11
TIẾNG
RỐNG CON SƯ TỬ
Có
khi đức Phật khuyên các vị Tỷ-kheo rống tiếng rống con
sư tử trong khi thuyết pháp, tức đức Phật muốn nhấn mạnh
một vấn đề mà các ngoại đạo đều hoảng hốt, lông tóc
dựng ngược. Trong kinh số 11, Trung Bộ, này đức Phật khuyên
bảo các Tỷ-kheo hãy rống tiếng rống con sư tử, tuyên bố
dứt khoát rằng chỉ ở đây, trong giáo pháp đức Phật dạy,
mới có Đệ nhất Sa môn tức là chứng quả Dự lưu; mới
có đệ nhị Sa môn tức là chứng quả Nhất lai; mới có Đệ
tam Sa môn tức là chứng quả Bất lai; mới có đệ tứ Sa
môn tức là chứng quả A-la-hán; còn các ngoại đạo khác
không có bốn hạng Sa môn như vậy.
Một
lời tuyên bố như vậy tất nhiên đem lại những phản ứng
của ngoại đạo: "Chư tôn giả có tin tưởng gì, có sức
lực gì mà giám tuyên bố chỉ ở đây có bốn hạng Sa môn,
ngoài ra không chỗ nào có bốn hạng Sa môn?" Đức Phật khuyên
các Tỷ-kheo trả lời như sau: "Chúng tôi tự chánh kiến bốn
pháp, chúng tôi có lòng tin bậc Đạo sư, có lòng tin pháp,
có sự thành tựu viên mãn các giới luật, có những pháp
hữu của chúng tôi, những người cư sĩ và những người
xuất gia, được chúng tôi thương, được chúng tôi mến".
Đến đây, các ngoại đạo có thể trả lời: "Chúng tôi cũng
có lòng tin bậc Đạo sư, vị ấy là bậc Đạo sư của chúng
tôi. Chúng tôi có lòng tin pháp, pháp ấy là pháp của chúng
tôi, chúng tôi thành tựu viên mãn các giới luật, những giới
luật ấy là giới luật của chúng tôi. Và những pháp hữu
của chúng tôi, những người cư sĩ và cả những người xuất
gia, được chúng tôi mến, được chúng tôi thương. Như vậy
có sự sai biệt gì, có sự đặc biệt gì giữa quý vị và
chúng tôi?"
Đến
đây Thế Tôn khuyên các Tỷ-kheo phải đặt ra một số câu
hỏi: - Cứu cánh là một hay đa diện, cứu cánh cho người
có tham hay cho người không tham; cho người có sân hay người
không sân; cho người có si hay người không si; cho người có
ái hay người không ái; cho người có chấp thủ hay người
không chấp thủ; cho người có trí hay người không trí; cho
người thuận ứng nghịch ứng hay cho người không thuận ứng
không nghịch ứng; cho người ưa hý luận hay người không
ưa hý luận. Trước những câu hỏi dồn dập như vậy, các
ngoại đạo phải tiếp tục trả lời: - Cứu cánh ấy là
một, không phải đa diện, cứu cánh ấy là cha mẹ người
không tham, không sân, không si, không ái, không chấp thủ, người
có trí, không thuận ứng không nghịch ứng, không ưa, không
thích hý luận.
Tiếp
đến đức Phật nêu rõ những sa môn, Bà-la-môn nào không
như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoan diệt, vị ngọt,
sự nguy hiểm và sự xuất ly của hai loại tùy kiến: Hữu
và Phi hữu, vị ấy sẽ không thành tựu được tám pháp đưa
đến cứu cánh giải thoát.
Rồi
đức Phật dạy có hai loại tri kiến: Hữu kiến và Phi hữu
kiến. Những sa môn, Bà-la-môn nào chấp trước kiến, thân
thiết hữu kiến, những vị ấy bị chướng ngại đối với
phi hữu kiến, thân thiết phi hữu kiến, những vị ấy bị
chướng ngại đối với hữu kiến. Những sa môn, Bà-la-môn
nào không như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt
của hai loại kiến này, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất
ly của hai loại kiến này, những vị này là những vị có
tham, có sân và có si, có ai, có chấp thủ, ưa hý luận, thích
hý luận; những vị ấy là những vị không giải thoát khỏi
sanh già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Thế tôn nói những
sa môn, Bà-la-môn nào như thật tuệ tri sự tâp khởi và sự
đoạn diệt của hai loại kiến này, vị ngọt, sự nguy hiểm
và sự xuất ly của chúng, những vị này là những vị không
tham, không sân và không si, không ái, không chấp thủ, không
ưa hý luận, không thích hý luận; những vị ấy giải thoát
khỏi sanh già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Thế Tôn tuyên
bố những vị ấy giải thoát khỏi khổ đau.
Đề
cập xong hai loại tà kiến, đức Phật phân tích bốn chấp
thủ, tức là dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ và ngã
luận thủ. Có những sa môn, Bà-la-môn tuy tự xưng là liễu
tri tất cả thủ, nhưng chỉ có khả năng hiển thị sự liễu
tri về dục thủ, nhưng không thể chơn chánh hiển thị sự
liễu tri tất cả thủ. Ở đây đức Phật tuyên bố rõ ràng
là trong một pháp luật như vậy, nếu có tịnh tín đối với
bậc Đạo sư, sống tinh tấn với bậc Đạo sư, tịnh tín
ấy được xem như là không hoàn toàn, nếu có tịnh tín đối
với pháp, tịnh tín ấy được xem như là không hoàn toàn.
Nếu có thành tựu viên mãn các giới luật, sự thành tựu
ấy được xem là không hoàn toàn . Nếu có sự thương mến
đối với những pháp hữu, sự thương mến ấy được xem
là không hoàn toàn. Vì sau như vậy? Thế Tôn tuyên bố: "Sự
tình là như vậy, trong mợt pháp luật không khéo thuyết giảng,
không khéo hiển thị , không có hướng thượng, không dẫn
đến tịch tịnh, không được bậc Chánh Đảng Giác hiển
thị."
