm canh cánh lòng thương xót
Đi
đứng nằm ngồi chịu khổ đau
Đến
thời mãn nguyệt sanh con dại
Đau
tợ dao gươm cắt ruột gan
Mê
mẫn đông tây không phân biệt
Khắp
thân đau đớn khó nhẫn kham... "
(Kinh
Tâm Địa Quán)
Và
những người dân quê trong những phút chạnh lòng tưởng nhớ
đến cha mẹ, hát lên câu ca dao:
"Công
cha như núi Thái Sơn
Nghĩa
mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một
thời thờ mẹ kính cha
Cho
tròn chữ Hiếu mới là đạo con".
Có
lẽ, người dân quê mộc mạc ấy đã được một vị Tổ
sư nào xa xưa dạy cho câu kinh này trong Tâm Địa Quán:
"Cha
lành ơn cao như non Thái
Mẹ
hiền ân sâu như biển cả
Nếu
ta ở đời trong một kiếp
Nói
ân mẹ hiền không thể hết".
Có
người tự cho mình là văn minh dám nói rằng: "Cha mẹ không
có ân gì với con cả, chỉ muốn thoả mãn một chút dục
tình mà chẳng may sinh con, nay nuôi nấng, chịu khổ cực vì
con là phải lắm". Nhưng đã sanh ra làm con người, ai lại
khỏi có dục tình? Vì còn phải sống trong dục giới nên
mới lập gia đình, mới sanh con đẻ cái, mới tác thành con
người, nào có gì là vượt khỏi địa giới con người đâu?
Nhưng cha mẹ một khi sanh con, không một cha mẹ nào lại không
hy sinh cho con, và vui lòng chịu cực khổ vì con. Nhưng cha mẹ
chịu chết vì con thì nhiều, những người con chịu chết
vì cha mẹ hiếm lắm. Như vậy làm sao dám tính toán so lường
ân cao nghĩa trọng của mẹ cha?
Hãy
đọc hai đoạn kinh sau đây để thành kính nghiêng mình trước
hình ảnh hai bậc ân nhân cao trọng của những người con
biết vinh dự được làm người con:
"Cha
mẹ đối với con cái, ân đức cao nặng sâu dày; ân đức
sản sanh từ tâm bú mớm, ân đức tắm giặt nuôi nấng trưởng
thành, ân đức cung cấp các món cần dùng, ân đức chỉ dạy
cách sống ở đời. Cha mẹ luôn luôn muốn con rời khổ được
vui, không bao giờ xao nhảng nhớ con thương con như ảnh theo
hình". (Kinh Bổn Sự)
"Ân
cha hiền lớn như núi cả, ân mẹ hiền to như bể rộng, không
gì hơn một niềm hiếu thuận, đem vật nhỏ mọn nuôi dưỡng
mẹ lành. Ở đời lấy gì làm sáng, lấy gì làm tối? Mẹ
hiền còn sống gọi là mặt trời sáng chói; mẹ hiền mất
rồi gọi là đêm tối u ám". (Kinh Tâm Địa Quán)
Tình
tương thân tương ái giữa cha mẹ và con cái ấy sở dĩ mặn
nồng và mãnh liệt, cũng nhờ đạo lý đồng thể Đại Bi
của đạo Phật khai sáng một phần nào. Người mẹ trong khi
ôm ấp đứa con, đã nhận chân được máu thịt của con chính
là máu thịt của mình, thân xác của con chính là thân xác
của mình. Vì vậy cho nên, người mẹ là người đã khổ
với nỗi khổ của con, đã vui sướng với nỗi vui sướng
của người con. Lòng hy sinh không bờ bến bắt nguồn từ
tâm Đại Bi của các vị Bồ-tát đã ngụyên trọn đời cứu
độ cho chúng sinh, chung vui chịu khổ với chúng sinh, thể
nhập vào thân xác của từng chúng sinh, để giáo hóa cứu
độ cho chúng sinh, và đức Bồ-tát Quán Thế Âm, bà mẹ của
những bà mẹ, đã được toàn thể chúng sinh tôn xưng là
bậc Từ Mẫu ngàn đời của những người con xoay vần trong
biển xanh từ đau khổ.
