6
TIẾN
TRÌNH TU TẬP
ĐƯA
ĐẾN GIẢI THOÁT, KHÔNG TRANH CHẤP
Nguồn
gốc của tranh chấp là tưởng và hý luận. Chỉ có nhiếp
phục tưởng và hý luận mới đưa đến không tranh chấp và
giác ngộ. (Trích kinh Mật Hoàn, số 28, Trung Bộ I).
Đức
Phật có nhiều lời tuyên bố, mới xem qua như là một tuyên
bố thường tình, nhưng suy nghiệm kỹ sẽ vô cùng sâu sắc
và có những tác động làm chúng ta choáng váng không ngờ...
như khi được du sĩ ngoại đạo Dandapani hỏi: "Sa môn Gotama
có quan điểm giảng thuyết những gì?" Thế Tôn đã trả lời:
"Theo lời Ta dạy, trong thế giới với chư thiên, Ma và phạm
thiên, với các chúng sa môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người,
không có tranh luận với một ai ở đời" (trang 109B). Một
thời khác Ngài tuyên bố: "Vị đạo sư thuyết pháp không
có tranh luận với một ai ở đời" (Tương Ưng III, 165) Rồi
Ngài truy nguồn gốc các tranh chấp: "Các tưởng sẽ không
có ám ảnh vị Bà-la-môn (tu hành) sống không bị dục triền
phược, không có nghi ngờ do dự, với mọi hối quá đoạn
diệt, không có tham ái đối với hữu và phi hữu". Từ các
tưởng khởi lên các hý luận vọng tưởng, từ hý luận khởi
lên các sự tranh chấp đấu tranh . Một khi con người đã
làm chủ được các dục, không bị các phiền não chi phối,
không phân vân, không có hối hận, không có tham ái đối với
hữu và phi hữu, thời một con người như vậy được xem
như hoàn toàn thoát khỏi các chi phồi của tưỏng. Và chính
từ đây chấm dứt các tranh chấp, chống đối. Đến đây
Đức Phật lại nói lên phương pháp đối trị các hý luận
(papanca). Những hý luận có thể do bất cứ nhân duyên gì
khởi lên, thời vị hành giả cần phải "không đón mừng,
không hoan hỷ, không chấp thủ". Nếu đối với các hý luận
có một thái độ không chấp thủ như vậy, thời 7 tùy miên:
tham, sân, kiến, nghi, mạn, hữu tham và vô minh tùy miên đều
được đoạn tận, và với sự đoạn tận của những pháp
này, cũng sẽ đưa đến đoạn tận "chấp trượng, chấp kiếm,
đấu tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ và như vậy mọi bất thiện
pháp đều được đoạn tận, không còn dư tàn".
Lời
giảng của Thế Tôn được chấm dứt ở nơi đây, rồi Ngài
đi vào tịnh xá, và lời giảng của thế Tôn được tôn giả
Mahà Kaccàna giải thích và phân tích như sau, theo lời yêu
cầu của các Tỷ-kheo: "Do nhân 6 căn mắt tai lưỡi thân và
ý với 6 trần sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp nên 6 thức
khởi lên. Do có xúc nên khởi lên các cảm thọ. Những gì
có cảm thọ thời có tưởng. Những gì có tưởng thời có
suy tầm. Những gì có suy tầm (Vitakkti), thời có hý luận
(papanceti). Do hý luận là nhân, một số hý luận vọng tưởng
(papancasanasankha) hiện hữu cho một người trong các pháp".
Do 6 căn nhận thức quá khứ, vị lai, hiện tại. Sự kiện
này xảy ra khi nào có 6 căn, khi nào có 6 trần, khi nào có
6 thức, thời sự thi thiết của xúc được hiển lộ. Sự
kiện này xảy ra khi có sự thi thiết của xúc thời có sự
thi thiết của thọ. Khi nào có sự thi thiết của thọ thời
có sự thi thiết của tưởng. Khi nào có sự thi thiết của
tưởng thời có sự thi thiết suy tầm. Khi nào có sự thi thiết
của suy tầm, thời một số hý luận vọng tưởng được
hiển lộ.