Đến
đây, đức Phật nêu rõ vị trị siêu đẳng của Như Lai,
là bậc A-la- hán, Chánh Đẳng Giác, bậc liễu tri tất cả
thủ, chơn chánh hiển thị sự liễu tri tất cả thủ. Ngài
hiển thị sự liễu tri về dục thủ, sự liễu tri về kiến
thủ, sự liễu tri về giới cấm thủ và sự liễu tri về
ngã luận thủ. Trong một pháp luật như vậy, nếu có tịnh
tín đối với bậc Đạo sư, tịnh tín đối với pháp, tịnh
tín ấy được xem là hoàn toàn. Nếu có thành tựu viên mãn
các giới luật, sự thành tựu ấy được xem là hoàn toàn.
Vì sao như vậy? Sự tình là như vậy, trong một pháp luật
khéo thuyết giảng, khéo hiển thị, có hướng thượng, dẫn
đến tịch tịnh, được bậc Chánh Đảng Giác hiển thị.
Rồi
đức Phật truy nguyên, bốn chấp thủ này lấy ái làm nhân
duyên, lấy ái làm tập khởi; xúc lấy sáu nhập làm nhân
duyên, lấy sáu nhập làm tập khởi; thức lấy hành làm nhân
duyên, lấy hành làm tập khởi; hành lấy vô minh làm nhân
duyên, lấy vô minh làm tập khởi. Khi một Tỷ-kheo đã đoạn
trừ vô minh, đã làm minh sanh khởi; vị ấy do vô minh được
đoạn trừ, do minh sanh khởi nên không chấp thủ dục thủ,
không chấp thủ kiến thủ, không chấp thủ giới cấm thủ,
không chấp thủ ngã luận thủ. Nhờ không chấp thủ nên không
tháo động; nhờ không hoảng hốt, tháo động, nên tự thân
chứng được Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: "Sanh đã tận, Phạm
hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không trở lui lại
trạng thái này nữa .
(Tiểu
kinh Sư tử hống, Trung Bộ, kinh số 11).
12
KINH
NGHIỆM GIÁC NGỘ GIẢI THOÁT CỦA ĐỨC PHẬT
PHÁT
XUẤT TỪ CÁC SUY TẦM (VITAKKÀ) THIỆN VÀ ÁC
Trong
kinh Song Tầm, kinh số 19, Trung Bộ, đức Phật giới thiệu
cho chúng ta một kinh nghiệm bản thân tu trì của Thế Tôn,
khởi điểm từ sự phân loại các tầm, thành bất thiện
tầm và thiện tầm, và cách thức ứng xử của Ngài đối
với các tầm bất thiện và tầm thiện, để một mặt loại
trừ các bất thiện tầm, một mặt tăng trưởng của thiện
tầm.
Ngài
thuật lại: "Trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành Chánh Giác,
còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: -Ta sống suy tư chia hai
loại tầm. Phàm có dục tầm nào, sân tâm nào, hại tầm nào,
Ta phân thành một loại. Phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm
nào, bất hại tầm nào, Ta phân thành loại thứ hai". Đối
với bất thiện tầm, Ngài đối xử rất đặc biệt với
mục đích loại trừ chúng. "Ta sống không phóng dật, nhiệt
tâm, tinh cần. khi dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri: Dục tầm
này khởi lên nơi Ta, và dục tầm đưa đến tự hại, đưa
đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ,
dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn. Khi ta
suy tư: Dục tầm đưa đến hại người, dục tầm được
biến mất. Khi ta suy tư: Dục tầm đưa đến hại cả hai,
dục tầm được biến mất. Khi ta suy tư: Dục tầm diệt trí
tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn,
dục tầm được biến mất. Như vậy, Ta tiếp tục từ bỏ,
tẩy trừ, chấm dức dục tầm được khởi lên".
Cũng
vậy đối với sân tầm, hại tầm. Khi chúng ta suy tầm, suy
tư nhiều vấn đề gì, thời tâm sanh khuynh hướng đối với
vấn đề ấy. Khi chúng ta suy tầm, suy tư nhiều về dục tầm,
chúng ta từ bỏ ly dục tầm. Khi tâm đã nặng nề dục tầm
thời tâm vị ấy có khuynh hướng dục tầm. Cũng như vậy
đối với sân tầm, hại tầm. Như vậy là sự ngăn chặn
không cho khởi lên các bất thiện tầm. Rồi đức Phật dùng
ví dụ như một người mục đồng đang chăn bò về mùa thu,
khi lúa đã bắt đầu trổ hạt. Người ấy phải luôn luôn
ngăn chặn không cho con bò chạy xuống ruộng, vì biết rằng
con bò phá hại mùa màng sẽ đưa lại nhiều sự nguy hại,
như đánh đập, trách móc, tù tội v. v... Rồi đức Phật
tuyên bố: "Cũng vậy, ta đã thấy sự nguy hại, như bị đánh
đập, trách móc, tù tội v. v..." Rồi đức Phật tuyên bố:
"Cũng vậy, Ta thấy được sự nguy hại, sự hạ liệt, sự
uế nhiễm của các pháp bất thiện và thấy sự viễn ly,
sự lợi ích, sự thanh tịnh của các pháp thiện".
Đối
với các bất thiện tầm, Thế Tôn đã ngăn chặn sự sanh
khởi, và đoạn trừ chúng, còn đối với thiện tầm thì
trái lại, Ngài tế nhị nuôi dưỡng chúng, giúp chúng phát
triển và hướng tới nhất tâm. Khi ly dục tầm, vô sân tầm,
bất hại tầm khởi lên, Thế Tôn biết, các thiện tầm này
không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không
đưa đến hại cả hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự phần
vào phiền não, đưa đến Niết-bàn. Thế Tôn biết rằng,
nếu Thế Tôn suy tầm, suy tư ngày đêm các thiện tầm, không
phải tùy nhân duyên ấy Thế Tôn thấy sợ hãi, nhưng nếu
Thế Tôn suy tầm, suy tư quá lâu, thân có thể mệt mỏi. Khi
thân đã mệt mỏi thì tâm bị dao động. Khi tâm bị dao động
thì tâm xa lìa định tĩnh. Khi ấy từ nội thân, Thế Tôn
trấn an tâm, trấn tỉnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến
thành định tĩnh. Vì sao vậy? Vì để tâm khỏi dao động.