Người
mẹ Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp
là người mẹ bất diệt trên lịch sử hùng cường của nòi
giống Việt Nam. Trong lúc nước nhà điêu linh, gia đình tan
nát, những bà mẹ không những tự tay phải lo sự sống xa
gia đình, xa nhà, tản mát trên trận địa để chống giữ
bờ cõi nước nhà. Cứ mỗi tin một người con bỏ mình trong
nạn chiến tranh cũng làm trào động bể nước mắt đau khổ
của bao bà mẹ. Nếu "Nước mắt của chúng sinh tràn đầy
bốn bể đại dương" như lời Phật dạy, thời ba phần nước
mắt ấy phải để dành riêng cho tình thương của những bà
mẹ lên chùa khẩn cầu chư Phật gia hộ cho con mình được
mọi điều an lành trong khi xa vắng. Nhìn cử chỉ chí thành
chí kính, nghe tiếng khẩn vái thiết tha não ruột, lòng người
con Phật sao khỏi cảm động bồi hồi. Trong khi mình không
được ở bên con để lo miếng cơm manh áo, để kết khuy
nút cho con, để kéo mền đắp cho con trong cơn mưa lạnh, để
che chở cho con khỏi bị các loại nạn nguy hiểm, những bà
mẹ Việt Nam lên chùa khẩn cầu đức Phật, bà mẹ của những
bà mẹ, thành kính gửi tình thương của chính tự lòng mình,
nhờ chư Phật chuyển đạt lòng thương ấy đến bên người
con, âu yếm che chở cho con. Những lời khẩn cầu nồng nàn
chí thiết của ngàn vạn bà mẹ Việt Nam đã toả rộng làn
sóng tình thương, lan khắp hang cùng ngõ hẻm. Và những người
con trong khi xa nhà, vắng bóng mẹ hiền, cũng cảm thấy lòng
mình được sởi ấm, lòng thương mẹ, thương nước dạt
dào thêm. Chúng ta có thể nói: "Chỉ có những bà mẹ mới
hiểu được tình thương của những bà mẹ. Chỉ có các vị
Bồ- tát mới hiểu được tình thương của những bà mẹ
Việt Nam ".
Một
lần nữa, chúng ta hãy thành kính nghe lời tán thánh của đức
Phật đối với những bà mẹ hiền:
Quả
đất ở đời gọi là nặng
Mẹ
hiền ơn nặng quá hơn nhiều
Tu-di
người đời gọi là cao
Mẹ
hiền ân cao quá hơn nhiều
Gió
lốc ở đời gọi là mau
Nhất
niệm mẹ hiền mau hơn nhiều"
(Kinh
Tâm Địa Quán)
Nếu
bà mẹ là cả một tình thương bộc lộ mãnh liệt, say đắm,
thời người cha Việt Nam thương con lại kín đáo, mạnh liệt,
và sáng suốt hơn. Một người bạn đã đến nói với chúng
tôi: "Mãi khi hơn hai mươi tuổi tôi mới biết cha tôi thương
tôi". Quen sống với đời sống bên trong, và tự nhận thiên
trách của mình khác hẳn với bà mẹ, người cha chú trọng
hơn nhiều đến sự giáo dục và tác thành cho con, muốn con
trở thành trở thành những người lý tưởng của mình, nối
nghiệp cho cả giòng giống tổ tiên của mình. Lòng thương
can đảm và bình tĩnh ấy khiến người con nông nổi khó chịu
thật, nhưng chính là cả một sức mạnh khiến các người
con sống đúng với tinh thần gia tộc, xứng đáng là một
người con lý tưởng cho gia đình, cho nước nhà. Một người
con đến xin phép cha cho ra trận, người cha nói tự nhiên:
"Ừ thôi con đi, gắng sao cho xứng đáng nước non nhà". Một
tin đưa từ mặt trận về: "Người con đã từ trần", người
cha thốt lên một câu: "Chết vinh còn hơn sống nhục. Con mình
xử sự đúng với tinh thần của gia đình, của Tổ Quốc
là đủ". Rồi mặc cho vợ con khóc lóc, người cha thản nhiên
châm thuốc hút. Nói rằng người cha không biết đau vì con
là không hiểu một chút nào tâm trạng của người cha, đã
phải nuốt giận chịu đắng, để đủ sáng suốt, đủ can
đảm mà nắm cương lãnh gia đình, để đào tạo những người
con lý tưởng cho đất Việt. Người cha Việt Nam thản nhiên,
lãnh đạm, nhưng cương quyết ấy đã sống đúng với tinh
thần Á Đông, kín đáo, trọng lý trí, trọng lý tưởng và
quên mình nghĩ đến gia tộc, nghĩ đến Tổ quốc, nghĩ đến
nhân loại. Chính tình thương sáng suốt và kín đáo ấy đã
được đức Phật Thích Ca Mâu Ni hiện thân tượng trưng một
cách thiết thực và toàn cõi Á Đông đều thành kính tôn
xưng Ngài là đấng Từ Phụ của muôn loài.