Sự
kiện này không xảy ra khi nào không có 6 căn, không có 6 trần,
không có 6 thức, thời không có sự thi thiết của xúc. Khi
nào không có sự thi thiết của xúc thời có sự thi thiết
của thọ. Khi nào không có sự thi thiết của thọ thời không
có sự thi thiết của tưởng. Khi nào không có sự thi thiết
của tưởng thời không có sự thi thiết suy tầm.
Khi
nào có sự thi thiết của suy tầm thời có sự hiện hành
của một số hý luận vọng tưởng được Nhưng nếu các
hý luận vọng tưởng khởi nên, vì nhân duyên này hay nhân
duyên khác, thời Đức Phật dạy cho cách đối trị, là đối
với những hý luận ấy "không có gì đáng cho chúng ta hoan
hỷ, không có gì đáng cho chúng ta chấp thủ" và khi đã không
có chấp thủ các hý luận, thời như vậy là sự đoạn tận
tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn tận
kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận
mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu tham tùy miên, sự đoạn
tận vô minh tùy miên. Từ sự đoạn tận 7 tùy miên này, đưa
đến sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh,
tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ.
Và chính ở đây, tất cả bất thiện pháp được đoạn trừ,
và như vậy vị ấy được xem như đã giải thoát giác ngộ.
Bài
dạy này của Đức Phật, xem các tưởng, các hý luận là
nguyên nhân căn bản của các đấu tranh, tranh chấp cũng chỉ
đích danh đây là nguồn gốc của chiến tranh và muốn xây
dựng hòa bình cũng không có thể để cho các lý luận, các
vọng tưởng chi phối con người, Hãy chặn đứng các vọng
tưởng, hãy chấm dứt các lý luận, mới hy vọng xây dựng
một xã hội an bình giàu tình người tốt đẹp.
Trong
kinh Ưu-đàm-bà-la sư tử hống (Trường Bộ kinh) đức Phật
xác nhận cho các ngoại đạo rõ là Ngài thuyết pháp không
phải để dành lấy đệ tử của người khác, không phải
để ngoại đạo từ bỏ kinh tạng của họ, không phải vì
muốn xác tín cho các ngoại đạo đối với các pháp bất
thiện mà truyền thống từ xưa đã xem là bất thiện, không
phải vì muốn cho ngoại đạo từ bỏ những thiện pháp mà
truyền thống tổ sư đã xem là thiện pháp. Đức Phật xác
nhận rất rõ ràng với các ngoại đạo mục đích thuyêt pháp
của Ngài là: "Có nhửng bất thiện không được từ bỏ làm
cho cấu uế, đưa đến tái sanh, đem lại đau khổ, đem già
bệnh chết cho tương lai; những pháp ấy ta thuyết pháp để
diệt trừ chúng. Nếu các ngươi thực hành đúng theo lời
giảng dạy, các pháp thanh tịnh được tăng trưởng, và các
ngươi sẽ tự chứng ngộ đạt đến an trú ngay trong hiện
tại, trí tuệ cụ túc viên mãn" (Trường Bộ III, 57)
7
KHẤT
THỰC THANH TỊNH
HAY
AN TRÚ KHÔNG TÁNH
Khất
thực là hạnh hằng ngày của chư tăng, nuôi sống bằng cách
đi khất thực, và đức Phật trong kinh này giới thiệu mội
phương pháp làm cho hạnh khất thực trở thành thanh tịnh
hằng ngày, đúng với sở nguyện tu hành của người xuất
gia. Một thời Thế Tôn ở tại vương xá Trúc Lâm, tại chỗ
nuôi dưỡng các con sóc. Rồi Tôn giả Sàriputta vào buổi chiều,
từ thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Thế Tôn, đảnh
lể Ngài rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với tôn
giả Sàriputta: "Này Sàriputta, các căn của Thầy rất sáng
suốt, sắc da của Thầy thanh tịnh trong sáng, Thầy đang phần
lớn an trú với loại an trú nào?" Tôn giả Sàriputta trả lời:
"Con đang phần lớn an trú với Không trú". Thế Tôn tán thán
Tôn giả Sàriputta đang phần lớn an trú pháp của bậc Ðại
nhân, an trú pháp của bậc Ðại nhân tức là Không tánh rồi
đức Phật giải thích an trú Không tánh, người hành giả
trước hết suy tư trong khi đi vào làng để khất thực, tại
trú xứ khất thực và trên con đường khất thực trở về,
đối với các sắc do mắt nhận thức, trong ta có khởi lên
các pháp dục, tham, sân, si, hận tâm, biết có khởi lên, thời
vị Tỷ-kheo phải tinh tấn đọan trừ các pháp bất thiện
ấy. Nếu vị Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết rằng trên
con đường đi khất thực, trong khi đi khất thực, hay trên
con đường đi khất thực trở về không có khởi lên các
pháp ấy, thời vị Tỷ-kheo phải an trú với tâm hoan hỷ và
hân hoan, ngày đêm tu học trong các thiện pháp. Cũng vậy,
đối với tiếng do tai nhận thức, đối với hương do mũi
nhận thức, đối với vị do lưỡi nhận thức, đối với
xúc do thân nhận thức, đối với pháp do ý nhận thức. Như
vậy, sự khất thực của vị Tỷ-kheo trở thành thanh tịnh,
cùng một lúc, các căn của vị được sáng suốt, và sắc
da được thanh tịnh trong sáng.