Nếu
chúng ta suy tầm, suy tư nhiều vấn đề gì, thời tâm sanh
khuynh hướng đối với vấn đề ấy. Nếu chúng ta suy tầm,
suy tư nhiều về ly dục tầm, vô sân tầm, bất hại tầm,
chúng ta từ bỏ dục tầm, sân tầm, hại tầm. Khi tâm được
đặt nặng về ly dục tầm, vô sân tầm, bất hại tầm, thời
dục tầm, hại tầm bị loại trừ. Ví như vào tháng hè, khi
tất cả lúa gạo đều cất vào kho, người chăn bò ở dưới
gốc cây hay ở ngoài trời, được an nhàn tự tại, chỉ cần
ghi nhớ: "Ðây là những con bò". Vị tu hành cũng như vậy,
vị ấy cần ghi nhớ: "Đây là phương pháp", tức chỉ cho
Chỉ và Quán mà vị hành giả đang hành trì.
Đến
đây Thế Tôn đã loại trừ các bất thiện tầm, đã trấn
an các thiện tầm, hướng đến nhất tâm và bắt đầu hành
trì thiền định: "Ta ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng
và chú sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh,
có tầm, có tứ. Diệt tầm và tứ, Ta chứng và trú thiền
thứ hai, một trạng hỷ lạc do định sanh, không tầm không
tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh
giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả
niệm lạc trú, chứng và trú thiền thứ ba. Xả lạc xả khồ,
diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ
tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh".
Từ
thiền thứ tư ở sắc giới, Thế Tôn chứng và trú túc mạng
minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh. "Với tâm định tĩnh, thuần
tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyễn dể sử
dụng, vững chắc như vậy, Ta dẫn tâm hướng tâm đến túc
mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tân minh. Ta như thật thắng
tri: Đây là khổ. Đây là khổ tập. Đây là khổ diệt. Đây
là con đường đưa đến khổ diệt. Đây là những lậu hoặc.
Đây là những lậu hoặc tập khởi. Đây là những lậu hoặc
đoạn diệt. Đây là con đường đưa đến lậu hoặc đoạn
diệt. Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, khởi lên trí hiểu
biết: Ta đã giải thoát. Ta thắng tri: Sanh đã tận, phạm
hạnh đã thành. Những việc nên làm đã làm, không còn trở
lui trạng thái này nữa. Trong đêm, canh ba, Ta chứng được
minh thứ ba. Vô minh diệt, minh sanh. Bóng tối diệt, ánh sáng
sanh, trong khi ta sống, không phóng giật, nhiệt tâm tinh cần".
Cuối
cùng, đức Phật dùng một ví dụ nói lên vai trò của Thế
Tôn trong nhiệm vụ giới thiệu con đường giải thoát cho
chúng sinh, trong khi ấy, ma vương tìm mọi cách hãm hại các
loại hữu tình.
Như
trong một khu rừng rậm rạp có một hồ nước thâm sâu và
một đoàn nai lớn sống gần một bên. Có một người đến,
muốn hại đoàn nai, đóng cửa con đường an toàn, mở cửa
con đường nguy hiểm, đặt một con mồi đực, đặt một
con mồi cái. Như vậy, sau một thời gian, đoàn nai lớn gặp
ách nạn, hao mòn dần. Lại có một người đến, muốn đàn
nai được an toàn, muốn đàn nai được hạnh phúc, đóng cửa
con đường nguy hiểm, mở cửa con đường an toàn, đem đi
con mồi đực, huỷ đi con mồi cái. Như vậy đoàn nai ấy
sau một thời gian được hưng thịnh, sung mãn. Và đức Phật
giải thích ví dụ: Hồ nước lớn thâm sâu chỉ cho dục vọng.
Đoàn nai chỉ cho các loài hữu tình. Người muốn hại đoàn
nai chỉ cho ác ma. Con đường nguy hiểm chỉ cho con đường
tà đạo tám ngành: tà tri kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp,
tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Con mồi đực chỉ
cho hỷ và tham. Con mồi cái chỉ cho vô minh. Còn người muốn
đoàn nai được hạnh phúc chỉ cho đấng Như Lai, bậc A-la-hán,
Chánh Ðẳng Giác. Con đường đưa đến an toàn, an ổn chỉ
cho con đường thánh đạo tám ngành: chánh tri kiến, chánh
tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn,
chánh niệm, chánh định. "Như vậy Ta mở của con đường
an toàn đưa đến hạnh phúc. Ta mang đi con mồi đực. Ta huỷ
bỏ con mồi cái. Những gì vị Đạo sư cần phải làm cho
các đệ tử vì lòng thương tưởng chúng, những điều ấy
Ta đã làm, vì lòng thương tưởng chúng, những điều ấy
Ta đã làm, vì lòng thương tưởng các ngươi. Chư Tỷ-kheo,
đây là những gốc cây, đây là ngôi nhà trống. Hãy thiền
định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau. Đó
là lời giáo huấn của ta".
Trong
kinh này, Thế tôn giới thiệu con đường giải thoát, giác
ngộ, phát xuất từ bất thiện tầm, thiện tầm, trừ diệt
dục tầm, vô sân tầm, bất hại tầm, tăng trưởng ly dục
tầm, vô sân tầm, bất hại tầm. Giai đoạn này được xem
như là giai đoạn Giới học trong Giới-Ðịnh-Tuệ. Tiếp đến,
Thế tôn hành trì sơ thiền, thiền thứ hai, thiền thứ ba,
thiền thứ tư, được xem như giai đoạn Ðịnh học trong Giới-Ðịnh-Tuệ.
Thế tôn chứng ba minh, như thật thắng tri khổ, tập, diệt,
đạo, thắng tri các lậu hoặc, các lậu hoặc tập khởi,
các lậu hoặc đoạn diệt. Đây có thể là được xem như
giai đoạn Tuệ học. Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, khởi
lên trí hiểu biết: "Ta đã giải thoát, Ta đã thắng tri: Sanh
đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm,
không còn trở lui lại trạng thái này nữa". Giai đoạn này
được xem như là giai đoạn giải thoát, giải thoát tri kiến,
trong tiến trình giải thoát 5 giai đoạn: "Giới, Định, Tuệ,
Giải thoát, Giải thoát tri kiến".