Đối
với tình thương cao cả và mãnh liệt của những bậc cha
mẹ như vậy, đạo Phật luôn nhắc nhủ các người con phải
biết ơn và nhớ ơn. Kinh Đại Tập dạy rằng: "Gặp thời
không có Phật, khéo thờ cha mẹ tức là thờ Phật". Kinh Tứ
Thập Nhị Chương đã từng nói: "Thờ trời đất quỷ thần,
không bằng có Hiếu với cha mẹ, vì cha mẹ là vị thần minh
cao nhất trong các thần minh". Với hai lời dạy trên, đức
Phật tôn trọng cha mẹ đến bậc nào, và chúng ta thấy hiếu
hạnh là một trong những hạnh cần thiết nhất của người
Phật tử. Chính đức Phật luôn luôn nhắc nhở công ơn của
cha mẹ Ngài:
"Ta
trải qua nhiều kiếp tinh tấn nay mới thành Phật, toàn là
công ơn cha mẹ Ta. Vậy nên, người muốn học đạo không
thể không tinh tấn hiếu thảo với cha mẹ". (Phân Biệt Kinh)
"Ta
tự nhớ trong nhiều kiếp quá khứ, từ tâm hiếu thuận cúng
dường cha mẹ; do công đức như vậy, nên lên các tầng trời
thì làm vị Thánh vương" (Kinh Hiền Ngu).
Công
đức hiếu hạnh thật không thể nghĩ lường và muốn thành
tựu tư cách của con người trên đường đời cũng như trên
đường đạo không thể không nghĩ đến hạnh báo Hiếu.
"Điếu
thiện tối cao không gì hơn hiếu; điều ác, ác nhất không
gì hơn bất hiếu" (Kinh Nhẫn Nhục).
"Làm
con đối với cha mẹ đem lễ mọn cúng dường thì được
phước vô lượng, làm chút điều bất thiện đối với cha
mẹ thì tội cũng vô lượng" (Kinh Tập Bảo Tạng).
Công
đức báo hiếu đã được đức Phật luông luôn tán thán,
và đạo làm con không thể nào không nghĩ đến sự hiếu dưỡng
cha mẹ, nên cách báo hiếu thiết thực chơn chánh, được
đức Phật chỉ dạy rất nhiều và rất tinh tường.
Biết
ân cha mẹ và muốn báo đáp ân đức cũng chưa đủ. Hệ trọng
là phải biết cách báo ân chân chánh, thiết thực có lợi
ích cho cha mẹ và cho tất cả mọi người. Thông thường ở
ngoài đời, phần nhiều lo phụng dưỡng cha mẹ khỏi mọi
điều thiếu thốn về vật chất, luôn luôn tôn trọng kính
lễ cha mẹ và xử sự thế nào cho cha mẹ khỏi phải phiền
lòng. Ở nơi đây, chúng ta để ra ngoài những người con chỉ
biết tự lo thân sung sướng mà hất hủi cha mẹ, chúng ta
cũng để ra ngoài những người con làm ô danh gia tộc bằng
những hành vi đê tiện xấu xa, vì những người con này không
còn đuợc gọi là một người con nữa và không được gọi
là người dân Việt nữa - vì không một người Việt nào
lại không có Hiếu. Chúng ta lấy cách báo ân như vậy cũng
tạm gọi là chân chánh; và ở đời, sống cam tâm trong trong
cuộc đời giả tạm, đành chịu những nỗi đau khổ: Già,
Đau, Sống, Chết đoanh vậy, thì không có gì quý bằng sự
phụng dưỡng cha mẹ và sống cuộc đời thanh bạch đạo
đức làm hiển danh cha mẹ. Và đức Phật cũng đã từng khuyên
những người con hãy: "Phụng sự cha mẹ không thiếu thốn,
phàm làm việc phải trình trước cha mẹ rõ... "(Kinh Trường
A Hàm).
Nhưng
mục đích đạo Phật là giải thoát con người khỏi những
nỗi đau khổ căn bản của cuộc đời là Sanh, Lão, Bệnh,
Tử; thời đối với những người của con chí thành chí hiếu,
đức Phật dạy rằng bổn phận của người con là phải làm
thế nào cứu độ cha mẹ thoát khỏi những nỗi khổ cội
rễ của con người. Và chỉ có vậy mới thiết thực báo
ân cha mẹ.