Lại
nữa, Tỷ-kheo cần phải tư duy như sau: "Ta đã đoạn tận
năm dục trưởng dưỡng chưa?" Nếu trong khi suy tư, biết rằng
chưa đoạn tận năm dục trưởng dưỡng, thời vị Tỷ -kheo
phải tinh tấn đoạn trừ năm dục trưởng dưỡng. Nhưng nếu
trong suy tư biết rằng năm dục trưởng dưỡng đã được
đoạn trừ thời vị Tỷ-kheo phải an trú trong hoan hỷ, hân
hoan, ngày đêm tu học trong thiện pháp. Đối với năm dục
trưởng dưỡng tức là sắc đẹp, tiếng hay hương thơm, vị
ngon, xúc êm diu, vị Tỷ-kheo suy tư xem có hay không có khởi
lên năm dục trưởng dưỡng . Nếu có, thời tinh tấn lên
để đoạn trừ, nếu không có thời hoan hỷ tu học trong Chánh
pháp... Nay đối với năm triền cái: tham, sân, hôn trầm thùy
miên, trầm hối, nghi, vị Tỷ -kheo cũng có những suy tư như
trên, nếu chưa đoạn tận năm triền cái thời tinh tấn lên
mà đoạn trừ, nếu đã đoạn tận thời an trú trên hân hoan,
hoan hỷ ngày đêm tu học trong Chánh pháp. Pháp kế tiếp là
năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ
uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn, vị Tỷ -kheo suy tư đối
với Năm thủ uẩn này, vị Tỷ -kheo có liễu tri được hay
không. Nếu chưa liễu tri chưa được thời phải cố gắng
làm cho liễu tri được. Và sau khi suy tư, biết rằng đã liễu
tri Năm thủ uẩn thời vị Tỷ-kheo nên an trú trong hoan hỷ,
ngày đêm tu học trong thiện pháp. Các pháp kể trên là Ba
mươi bảy pháp trợ đạo, tức là Bốn niệm xứ, Bốn chánh
Cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần,
Thánh đạo tám ngành. Vị Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau:
"Ta đã tu tập Bốn niệm xứ chưa?" Nếu chưa tu tập ta phải
tinh tấn tu tập Bốn niệm xứ, nếu đã tu tập Bốn niệm
xứ rồi thời an trú trong hân hoan, ngày đêm tu tập các thiện
pháp. Cũng vậy, đối với Bốn chánh cần, Bốn như ý túc,
Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Thánh đạo Tám ngành.
Vị Tỷ-kheo cần phải suy tư: "Ta đã tu tập Thánh đạo tám
ngành chưa?". Nếu chưa tu tập thời phải tinh cần tu tập
Thánh đạo Tám ngành, nếu đã tu học rồi thời phải an trú
tâm trong hoan hỷ, ngày đêm tu học thiện pháp.
Pháp
kế tiếp là chỉ và quán. "Ta chỉ tu tập chỉ và quán chưa?".
Nếu chưa tu tập chỉ và quán thời tinh tấn tu học chỉ và
quán. Nếu sau khi suy tư, biết được đã tu tập chỉ và quán
rồi, thời an trú trong hân hoan, ngày đêm tu tập các biện
pháp.