Trong
kinh này chúng ta chứng kiến khả năng tuyệt diệu của đức
Phật đối với bất thiện tầm và thiện tầm, hai cách ứng
xử hoàn toàn sai khác nhau để loại trừ các bất thiện tầm
và phát triển thiện tầm. Đối với bất thiện tầm, đức
Phật nhấn mạnh đến những tai hại của người bất thiện
tầm như đưa đến hại mình, đưa đến hại người, đưa
đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dựa phần vào phiền não,
không đưa dến Niết-bàn. Nhờ phân tích như vậy, các bất
thiện tầm được trừ diệt, không còn sanh khởi. Còn đối
với thiện tầm, đối trị sự mệt mỏi của thân, khi suy
tư tầm quá lâu, trấn an tâm, trấn tỉnh tâm, khiến tâm không
giao động, và hướng đến định tĩnh nhất tâm để tu tập
thiền định. Cuối cùng, ví dụ được Thế tôn đúc kết
nói nên lòng thương tưởng của Thế tôn đối với mọi loài
hữu tình, trong khi ấy ma vương hay những sức mạnh thù địch
lại muốn đem lại sự đau khổ cho các chúng sinh. Cũng trong
ví dụ này, Con đường Thánh đạo Tám ngành được xem như
con đường giải thoát được đức Phật giảng dạy, hướng
dẫn mọi chúng sinh đưa đến giải thoát và giác ngộ. Câu
nói cuối cùng của bài kinh là cả một lời khích lệ các
đệ tử hãy nhiệt tâm tinh cần hành thiền, chớ có phóng
dật, chớ có hối tiếc mai sau.
13
MỘT
MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC TỐT PHẢI ĐƯỢC KHỞI NGUỒN XÂY DỰNG
BỞI NHỮNG NGƯỜI CÓ Ý THỨC VÀ TRÁCH NHIỆM
Trên
bước đường phụng sự giáo dục, chúng tôi ý thức rất
rõ một điều rằng, chúng tôi không thể xây dựng một môi
trường giáo dục nếu như chung quanh chúng tôi không có những
con người, với ý thức và hoài bão giáo dục, sẵn sàng trợ
lực cho chúng tôi trong mọi thời, mọi hoàn cảnh.
Sự
nghiệp giáo dục chỉ có thể thành công chừng nào sự nghiệp
ấy đã trở thành ý thức và trách nhiệm chung của tất cả
mọi người. Thiếu mất ý thức và trách nhiệm này, chúng
ta không thể nói đến giáo dục, hay xây dựng một môi trường
giáo dục tốt đẹp cho con người. Một môi trường giáo dục
tốt, theo chúng tôi, phải được khởi nguồn xây dựng bởi
những con người có ý thức và trách nhiệm.
Hơn
thế, với tinh thần giáo dục Phật giáo lấy trí tuệ giải
thoát làm căn bản, làm nền tảng, chúng tôi càng ý thức
rằng, cần phải kiên trì thật nhiều trong sự nghiệp giáo
dục con người và điều quan trọng trước nhất là cần phải
xây dựng môi trường giáo dục. Bởi lẽ, như đức Phật
đã dạy, trí tuệ giải thoát sẽ không đến với con người
ngay lập tức, nhưng trí tuệ giải thoát sẽ đến một cách
từ từ, do học từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ,
ở trong một môi trường tốt đẹp (Kinh Kitagigi, Trung Bộ
70).
Có
12 bước đi nhằm thực hiện trí tuệ giác ngộ mà đức Phật
đã giảng dạy, và chúng tôi muốn nêu ra ở đây để xác
lập lại một đường hướng giáo dục căn bản mà trong sự
nghiệp phụng sự giáo dục, chúng tôi đã nỗ lực xây dựng.
12 bước ấy là:
(1)
Có lòng tin, (2) đến gần, (3) tỏ lòng tôn kính, (4) lắng
tai, (5) nghe pháp, (6) thọ trì pháp, (7) suy tư ý nghĩa các pháp,
(8) chấp nhận các pháp, (9) ước muốn sanh khởi, (10) nỗ
lực, (11) cân nhắc, (12) tinh cần. (Kinh Kitagiri, Trung Bộ II.70).
Cả
12 bước đi này là một tiến trình khai mở tuệ giác cho con
người, và dĩ nhiên tiến trình ấy cần được thực hiện
ở trong một môi trường tốt đẹp.
Một
môi trường giáo dục tốt đẹp, thuận tiện cho việc học
tập và hành trì chánh pháp, theo lời dạy của đức Phật,
cần phải hội đủ hai yếu tố vật chất và tinh thần; nghĩa
là, một môi trường mà sống ở đó, người ta có thể ổn
định được đời sống vật chất và có khả năng phát triển
đời sống tâm đức theo pháp môn Giới, Định, Tuệ. Trong
kinh Khu Rừng, Trung Bộ I.17, đức Phật đã chỉ ra các tiêu
chuẩn cho thấy một môi trường giáo dục tốt đẹp, xứng
đáng làm nơi nương tựa tu học cho các đệ tử mình. Ngài
dạy:
"Này
các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sống ở khu rừng nào, hay sống tại
một làng nào, một thị trấn nào, một đô thị nào, một
quôc độ nào, gần một người nào, các niệm chưa an trú
được an trú; tâm chưa định tĩnh được định tĩnh: các
lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ; được hoàn toàn
đoạn trừ; vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa chứng
đạt, được chứng đạt. Và những vật dụng cần thiết
như y áo, đồ ăn khất thực, sàng toạ, dược phẩm trị
bệnh kiếm được một cách không khó khăn. Này các Tỷ-kheo,
vị Tỷ-kheo ấy cần phải suy nghĩ như sau: 'Ta sống ở khu
rừng này, hay sống tại một làng này, một thị trấn này,
một đô thị này, một quốc độ này, các niệm chưa an trú
được an trú; tâm chưa định tĩnh được định tĩnh: các
lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ, được hoàn toàn
đoạn trừ; vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa chứng
đạt, được chứng đạt. Và những vật dụng cần thiết
như y áo, đồ ăn khất thực, sàng toạ, dược phẩm trị
bệnh kiếm được một cách không khó khăn'. Này các Tỷ-kheo,
vị Tỷ-kheo ấy cần phải ở lại những nơi ấy cho đến
trọn đời, không được bỏ đi".