Kinh
Hiếu Tử nói rằng:
"Cúng
dường cha mẹ không bì bằng khuyên cha mẹ làm việc lành
bỏ việc ác".
"Ở
đời gọi là hiếu phải khuyên cha mẹ bỏ ác làm lành".
"Nếu
không thể cải hóa cha mẹ phụng trì Tam Bảo; thời tuy có
hiếu dưỡng cha mẹ, cũng gọi là bất hiếu".
Đức
Phật lại dạy thêm:
"Làm
con phụng dưỡng cha mẹ, dùng trăm vị cam lộ dâng cúng cha
mẹ, dùng thiên nhạc vi diệu làm vui lòng cha mẹ, hai vai tự
cõng cha mười mẹ đi cùng khắp bốn biển, trọn đời đáp
ân nuôi dưỡng cha mẹ, như vậy chưa gọi là Hiếu, Cha mẹ
ngu si không kính thờ Tam Bảo, hung ngược dâm dật, nguy biện
trái đạo... người con phải hết sức cản ngăn, mới gọi
là Hiếu" (Kinh Hiếu Tử).
"Muốn
báo ân cha mẹ, nên khuyên cha mẹ đối với Phật, Pháp, Tăng,
đối với các pháp nhân quả v.v..., cha mẹ chưa tin, khuyên
cha mẹ tin rồi, khiến lòng tin tăng trưởng; cha mẹ không
giữ tịnh giới, khuyên giữ tịnh giới, khuyên làm việc huệ
thí; khéo an trú để tự điều phục. Như vậy, mới gọi
là chân thực báo ân cha mẹ... (Cảnh Sách).
Và
đức Phật so sánh hai cách báo hiếu:
"Lấy
món cam lồ phụng dưỡng cha mẹ là hiếu thế gian. Khuyên
cha mẹ tu tịnh giới là hiếu xuất thế gian. Hiếu thế gian
thì cha mẹ chỉ hưởng phước trong một đời, báo hiếu như
vậy không lớn. Hiếu xuất thế gian cha mẹ hưởng phước
vô tận, vì cha mẹ được sinh Tịnh độ phước thọ trải
vô lượng kiếp; như vậy mới là đại hiếu" (Long Thư Tịnh
Độ Văn).
Chúng
ta thấy rằng, đức Phật trong khi dạy những người con khuyên
cha mẹ phụng thờ Tam Bảo không phải muốn cho mọi người
tôn thờ Ngài và đạo của Ngài như nhiều người lầm tưởng;
chính đức Phật chỉ muốn khai sáng cho tất cả những bậc
cha mẹ, noi theo đường chân chánh sáng suốt, thiết thực
dắt dẫn mọi người thoát khỏi những nỗi khổ mà thôi.
Khi những người con khuyên cha mẹ theo đạo Phật, quy y Tam
Bảo là chỉ muốn cha mẹ được sống giác ngộ giải thoát.
Sống giác ngộ là nhận sự thật hiển nhiên của sự vật
và sống đúng với sự vật ấy, không còn mê mờ mù quáng;
sống giải thoát là sống vượt ra khỏi sự trói buộc của
dục vọng của sự vật, và được sống tự tại thanh tịnh.
Chính chỉ có vậy mới là chân thực báo ân cha mẹ, và chỉ
có vậy mới là báo ân chân chánh; ngoài ra đều chỉ là những
chữ Hiếu giả tạm.
Đối
với cha mẹ đã từ trần rồi, người con cần phải làm thế
nào? Thông thường chú trọng trong lúc đám hiếu đám tang,
kỵ giỗ, tế lễ, làm thế nào cho hương hồn được thoả
mãn và cho miệng thế gian khỏi chê trách là được. Người
Việt Nam rất trọng thờ cúng tổ tiên. Đối với dân tộc
Á Đông, chết rồi không phải là mất hẳn, và các ông bà
cha mẹ vẫn còn sống với con cháu và ủng hộ che chở cho
con cháu. Những ngày kỵ giỗ không những để cho con cháu
có dịp nhớ tưởng đến ông bà mà thôi, mà cũng là một
dịp để nhắc lại tinh thần của gia đình, của gia tộc,
để khuyến khích con cháu phải làm thế nào sống cho đúng
tinh thần ấy. Nhưng mọi sự kính lễ hình như mất hết ý
nghĩa thuần túy xưa, và biến thành những cử chỉ mê tín
dị đoan, làm cho có làm, và nhiều khi gây ra tai hại khác
nữa.