Cuối
cùng, vị Tỷ-kheo cần phải suy tư: "Ta đã chứng ngộ minh
và giải thoát chưa?" Sau khi suy tư, được biết mình chưa
chứng ngộ minh và giải thoát, thời vị Tỷ-kheo cần phải
tinh cần tu tập để chứng ngộ và giải thoát. Nếu sau khi
suy tư biết rằng mình đã chứng ngộ minh và giải thoát thời
vị Tỷ-kheo cần phải an trú trong hân hoan, ngày đêm tu học
trong thiện pháp.
Cuối
cùng Đức Phật kết luận: "Tất cả những vị Sa môn, Bà-la-môn
trong thời quá khứ, trong thời vị lai, trong thời hiện tại
làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy
làm cho khất thực được thanh tịnh bằng cách suy tư như
vậy. Và Thế Tôn khuyên Tôn giả Sàriputta cần phải học
tập như sau: "Sau khi suy tư như vậy chúng ta sẽ làm cho khất
thực được thanh tịnh".
Đây
là pháp môn không những làm cho khất thực được thanh tịnh
an lành, còn giúp cho vị hành giả được các căn sáng suốt,
sắc da thanh tịnh, trong sáng, xứng đáng là vị đệ tử đầu
tay của thế Tôn.
8
SỐNG
ĐẠO ĐỨC
LÀ
TRÁCH NHIỆM CỦA MỖI CHÚNG TA
Đề
tài bài viết của chúng tôi hôm nay: "Sống đạo đức là
trách nhiệm của mỗi con người chúng ta ". Đây có thể là
đề tài không gây ngạc nhiên cho người nghe, nhưng khiến
cho ưu tư, khiến cho suy nghĩ; những ai chưa sống trong nếp
sống đạo đức, coi trọng nếp sống đạo đức và đề
cao nếp sống ấy.
Sở
dĩ chúng tôi chọn đề tài này là bởi chúng tôi tìm trong
giáo lý của đức Phật cả một kho tàng to lớn về giá trị
đạo đức hết sức cần thiết cho đời sống hạnh phúc
của người Phật tử chúng ta. Chúng tôi cũng muốn qua đề
tài này, xác chứng lại giá trị của hạnh phúc chân thật
mà đạo Phật có thể cống hiến cho con người và cuộc đời
bằng cách nhấn mạnh đến vai trò trách nhiệm của mỗi cá
nhân đối với vấn đề đạo đức. Ngoài ra, một vài biểu
hiện của lối sống hiện đại cũng là lý do cho bài viết
này .
Trước
hết, đạo đức là vấn đề lớn và cần được hiểu là
vấn đề chung, đòi hỏi sự quan tâm thực hành của mọi
người như là giải pháp mang lại hạnh phúc cho tự thân,
gia đình và xã hội. Tất nhiên, đạo đức không phải tự
nhiên mà có, cũng như hạnh phúc không phải tự dưng mà có
nếu không được nuôi dưỡng. Đạo đức cũng không ở trong
từ ngữ hoa mỹ được định nghĩa thế này hay thế khác
như món trang sức cho trí tưởng tượng. Đạo đức là một
nếp sống và là nếp sống thiện, bỏ ác làm lành, được
thể hiện qua các thái độ sống, cung cách ứng xử và tiếp
xúc hằng ngày của con người, từ đấy hạnh phúc được
biểu lộ. Do đó, đạo đức có thể được xem là đồng
nghĩa với hạnh phúc và cần được nuôi dưỡng như chính
hạnh phúc vậy. Quả thực, người biết nuôi dưỡng đạo
đức là người biết nắm bắt hạnh phúc vậy.
Hơn
thế, đạo đức còn là trách nhiệm của mỗi cá nhân đối
với tự thân cũng như đối với gia đình và xã hội, vì
lẽ, đạo đức là hạnh phúc và việc xây dựng hạnh phúc
cho tự thân, gia đình và xã hội là trách nhiệm của mỗi
người sống nếp sống đạo đức, tức là người có trách
nhiệm cao trong các mối quan hệ với gia đình và xã hội.
Thiếu mất tinh thần trách nhiệm này, nghĩa là nếp sống
thiếu đạo đức, thì chẳng những tự thân người có chịu
bất hạnh, mà ngay cả gia đình và xã hội người ấy đang
sống cũng chịu thiệt thòi, chịu bất hạnh do cuộc sống
của vị ấy gây ra. Tục ngữ Việt Nam ta nói câu: "Một con
sâu làm rầu nồi canh" hẳn đã nói lên được ý nghĩ này.