Đức
Phật còn nhấn mạnh rằng vị Tỷ-kheo sống ở nơi nào hay
sống người nào có đầy đủ các tiêu chuẩn trên thời phải
hết lòng sống tại đó cho đến trọn đời, không được
bỏ đi, dù người ta có xua đuổi.
Những
bước đi tiếp cận chân lý giác ngộ như đã nói ở trên
gợi cho chúng ta hình ảnh một môi trường giáo dục thanh
thoát, đầy trí tuệ và tình người do chư đức Phật xây
dựng mà theo thời gian, với sự sáng của nó, môi trường
ấy đã trở thành một truyền thống tốt đẹp, luôn luôn
được giữ gìn và được xây dựng bởi những người con
Phật với mục đích đem lại hạnh phúc và an lạc cho con
người. Quả vậy, mỗi một ngôi chùa Phật giáo luôn luôn
là một môi trường giáo dục tốt và người Phật tử đến
với ngôi chùa ấy không phải chỉ để học kiến thức về
kinh điển Phật giáo, mà để tu học và đóng góp sức mình
cho việc xây dựng và phát huy môi trường ngày càng tốt đẹp.
Và, qua nếp sống đó, Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đang nỗ
lực hướng vào mục tiêu chung của xã hội Việt Nam cũng
như ở thế giới ngày nay là làm trong sạch hóa môi trường
sống của con người mà đạo đức là căn bản.
Ngày
nay, với lối sống buông trôi theo dục lạc, con người hiện
đại đang dần dần làm ô nhiễm và phá vỡ một trường
sống tốt đẹp của mình. Nhiều biểu hiện thiếu cân nhắc,
thiếu phản tỉnh của con người ngày nay khiến chúng ta không
khỏi lo ngại đến cuộc sống hiện đại và tương lai, nếu
con người không thật sự quay về để tìm xem mình đang làm
gì và có thái độ sống thích hợp như thế nào.
Đứng
trước sự thách thức to lớn của lối sống thiếu giác tỉnh,
bất chấp các hậu quả của con người ngày nay, chúng ta -
những người Phật tử - cần phải tỏ rõ hơn nữa nếp sống
tự ý thức và tự chế ngự của mình đồng thời cần phải
nỗ lực xây dựng nhiều môi trường sinh hoạt mang tính giáo
dục cao cả cho con người. Tất nhiên, chúng ta không chủ trương
xây dựng những ngôi chùa nguy nga tráng lệ nhằm thu hút sự
chú ý của mọi người, vì đạo Phật không chủ trương nhiếp
phục con người bằng quảng cáo hay cổ xuý, đạo Phật chỉ
giúp xây dựng hạnh phúc cho con người bằng cách nói: "Mời
bạn đến và thấy" (ehipassika). Nhưng chúng ta sẽ nổ lực
xây dựng, trong phạm vi khả năng của mình, những môi trường
sinh hoạt tốt đẹp với những nội dung giáo dục lành mạnh,
trong sáng, hướng thượng, thắm đượm tính người, tính
dân tộc bằng chính sự nỗ lực và trí tuệ mỗi chúng ta.
Làm sao mỗi một ngôi chùa đều trở nên một môi trường
giáo dục tốt, góp phần vào việc giữ gìn và phát huy truyền
thống văn hoá, đạo đức của dân tộc, đúng như một nhà
thơ đã ca ngợi:
"Mái
chùa che chở hồn dân tộc,
Nếp
sống muôn đời của Tổ tông".
14
ÔNG
CẤP CÔ ĐỘC TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI
VỀ
CÁC Ý KIẾN CỦA NGOẠI ĐẠO
Trong
Kinh Kiến số 93, A. V, 185, Kinh Bộ Tăng Chi III, trang 471, ông
Cấp Cô Độc đã trả lời một cách thông minh, thiết thực,
rõ ràng, những câu hỏi của các nhà du sĩ ngoại đạo về
các Kiến của Sa môn Gotama, của các Tỷ-kheo và của chính
mình. Những câu trả lời không những chứng minh biện tài
ứng khẩu đối đáp của ông Cấp Cô Độc, mà còn nêu rõ
ông đã hiểu giáo lý đức Phật dạy một cách thâm thuý
sâu sắc, nhất là đối với giáo vô ngã. Và chúng ta không
thấy làm lạ, mỗi bài kinh, ông được Thế Tôn tán thán
khả năng bác bỏ các tà kiến với Chánh pháp.
Ông
Cấp Cô Độc (Anàthpindika) vào buổi sáng sớm, muốn đi đến
kiến Thế Tôn ở tại vườn Kỳ Viên. Nghĩ rằng vì thời
gian quá sớm, Thế Tôn đang thiền định và các Tỷ-kheo đang
tụ tập về ý (tu thiền), nên mới ghé qua hội chúng các
du sĩ ngoại đạo. Hội chúng này đang lớn tiếng ồn ào cãi
nhau về các vấn đề phù phiếm, khi thấy ông Cấp Cô Độc
đến, liền bảo nhau giữ im lặng, vì biết rằng hội chúng
cư sĩ của Sa môn Gotama không ưa thích ít ồn ào, được huấn
luyện trong ít ồn ào và tán thành ít ồn ào.
Sau
những lời hỏi thăm thân hữu, các du sĩ, ngoại đạo đặt
ngay vấn đề: "Này gia chủ, hãy nói lên Sa môn Gotama có kiến
gì?". Với sự thận trọng cần thiết, ông Cấp Cô Độc trả
lời: "Tôi không biết tất cả kiến của Sa môn Gotama!"
-"Này
gia chủ, gia chủ có thể không biết tất cả kiến của Sa
môn Gotama. Nhưng này gia chủ, hãy nói các Tỷ-kheo có kiến
gì?"