Đạo
Phật với đạo lý Luân hồi trình bày cho chúng ta rõ rằng
cha mẹ ông bà khi chết đi không phải là mất hẳn, mà chỉ
là chuyển nghiệp thác sanh vào một trong sáu cõi phàm mà thôi;
và còn ở trong các cõi phàm là còn phải sanh tử luân hồi
đau khổ. Vì vậy, các người con chí hiếu và sáng suốt phải
chú trọng làm thế nào mà chuyển đổi được trọng nghiệp
của cha mẹ khỏi đoạ lạc trong sáu đường, và nhất là
đừng tạo nên nghiệp ác cho cha mẹ. Ví dụ như, khi cha mẹ
lâm chung, mà khóc than ảo não, làm cho cha mẹ luyến tiếc
không có niệm xả ly, tức là khiến cha mẹ tạo thêm nghiệp
đoạ lạc trong sáu đường dữ. Lại khi cúng tế mà giết
hại các loài súc sanh tức là làm tăng thêm nghiệp ác cho
cha mẹ và bắt buộc cha mẹ phải đoạ lạc. Khi cha mẹ sắp
sửa trút hơi thở cuối cùng, cần nhất phải làm cho cha mẹ
thân tâm thanh tịnh, không có sợ hãi, không có mến tiếc
cõi đời, chỉ có nhất niệm dứt bỏ tất cả dục vọng,
tất cả luyến ái, luôn luôn chí thành hướng niệm chư Phật,
cầu vãng sanh lên cõi Tịnh Độ là một cõi không còn tham
sân si, không còn sanh tử luân hồi. Cần nhất là con cháu
trong nhà đứng xung quanh giường, nhất tâm niệm Phật, không
khóc than, không kêu gào, chỉ giữ chí thành kính cầu nguyện
cho cha mẹ được vãng sanh lên cõi Tịnh Độ mà thôi. Đối
với những cha mẹ ví tạo những nghiệp quá nặng không thể
tự giải thoát được thời các người con có hiếu cần phải
luôn luôn hướng niệm đến cha mẹ và cầu sức chú nguyện
của thập phương tăng, dùng đạo đức tu hành mà chuyển
nghiệp cho cha mẹ khỏi đau khổ luân hồi trong sáu đường
dữ. Tóm lại, đạo Phật rất chú trọng đến hai đức tánh
là Giác ngộ và Giải thoát cho cha mẹ, khi còn sống cũng như
đã mất, bao giờ người con chí hiếu cũng phải nhất tâm
nhất niệm chú nguyện cho cha mẹ được Giải thoát và Giác
ngộ.
Riêng
đối với cha mẹ, người con cần phải báo hiếu như trên,
nhưng đối với tự thân, người con cần phải xử sự thế
nào để đền đáp ân đức sanh thành của cha mẹ? Nhận hiểu
đúng với chân tinh thần đạo Phật, những người con Phật
sẽ tự thấy con đường tiến thân đúng với nghĩa báo hiếu
nhất là tự mình sống đúng với lời Phật dạy. Một người
con can tâm sống trong đêm tối của mê tín, mê muội, nghĩa
là sống trái với tinh thần giác ngộ, tức là khiến cho toàn
thể chúng sinh trong đấy có cha mẹ mình chịu ảnh hưởng
ngu muội của mình; như vậy tức là bất hiếu. Một người
dục vọng sướng trong sự dục lạc vật chất, tức là đem
lửa dục vọng thiêu đốt chúng sinh, trong ấy đau khổ nguy
hại, như vậy tức là bất hiếu. Một người con làm cho chúng
sinh khác đau khổ, trong đấy có cha mẹ mình, như vậy là
bất hiếu. Cử chỉ xứng hợp với tinh thần báo hiếu chân
chính của người Phật tử là sống đúng với lời Phật
dạy và làm mọi người sống đúng với lời Phật dạy.
Ở
nơi đây, cần phải hiểu thêm rằng, một người không phải
là Phật tử mà mọi cử chỉ đều đúng với tinh thần giác
ngộ và giải thoát, thời người ấy thật chính là một Phật
tử chân chính và là một người con chí hiếu. Một người
Phật tử mà xử sự trái với tinh thần giác ngộ và giải
thoát, thì người ấy không phải là người Phật tử chân
chính, và là một người con bất hiếu.