Giáo
lý Duyên khởi của Phật giáo cũng chỉ rõ, "Khi cái này có
mặt thì cái kia có mặt". Công thức này để nói lên sự
khổ tập và sự khổ diệt của giáo lý nhà Phật, theo đó
khi vô mình, ái, thủ có mặt thì khổ đau có mặt; và ngược
lại, khi vô minh, ái, thủ được trừ diệt thì khổ đau chấm
dứt và ở đấy hạnh phúc xuất hiện.
Quy
luật tương tác trên giúp cho chúng ta cái nhìn đúng đắn
về các mối quan hệ mật thiết giữa con người với con người,
giữa cá nhân, gia đình và xã hội, theo đó hạnh phúc của
người này cũng là an lạc của kẻ khác, và khổ đau của
người này chính là bất hạnh của kẻ khác. Nói khác đi,
cuộc sống của mỗi người chúng ta luôn luôn "dự phần"
vào cuộc sống chung của mọi người, trực tiếp hoặc gián
tiếp và chắc chắn không thể có cái gọi là "cá biệt" hay
"riêng lẽ" trong một tổng thể của các mối tương hệ này.
Chúng
tôi muốn nhấn mạnh điều này để nói lên trách nhiệm của
mỗi người chúng ta đối với vấn đề đạo đức. Quả
thật, chúng ta vẫn còn mơ hồ về đạo đức như thể nó
là một tín đồ tôn giáo hay ước lệ của xã hội được
đặc cách cho nhịp đập của mỗi con tim, mà không phải là
trách nhiệm chung cho vấn đề hạnh phúc con người.
Vấn
đề được đặt ra không phải là đạo đức được đặt
cách cho nhịp đập của con tim hay ước lệ của xã hội,
mà là trách nhiệm và hạnh phúc chung cho tất cả con người.
Quy luật tương quan không cho phép chúng ta nghĩ về đạo đức
như là một tín điều hay ước lệ hạn hẹp nào đó có thể
chấp nhận đối với người này mà không cần theo bởi người
khác, hoặc xa hơn, có thể áp dụng cho xã hội này mà không
cần theo bởi quốc gia kia. Đó không phải là cách nhìn chung
của vấn đề, và trong chừng mực nào đó điều này nói
lên thái độ thiếu trách nhiệm của chúng ta đối với vấn
đề hạnh phúc chung của tất cả con người.
Chúng
tôi xin đơn cử một ví dụ:
Chúng ta là những người Phật tử đang sống trong bối cảnh
của xã hội Việt Nam hiện tại. Rõ ràng ai cũng hiểu rằng,
xã hội Việt Nam đang tiến triển và có nhiều dấu hiệu
của sự tăng tốc trên lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục.
Các nước trên thế giới cũng công nhận điều này và đó
là dấu hiệu đáng mừng. Tuy nhiên, kinh nghiệm của một số
nước cho thấy rằng, khi đời sống vật chất đã quá đầy
đủ đến độ dư thừa thì đời sống đạo đức, tinh thần
của con người dường như bị yếu kém đi. Vì sao? Đó là
do sự phát triển không cân đối giữa lối sống chạy theo
vật chất và đời sống đạo đức, mà hậu quả của nó
ngấm ngầm cho đến một lúc bùng nổ thì không thể cứu
chữa được. Đây là dấu hiệu của thái độ thiếu trách
nhiệm về đạo đức mà hậu quả thì không phải chỉ một
xã hội hay một quốc gia gánh chịu, mà mọi quốc gia phải
gánh chịu. Đừng ai bảo rằng tôi uống rượu, lái xe hơi
và tôi sẽ chịu trách nhiệm về hành động này. Đó không
phải là trách nhiệm theo nghĩa cao cả, mà là thái độ thiếu
trách nhiệm đối với sinh mạng của con người và an toàn
xã hội.