-"Thưa
các Tôn giả, tôi không biết tất cả kiến của của các
Tỷ-kheo."
-"Thưa
gia chủ, gia chủ có thể không biết tất cả kiến của Sa
môn Gotama, không biết tất cả kiến của Tỷ-kheo. Vậy này
gia chủ, hãy nói về kiến của gia chủ".
Trước
những câu hỏi dồn dập như vậy của du sĩ ngoại đạo,
ông Cấp Cô Độc ứng biến khá tài tình với câu trả lời:
"Thưa các tôn giả, thật không khó gì để chúng tôi trả
lời về kiến của chúng tôi. Nhưng các tôn giả hãy trả
lời về kiến của các Tôn giả trước. Rồi sau thật không
khó gì để chúng tôi trả lời về kiến của chúng tôi".
Ông Cấp Cô Độc đã khéo léo giao cho các du sĩ ngoại đạo
trách nhiệm trả lời các câu hỏi trước, nhờ vậy hiểu
rõ dụng ý của các du sĩ khi đặt các câu hỏi, và xây dựng
câu trả lời của mình. Các du sĩ ngoại đạo liền đề cập
đến 10 loại ý kiến của mình, như chúng ta được thấy
trong Tiểu kinh Màlunkyaputta - Kinh số 63, Trung Bộ, trang 427
(bộ cũ): Thế giới là thường còn, thế giới là vô thường,
thế giới là có giới hạn, thế giới là không có giới hạn,
mạng sống và thân thể là một, mạng sống và thân thể
là khác; Như Lai sau khi chết có tồn tại, Như Lai sau khi chết
không tồn tại, Như Lai sau khi chết có tồn tại và không
tồn tại; Như Lai sau khi chết không tồn tại và không không
tồn tại. Mười quan điểm này, các ngoại đạo xem là kiến
của mình và xác định, kiến như vậy là sự thật, kiến
nào khác là hư vọng.
Gia
chủ Cấp Cô Độc liền nắm giữ định nghĩa của ngoại
đạo và nạn vấn: "Thưa các Tôn giả, Tôn giả nói như sau:
'Thế giới là thường còn. Kiến này là sự thật. Kiến nào
khác là hư vọng'. Như vậy là kiến của tôi. Kiến của Tôn
giả ấy, hoặc nhân tự mình tác ý không hợp lý, hoặc duyên
nghe người khác nói. Kiến ấy như vậy được sanh (bhùta),
được tác thành (sankhatà), do tâm suy tư, do duyên khởi lên.
Và cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên
khởi lên, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái
ấy là khổ. Cái (khổ) ấy Tôn giả chấp trước (allino: dính
vào); cái (khổ) ấy Tôn giả chấp nhận (ajjhàpagato)".
Gia
chủ Cấp Cô Độc, đối với chín kiến còn lại cùng một
nạn vấn tương tự, nêu rõ nếu các du sĩ chấp nhận những
kiến ấy là sự thật, ngoài ra là hư vọng, thời tự đeo
cái khổ vào thân, vì các kiến ấy hoặc do tự mình tác ý
không hợp lý, hay do duyên người khác nói. Như vậy kiến
ấy được sanh, dược tác thành, là những pháp hữu vi, do
tâm suy tư, do duyên khởi lên. Kiến ấy là vô thường, cái
gì vô thường, cái ấy khổ. Và cái khổ ấy, các du sĩ ngoại
đạo lại chấp thủ, chấp nhận, và như vậy không thoát
ra khỏi đau khổ.
Câu
trả lời của ông Cấp Cô Độc chưa thuyết phục được
các du sĩ ngoại đạo. Chúng bèn yêu cầu ông Cấp Cô Độc
nói lên kiến của gia chủ là gì sau khi các du sĩ đã nói
tất cả kiến của mình. Câu trả lời của ông Cấp Cô Độc
thật là tuyệt diệu, không những nói lên một cách trung thực
quan điểm vô ngã của đức Phật mà còn vạch rõ quan điểm
"Kiến" của ngoại đạo đưa chúng đến đau khổ trói buộc,
còn quan điểm "Kiến" của ông Cấp Cô Độc đưa đến an
lạc và giải thoát. Ông Cấp Cô Độc đã trả lời:
-"Thưa
các Tôn giả, phàm cái gì được sanh, được tác thành, do
tâm suy tư, do duyên được khởi lên, cái ấy là vô thường.
Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì khổ, cái ấy
là: 'Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi;
cái này không phải tự ngã của tôi'. Tôi có kiến như vậy
thưa các Tôn giả".
Các
du sĩ ngoại đạo hiểu lầm ông Cấp Cô Độc chấp thủ quan
điểm của mình nên lập tức chất vấn: "Này gia chủ, phàm
cái gì được sanh, được tán thành, do tâm suy tư, do duyên
được khởi lên, cái ấy là vô thường. Cái gì là vô thường,
cái ấy là khổ. Cái gì khổ, cái ấy này gia chủ lại chấp
nhận trước. Cái ấy, này gia chủ, gia chủ lại chấp nhận".
Nhận
thức được các du sĩ ngoại đạo chưa hiểu được quan điểm
của mình, ông Cấp Cô Độc nêu rõ không những ông như thật
khéo thấy với trí tuệ: "Cái này không phải của tôi; cái
này không phải của tôi. Cái này không phải tự ngã của
tôi", ông còn như thật rõ biết sự xuất ly ra khỏi đau khổ,
nhờ quán triệt lý vô ngã của đức Phật. Lời giải đáp
của ông Cấp Cô Độc làm cho các du sĩ ngoại đạo ngồi
im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sững sờ không nói
lên lời.
Sau
khi thấy các ngoại đạo ngồi im lặng, hoang mang, thụt vai,
cúi đầu, sững sờ không nói lên lời, ông Cấp Cô Độc
liền đi đến yết kiến Thế Tôn, tường thuật lại nội
dung cuộc nói chuyện của mình với các du sĩ ngoại đạo.