Hiểu
một cách rộng rãi và giải thoát hơn, Hiếu là gì? Nếu không
phải là những hạnh nghiệp diệt trừ những sự sai khác
riêng biệt giữa Phật và chúng sinh, giữa cha mẹ và con cái,
để thể nhập vào bản thể chung cùng rộng rãi của muôn
sự muôn vật. Hiếu hạnh không còn là những chướng ngại
ngăn đón sự giải thoát cá nhân hay toàn thể, không còn là
những nguyên nhân ích kỷ nhỏ nhen khiến cho mọi gia đình
đau khổ để gia đình mình được sung sướng, cũng không
còn là những câu chấp lễ nghi phiền phức làm trở ngại
những sự phát triển chân chánh. Nghĩa chữ Hiếu ở nơi đây
không còn bó hẹp trong phạm vi gia đình, gia tộc, xã hội
mà mở rộng khắp muôn loài muôn vật trong đại gia đình
chúng sinh trong đại gia đình Phật tử.
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni của chúng ta là gương sáng của hạnh
chí hiếu toàn thiện toàn mỹ, và đời Ngài chỉ là phản
ánh trung thành của tâm đức đại Hiếu đại Từ.
Ngày
còn làm Thái tử, nhận hiểu được con người là phải bị
sự đau khổ: Sống, Đau, Già, Chết bức bách, doanh vây. Ngài
nghĩ đến Phụ vương Ngài, nghĩ đến bà Ma-Gia mẹ Ngài cũng
phải quay cuồng hụp lặn trong biển đau khổ ấy. Ngài hiểu
rằng cha mẹ đau khổ là chúng sinh đau khổ, chúng sinh đau
khổ là cha mẹ đau khổ. Lo riêng cứu độ cho cha mẹ, thời
sự cứu độ ấy không được rốt ráo; lo riêng cứu độ
cho chúng sinh, thời không tròn đạo Hiếu.
Ngài
lại hiểu thêm rằng nguyên nhân khổ đau là do mê mờ ái
dục. Vì mê mờ nên không nhận chân được sự thật, vì
ái dục nên say đắm trong cảnh trần lao đau khổ. Chính lòng
thương chúng sinh, lòng hiếu cha mẹ thúc đẩy, Ngài từ bỏ
tất cả quốc thành thê tử để tìm đạo giải thoát cho
cha mẹ, cho muôn loài. Cũng chính lòng thương lòng hiếu ấy
là những sức mạnh giúp Ngài trì chí chuyên tâm, tìm đạo,
tu khổ hạnh, tu thiền định và thành bậc Chánh giác. Thành
đạo, giác ngộ được sự thật, Ngài thực hành ngay chí
nguyện độ sanh kiền đi giáo hóa cứu khổ cho tất cả chúng
sinh, không thể kể xiết.
Rồi
Ngài về thành Ca-tỳ-la-vệ, thuyết pháp cho vua Tịnh Phạn,
lên cung trời Đao Lơi thuyết pháp cho bà Ma-Gia nghe. Đến khi
vua cha lâm bệnh sắp từ trần, Ngài đến bên giường thuyết
pháp giảng dạy khiến cho vua Tịnh Phạn khỏi phải đau khổ,
buồn rầu, và thác sanh lên cõi Tịnh Cư Thiên. Khi đưa đám
vua cha đức Phật cũng một tay bưng quan tài để làm gương
cho cho những người con bất hiếu ở đời, tự thân làm lễ
trà tỳ cho vua cha.
Và
cho đến khi nhập Niết-bàn, Ngài chỉ một từ tâm vô lượng
cứu độ cho toàn thể chúng sinh không một phút giây dừng
nghỉ. Cứ mỗi chúng sinh được hóa độ, đức Phật lại
được tán dương, quy ngưỡng và vua Tịnh Phạn và bà Ma-Gia
lại được tôn kính, được danh tiếng thêm lên. Nếu ngày
nay hàng vạn hàng vạn ức Phật tử biết cung kính, biết
được tên họ của vua Tịnh Phạn và bà Ma-Gia; hàng vạn
ức chúng sinh được giác ngộ giải thoát tất cả là nhờ
công ơn báo hiếu vẹn toàn của đức Phật, một người con
chí hiếu, một bậc cha mẹ đại từ, không thể nghĩ nghì,
không thể ước-lường, không thể tán dương cho hết lời
được.