Chúng
tôi xin đơn cử một ví dụ khác:
Trong phạm vi của gia đình (và điều này chúng tôi muốn nhấn
mạnh), thì vấn đề đạo đức cần được đặt ra như một
trọng trách đối với thành viên của mọi gia đình. Tất
nhiên điều này cần được nêu gương trước bởi các người
chủ quan trong gia đình. Bố mẹ, chẳng hạn, là những người
cần tuyệt đối tuân thủ trách nhiệm đạo đức và hướng
dẫn con cái tuân thủ trách nhiệm này. Như chúng tôi đã nói
trước đây, đạo đức và hạnh phúc là một. Điều này
nhắc cho chúng ta rằng, chừng nào chúng ta còn mong muốn hạnh
phúc (và chắc chắn ai cũng mong muốn hạnh phúc), thì chừng
đó vấn đề chăm lo và nuôi dưỡng đạo đức là hết sức
quan trọng. Dĩ nhiên, bố mẹ sẽ không rầy la và giáo dục
những thói hư tật xấu của con cái, nếu tự thân các vị
ấy không phải là gương mẫu về đạo đức. Một món quà
tặng con bằng tiền phi pháp không phải là dấu hiệu ban phát
tình thương cho con, mà là dấu hiệu thiếu trách nhiệm đạo
đức và hạnh phúc đối với con cái.
Con cái cũng vậy, không nên vì lý do phụng dưỡng bố mẹ
mà làm những điều phi pháp, phi đạo đức. Hẳn là người
bố, người mẹ sẽ rất khổ đau khi hiểu ra rằng những
ngày cuối đời mình chỉ được nuôi sống bằng những đồng
tiền không lành mạnh, không trong sạch của con cái. "Đói
cho sạch, rách cho thơm" phải chăng là câu nói đáng suy nghĩ
ở đây?
Dĩ
nhiên người Phật tử chúng ta sẽ không cho phép mình rơi
vào những trường hợp như thế. Ấy là bởi chúng ta có học
pháp và hành trì pháp của Đức Phật. Chúng ta nguyện theo
gương sáng của Ngài bằng cách tự hoàn thiện chính mình,
ngang qua những lời dạy về đạo đức và hạnh phúc chân
thực của Ngài. Những giới hạnh chúng ta đang giữ gìn như
không sát sinh, không lấy của không cho, không tà hạnh trong
các dục, không nói dối, không uống rượu là những giá trị
chuẩn mực và căn bản của một nếp sống đạo đức và
hạnh phúc.
Không
sát sinh là nếp sống tôn trọng sự sống, yêu quý sự sống
được bảo vệ, tránh mọi lo âu về huỷ diệt. Người Phật
tử phát nguyện không sát sinh, không làm tổn hại đến các
loại sinh vật, tức là đang kiến tạo thái bình, cho xứ sở,
cùng lúc đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh huỷ hoại sự sống
của con người và muôn loài. Đây là trách nhiệm đạo đức
đầu tiên mà người Phật tử cần thực hiện nhằm xây dựng
hạnh phúc cho tự thân, cho gia đình và xã hội.
Không
lấy của không cho là trách nhiệm đạo đức thứ hai của
người Phật tử. Lấy của không cho hay trộm cắp là hành
vi phi pháp, phi đạo đức gây bất hạnh cho tự thân, cho gia
đình và làm rối loạn xã hội. Lấy của không cho có nhiều
dạng thức khác nhau. Từ ăn cắp của tư, trốn thuế nhà
nước, đến đục khoét của công đều là những hành vi trộm
cắp đáng kinh sợ. Vì vậy, người Phật tử pháp nguyện
không lấy của không cho tức là đang góp phần vào việc xây
dựng xã hội công bằng, lành mạnh, tạo thanh thế cho một
đất nước phát triển tránh được nguy cơ lạm phát
Không tà hạnh trong các dục là nếp sống đảm bảo hạnh
phúc gia đình của người Phật tử. Đức Phật, trong khi nhấn
mạnh đến vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của các
dục, đã chấp nhận lối sống một vợ một chồng dành cho
những người Phật tử sống đời sống hạnh phúc gia đình.
Tuy nhiên, để đảm bảo cho đời sống ấy, Ngài đã đề
ra giới cấm thứ ba, không tà hạnh trong các dục, nghĩa là,
ngoài cuộc sống vợ chồng ra, người Phật tử không được
phép quan hệ bất chính với bất cứ ai khác. Đây là trách
nhệm đạo đức thứ ba của người Phật tử. Rõ ràng người
Phật tử sống trọn vẹn với nếp sống này sẽ tránh được
nguy cơ đổ vỡ của đời sống hạnh phúc gia đình, đồng
thời góp phần vào việc đẩy lui một trong các tệ nạn xã
hội.