Nghe xong, Thế Tôn có vài lời tán thán: "Lành thay, lành thay,
này gia chủ. Như vậy, này gia chủ, những kẻ ngu si ấy thường
thường cần phải bác bỏ với sự khéo léo bác bỏ nhờ
Chánh pháp". Rồi Thế Tôn với một bài thuyết pháp, khích
lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ gia chủ Anàthapindika
(Cấp Cô Độc). Sau khi ông Cấp Cô Độc từ biệt, Thế Tôn
có lời khuyên các Tỷ-kheo.
"Tỷ-kheo
nào, dù đã được đầy đủ 100 năm an cư mùa mưa trong Pháp
và Luật này, vị ấy cần phải như vậy, thường thường
bác bỏ các du sĩ ngoại đạo, với sự khéo léo bác bỏ nhờ
chánh pháp, như gia chủ Anàthapindika đã khéo léo bác bỏ".
Thật là một lời tán dương đẹp đẽ từ miệng Thế Tôn,
đề cao biện tài ứng đáp của ông Cấp Cô Độc, và nói
lên trách nhiệm của các Tỷ-kheo cần phải dùng chánh pháp
để bác bỏ các tà kiến của ngoại đạo.
Chúng
ta nhận thấy cái nhìn "vô ngã" của đạo Phật là cái nhìn
như thật khéo thấy với trí tuệ, nhìn thấy tánh vô ngã
của thế giới và của con người, nhờ vậy thoát ly sự chi
phối của con người và thế giới, đối trị được sự
ràng buộc của tham sân si, vượt khỏi già, chết, sầu, bi,
khổ, ưu não. Trong mười kiết sử, kiến sử thân kiến (sakkàyaditthi)
đi hàng đầu, và thân kiến có nghĩa là chấp năm thủ uẩn
là "của ta, là ta, là tự ngã của ta", tức là chấp ngã.
Trong Kinh Căn bổn Pháp môn (kinh số 1, Trung Bộ), đức Phật
nêu rõ kẻ phàm phu đối với tất cả pháp trong ấy có địa
đại v.v. vị ấy: "Tưởng tri địa đại là địa đại, vì
tưởng tri địa đại là địa đại, vị ấy nghĩ đến địa
đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, nghĩ
đến tự ngã như là địa đại, nghĩ địa đại là của
ta. Vị ấy ái dục địa đại, ta nói vị ấy không liễu
tri địa đại". Trái lại bậc Thánh có cái nhìn hoàn toàn
sai khác. "Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vị
ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ (tự ngã) đối
chiếu với địa đại, không nghĩ đến tự ngã như là địa
đại, không nghĩ đến địa đại là của ta, không dục ái
địa đại. Vì sao vậy? Ta nói 'Vị ấy đã liễu tri địa
đại'." Liễu tri địa đại ở đây là không chấp ngã địa
đại.
Trong
kinh Xà Dụ (kinh số 22, Trung Bộ), đức Phật đề cập đến
sáu kiến xứ, tức là chấp thủ 5 thủ uẩn là của ta, là
ta, là tự ngã của ta, và chấp thủ thế giới và tự ngã
là thường còn, thường hằng, xem là của ta, là ta, là tự
ngã của ta. Và đức Phật khuyên các Tỷ-kheo "Hãy từ bỏ
cái gì không phải của các ngươi. Các ngươi từ bỏ cái
gì sẽ đem lại hạnh phúc an lạc lâu dài cho các ngươi? Chư
Tỷ-kheo, sắc không phải của các ngươi. Hãy từ bỏ sắc.
Các ngươi nếu từ bỏ sắc sẽ đem lại hạnh phúc cho các
ngươi. Thọ không phải của các ngươi... Tưởng không phải
của các ngươi... Hành không phải của các ngươi... Thức
không phải của các ngươi. Hãy từ bỏ thức. Các ngươi nếu
từ bỏ thức sẽ đem lại hạnh phúc cho các ngươi."
15
PHÁP
TRÍ
Đức
Phật thường khuyên chúng ta, đối với hàng xuất gia thời
hành trì năm Pháp: tín, giới, đa văn, tinh tấn và trí tuệ;
còn đối với hàng tại gia, thời cũng hành trì năm Pháp,
trong ấy, bố thí được thay thế cho tinh tấn. Như vậy trong
cả hai hội chúng xuất gia và tại gia, đức Phật đều khuyên
nên "đa văn" (nghe nhiều), và nghe nhiều được đức Phật
định nghĩa như sau: "Là bậc nghe nhiều, thọ trì điều được
nghe, tích tập điều được nghe. Đối với pháp sơ thiện,
trung thiện, hậu thiện, có nghĩa văn, đề cao phạm hạnh
hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Đối với các pháp như vậy
được nghe nhiều, được thọ trì, được ghi nhớ, được
đọc tụng nhiều lần, chuyên ý quan sát, khéo thể nhập nhờ
chánh kiến" (Tăng Chi II, 159).
Trong
kinh Pháp Trí (Tăng Chi II, tr 534) đức Phật xác định rõ nhờ
nghe nhiều, vị Tỷ-kheo có khả năng chứng đắc Pháp Trí,
tức là một vị đã thành tựu bảy Pháp, tức là đạt được
bảy sự hiểu biết về Pháp được phân tích như sau: biết
Pháp (Dhammannu), biết nghĩa (atthannu), biết tự ngã (attannu),
biết vừa đủ (mattannu), biết thời (kalannu), biết hội chúng
(parisannu), biết người thắng kẻ liệt (puggalaparorannu).
Rồi
đức Phật giải thích rộng rãi hiểu biết này. Ở đây,
biết Pháp, tức là biết Khế Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết,
Phúng tụng, Không hỏi tự thuyết, Thị thuyết, Bổn sanh,
Pháp chưa từng có, Phương quảng. Đây là chín thể văn đức
Phật đã sử dụng trong khi Ngài thuyết Pháp độ sanh, chín
thể văn được chứa đựng một cách đầy đủ trong kinh
tạng. Như vậy biết Pháp ở đây có nghĩa là biết những
lời dạy của đức Phật.