(1950)
19
THỪA
TỰ PHÁP
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthpindika,
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và thuyết giảng:
"Này
các Tỷ-kheo, hãy là những người thừa tự pháp của Ta, đừng
là những người thừa tự tài vật". Ta có lòng thương tưởng
các Thầy và Ta nghĩ: "Làm sao những đệ tử của Ta là những
người thừa tự pháp của Ta, không phải là những người
thừa tự tài vật?". Và này các Tỷ-kheo, nếu các ngài là
những người thừa tự tài vật của Ta, không là những người
thừa tự pháp, thời không những các Thầy trở thành những
người mà người ta nói: "Cả thầy và trò đều là những
người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa
tự pháp", mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói:
"Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật,
không phải là những người thừa tự pháp".
Này
các Tỷ-kheo, nếu các Thầy là những người thừa tự pháp
của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật, thời
không những các Thầy trở thành những người mà người ta
nói: "Cả thầy và trò là những người thừa tự pháp, không
phải là những người thừa tự tài vật", mà cả Ta cũng
trở thành người mà người ta nói: "Cả thày và trò đều
là những người thừa tự pháp, không phải là những người
thừa tự tài vật".
Do
vậy, "Này các Tỷ-kheo, hãy là những người thừa tự pháp
của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật".
Đức
Phật kể câu chuyện:
- Có
hai vị Tỷ-kheo đến chỗ Thế Tôn, sau khi Ngài dùng cơm đã
xong, một vị Tỷ-kheo nghĩ: "Này Thế Tôn ăn đã xong và đây
là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn đáng lẽ được quăng
bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy
tại chỗ không có cỏ xanh hay bỏ trong chỗ nước không có
chúng sinh". Nhưng Thế Tôn có dạy "Này các Tỷ-kheo, hãy là
người thừa tự pháp của Ta, đừng là người thừa tự tài
vật". Sau khi suy nghĩ, vị ấy không ăn đồ ăn này, trải
qua ngày đêm ấy, đói lả và kiệt sức.
Vị
Tỷ-kheo thứ hai nghĩ: "Nay Thế Tôn ăn xong và đây là đồ
ăn tàn thực của Thế Tôn đáng được quăng bỏ. Nếu chúng
ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không
có cỏ xanh hay bỏ trong chỗ nước không có chúng sinh. Vậy
ta hãy ăn loại đồ ăn này trừ bỏ đói lả và kiệt sức".
Do vậy, vị ấy ăn loại đồ ăn ấy.
Đức
Phật dạy: "Này các Tỷ-kheo, dù cho Tỷ-kheo này sau khi ăn
loại đồ ăn để trừ bỏ đói và kiệt sức, nhưng đối
với Ta, vị Tỷ-kheo đầu tiên đáng được nể hơn, đáng
được tán thán hơn. Vì sao? Vì như vậy sẽ đưa đến cho
Tỷ-kheo ấy trong một thời gian lâu ngày ít dục, biết đủ,
kham khổ, dễ nuôi dưỡng, tinh cần, tinh tấn. Do vậy, này
các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự pháp của Ta, đừng là
người thừa tự tài vật".
Thế
Tôn thuyết giảng xong và đi vào tinh xá.
Lúc
ấy, Tôn giả Sàriputta liền gọi Tỷ-kheo và nói vị: "Này
các Hiền giả, như thế nào là vị Đạo sư sống viễn ly
và các đệ tử không tùy học viễn ly? Và như thế nào vị
Đạo sư sống viễn ly và các đệ tử tùy học viễn ly?"
Các Tỷ-kheo mong được Tôn giả Sàriputta thuyết giảng, Tôn
giả thuyết giảng như sau:
- Ở
đây vị Đạo sư sống viễn ly và các đệ tử không tùy
học viễn ly nghĩa là những pháp nào vị Đạo sư dạy nên
từ bỏ, những pháp ấy không được các đệ tử từ bỏ.
Vì những pháp ấy không được các đệ tử từ bỏ, các
vị ấy sống trong sự đầy đủ, liềng biếng, dẫn đầu
về đoạ lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly.
Này
chư Hiền, có ba trường hợp đáng bị quở trách:
1)
Vị Đạo sư sống viễn ly và các đệ tử không tùy học
viễn ly.
2)
Những pháp nào vị Đạo sư dạy nên từ bỏ, những pháp
ấy các vị ấy không từ bỏ.