Còn
biết nghĩa là biết ý nghĩa của những câu những lời Phật
dạy, biết rõ câu này có nghĩa như thế này, câu kia có ý
nghĩa như thế kia. Từng bài kinh, hiểu rõ ý nghĩa của từng
bài kinh; từng bài kệ hiểu rõ ý nghĩa của từng bài kệ,
hiểu rõ ràng minh bạch không có hiểu lầm, không có hiểu
sai. Như vậy là biết nghĩa.
Còn
thế nào là biết tự ngã? Thường đức Phật dạy các đệ
tử tại gia hành trì năm Pháp: tín, giới, đa văn, bố thí
và trí tuệ. Có chỗ thêm pháp thứ 6 là biện tài. Biết tự
ngã ở đây có nghĩa là "cho đến mức độ như vậy tôi có
lòng tin. Cho đến mức độ như vậy tôi có giữ giới. Cho
đến mức độ như vậy tôi có bố thí. Cho đến mức độ
như vậy tôi có trí tuệ". Như vậy biết tự ngã, tức là
biết khả năng và mức độ tu tập của chính mình đối với
năm pháp đức Phật dạy. Có hiểu mình rõ ràng như vậy tức
là biết tự ngã.
Còn
biết ước lượng vừa đủ là biết mức độ vừa phải
của một vị Tỷ-kheo khi nhận lãnh bốn sự cúng dường của
tín đồ về y áo, đồ ăn khất thực, sàng toạ và dược
phẩm trị bệnh. Biết nhận vừa phải, vừa đủ, không quá
tham lam, không quá nhiều, như vậy gọi là biết ước lượng
vừa đủ.
Với
vị Tỷ-kheo có bốn trách nhiệm phải làm là thuyết giảng
cho tín đồ, tự mình hỏi đạo, tu tập về thiền định.
Vị Tỷ-kheo biết thời là biết đây là thời phải thuyết
giảng vị và vị ấy đúng thời thuyết giảng. Đây là thời
cần phải hỏi đạo, cần phải chất vấn, vị Tỷ-kheo đúng
thời chất vấn. Cũng vậy đối với thời phải tụ tập,
vị ấy tu tập. Đối với thời phải thiền định, vị ấy
thiền định, như vậy gọi là biết thời.
Ở
đây, biết hội chúng là biết bốn hội chúng. Hội chúng
Sát đế lỵ, hội chúng Bà-la-môn, hội chúng gia chủ, hội
chúng Sa môn. Đối với từng hội chúng, vị ấy biết nên
đi đến hội chúng ấy như vậy, nên đứng như vậy, nên
nói như vậy, nên im lặng như vậy. Như vậy là biết hội
chúng.
Như
thế nào là biết người thắng kẻ liệt? Vị Tỷ-kheo biết
được có hai hạng người: một hạng ưa thấy các bậc Thánh,
một hạng người không ưa thấy các bậc Thánh. Vị Tỷ kheo
biết hạng người không ưa thấy các bậc Thánh, đáng bị
chỉ trích. Hạng ưa thấy các bậc Thánh đáng được tán
thán. Có hạng người không ưa nghe diệu pháp, hạng ưa nghe
diệu pháp. Hạng không ưa nghe diệu pháp đáng bị chỉ trích.
Hạng ưa nghe diệu pháp đáng được tán thán. Có hạng người
lắng tai nghe diệu pháp và có hạng người không lắng tai
nghe diệu pháp. Hạng người không lắng tai nghe diệu pháp
đáng bị chỉ trích. Hạng người lắng tai nghe diệu pháp
đáng được tán thán. Một hạng người nghe xong thọ trì
pháp, một hạng người nghe xong không thọ trì pháp. Hạng
người nghe xong không thọ trì pháp đáng bị chỉ trích. Một
hạng người nghe xong thọ trì pháp đáng được tán thán.
Một hạng người quan sát ý nghĩa các pháp được thọ trì,
một hạng người không quan sát ý nghĩa pháp không được
thọ trì. Hạng người không quan sát ý nghĩa pháp được thọ
trì đáng bị chỉ trích. Hạng người quan sát ý nghĩa các
pháp được thọ trì đáng được tán thán. Một hạng người
sau khi hiểu nghĩa sau khi hiểu pháp đã thực hành pháp, tùy
pháp. Một hạng người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp,
không thực hành pháp, tùy pháp. Hạng người sau khi hiểu nghĩa
sau khi hiểu pháp đã không thực hành pháp, tùy pháp, do vậy
đáng bị chỉ trích. Hạng người sau khi hiểu nghĩa sau khi
hiểu pháp đã thực hành pháp và tùy pháp, do vậy hạng người
này đáng được tán thán. Một hạng người thực hành với
mục đích tự lợi không có lợi tha. Một hạng người thực
hành với mục đích tự lợi và lợi tha. Hạng người thực
hành pháp và tùy pháp, với mục đích tự lợi, không lợi
tha. Do sự việc này họ đáng bị chỉ trích. Hạng người
thực hành pháp và tùy pháp với mục đích tự lợi và lợi
tha, hạng người này đáng được tán thán. Như vậy đối
với Tỷ-kheo, loại người được biết theo hai hạng. Như
vậy Tỷ-kheo biết kẻ thắng hay người liệt.
Với
những định nghĩa trên, chúng ta hiểu người có pháp trí
là là người biết pháp, là người biết nghĩa, là người
biết tự ngã, là người biết vừa đủ, là người biết
thời, là người biết hội chúng, là người biết người
thắng kẻ liệt. Đầy đủ bảy sự hiểu biết như vậy mới
được gọi là người có pháp trí. Và như vậy pháp trí không
phải chỉ thuần túy tri thức mà gồm cả ưa nghe diệu pháp,
lắng tai nghe diệu pháp, thọ trì diệu pháp, hiểu ý nghĩa
diệu pháp, hành trì diệu pháp, thuyết giảng diệu pháp và
hiểu biết trình độ căn cơ của những người nghe pháp và
hành trì pháp. Nếu chúng ta hiểu biết pháp là biết những
pháp môn Phật dạy đưa đến giải thoát và giác ngộ, và
hiểu nghĩa là hiểu mục đích giải thoát và giác ngộ, thời
biết pháp tương đương với Đạo đế, và biết nghĩa tương
đương với Diệt đế.