3)
Các vị ấy sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về
đoạ lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly.
Đó
là ba trường hợp đáng bị quở trách bởi Thượng toạ Tỷ-kheo,
Trung toạ Tỷ-kheo và tân học Tỷ-kheo.
- Và
như thế nào vị Đạo sư sống viễn ly và các đệ tử tùy
học viễn ly? Những pháp nào vị Đạo sư dạy nên từ bỏ,
các vị ấy không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng,
không dẫn đầu về đoạ lạc, không bỏ rơi gánh nặng sống
viễn ly.
Này
các chư Hiền, có ba trường hợp đáng được tán thán:
1)
Vị Đạo sư sống viễn ly và các đệ tử tùy học viễn
ly.
2)
Những pháp nào vị Đạo sư dạy nên từ bỏ, những pháp
ấy các vị từ bỏ.
3)
Các vị ấy không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng,
không dẫn đầu về đoạ lạc, không bỏ rơi gánh nặng sống
viễn ly.
Đó
là ba trường hợp đáng được tán thán đối với các bậc
Thượng toạ, Trung tọa và tân học Tỷ-kheo.
Ở
đây, này chư Hiền, tham là ác pháp, sân cũng là ác pháp,
có một con đường Trung đạo diệt trừ tham sân, khiến tịnh
nhãn sanh, trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng tri, giác
ngộ, Niết-bàn. Con đường Trung đạo ấy tức là chánh tri
kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh
tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
20
ĐẠI
KINH VÍ DỤ LÕI CÂY
Kinh
này được Thế Tôn thuyết giảng khi xảy ra sự kiện Devadatta
phá hòa hợp Tăng, đem 500 vị Tỷ-kheo đi Gayàsisa, vì Thế
Tôn không chấp nhận cho Devadatta lãnh đạo hội chúng Tỷ-kheo.
Đức
Phật dạy có năm hạng người xuất gia sống Phạm hạnh cùng
một tâm nguyện giải thoát khỏi khổ đau, vượt ngoài sự
chi phối của sanh già chết:
- Hạng
thứ nhất khi xuất gia vị ấy được lợi dưỡng, tôn kính,
danh vọng. Do được lợi dưỡng, tôn kín, danh vọng, vị ấy
hoan hỷ, tự mãn. Do được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng,
vị ấy khen mình chê người: "Ta được lợi dưỡng danh vọng
như vậy, còn các Tỷ-kheo khác ít được biết đến, ít biết
có uy quyền". Vị ấy vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng
này trở thành mê say tham đắm phóng dật. Do sống phóng dật,
nên vị ấy bị đau khổ. Ví như một người muốn được
lõi cây, cầu tìm cõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây đứng trước
một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua
lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài,
chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi
cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: "Thật sự người
này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ
trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Và người
này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành
tựu." Vị Tỷ-kheo ấy được gọi là vị nắm lấy cành lá
của Phạm hạnh.
- Hạng
thứ hai là hạng phát tâm xuất gia được lợi dưỡng, tôn
kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh
vọng này khen mình chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng,
tôn kính, danh vọng trở thành mê say, tham đắm, phóng dật.
Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do
thành tựu giới đức này, vị ấy khen mình chê người: "Ta
là người trì giới theo thiện pháp. Các Tỷ-kheo khác phá
giới theo ác pháp". Do thành tựu giới đức này, vị ấy trở
thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị
ấy bị đau khổ. Ví như một người muốn được lõi cây,
tìm cầu lõi cây, trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây
lớn đứng thẳng có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây,
bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng
mang đi tưởng đó là lõi cây, một người có mắt thấy vậy
bèn nói: "Thật sự người này không biết lõi cây, không biết
giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không
biết cành lá, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây,
bỏ qua vỏ trong, chặt lấy vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng
đó là lõi cây. Và người này không đạt được mục đích
mà lõi cây có thể thành tựu." Cũng vậy, ở đây vị Tỷ-kheo
do thành tựu giới đức này, vị ấy trở thành mê say, tham
đắm, phóng dật. Do sống phóng dật vị ấy bị đau khổ.
Vị Tỷ-kheo ấy là vị đã nắm lấy vỏ ngoài của Phạm
hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại ở đây.
- Hạng
thứ ba là các vị xuất gia với mục đích thoát khỏi sanh,
già, bệnh, chết. Vị ấy xuất gia như vậy, không vì lợi
dưỡng, tôn kính, danh vọng