Không
nói láo là nếp sống đạo đức giúp cho người Phật tử
có đủ uy tín trên phương diện xuất xứ. Trong các quan hệ
với con người thì lời nói đúng đóng vai trò quan trọng,
bởi lời nói là chiếc cầu nối giúp tạo sự hiểu biết
và cảm thông giữa con người với con người. Tuy nhiên lời
nói đó phải là lời nói đúng đắn, chân thật không gian
dối thì mới đủ sức thuyết phục người khác. Người Phật
tử tránh không nói láo, chỉ nói lời chân thật tức là vị
ấy đang tạo cho mình một đức tin vững chắc về khả năng
thuyết phục người khác bằng lời nói của mình. Đây là
trách nhiệm đạo đức thứ tư của người Phật tử.
Không
uống rượu là nếp sống đề cao sự hiểu biết sáng suốt
của người Phật tử. Bởi rượu chè làm cho con người mất
đi bản tính sáng suốt, không tự chủ trong hành động, dẫn
đến nhiều hậu quả tai hại, nên người Phật tử phát nguyện
không uống rượu như là một nếp sống lành mạnh giúp cho
vị ấy có khả năng sáng suốt để tập chung vào mọi công
việc của mình. Đường phố Việt Nam ngày càng đầy ắp
các quán bia rượu gây kích thích đam mê cho nhiều tầng lớp
người khác nhau. Điều này ảnh hưởng không tốt đến một
số người, nhất là trẻ, bởi vì, một khi rơi vào rượu
chè thì phẩm giá con người bị suy giảm kèm theo các tệ
nạn xã hội ngày càng tăng. Dĩ nhiên, biện pháp tốt nhất
để hạn chế điều này chính là ý thức của mỗi người
chúng ta (người sản xuất, người bán, cũng như người mua)
về sự nguy hại của rượu, bia và lỗ lực nhiều cho ý thức
đó.
*
Trên
đây là năm giới điều cho một người Phật tử mà chúng
tôi quan niệm như là năm trách nhiệm đạo đức giúp chúng
ta xây dựng một nếp sống hạnh phúc và an lạc cho tự thân,
cho gia đình và xã hội. Tất nhiên một người Phật tử có
thể thực hành thêm, càng nhiều càng tốt, những lời của
Đức Phật nhằm phát triển và nâng cao đời sống đạo đức,
hạnh phúc của chính mình. Vị ấy có thể đi sâu hơn vào
giáo lý của Đức Phật bằng cách thực hành Bát quan trai
giới, tu Mười thiện nghiệp, hoặc vị ấy hành trì thiền
định "Tứ niệm xứ" mỗi ngày tùy theo giờ giấc và sinh
hoạt. Tất cả điều đó được khuyến khích. Tuy nhiên, như
một nguyên tắc, người Phật tử cần ý thức rõ về giới
điều của mình và nỗ lực lớn việc thực thi trọn vẹn
năm giới điều này, trước khi vị ấy đi sâu vào những
lời dạy của Đức Phật.
Trên
đây chúng tôi đã nhấn mạnh đạo đức là trách nhiệm của
mỗi người chúng ta trong các mối quan hệ gia đình và xã
hội. Chúng tôi cũng đã chỉ rõ đạo đức là hạnh phúc
của con người và nhân danh ấy khuyên quý Phật tử dốc tâm
vào nếp sống đạo đức bằng cách giới thiệu với quý
vị nếp sống thực hành năm giới cấm. Tiếp theo chúng tôi
muốn giới thiệu với quý Phật tử một bài kinh quan trọng
của Đức Phật liên quan đến nếp sống đạo đức cá nhân,
đạo đức gia đình, đạo đức xã hội và mong những lời
dạy này cũng sẽ trở thành những trách nhiệm đạo đức
được quý Phật tử dốc tâm thực hành.
*
Bài
kinh chúng tôi sẽ trình bày sau đây được rút ra từ Trường
Bộ Kinh và có tên là "Kinh Giáo thọ Thi Ca La Việt". Đây là
bài kinh do Đức Phật giảng dạy cho một vị thanh niên tên
Singàlaka nhn6 một buổi Ngài đi khất thực ở thành Vương
Xá. Trước hết chúng ta nghe những lời dạy tóm tắt của
Đức
Phật:
"Này
Singàlaka, đối với thánh đệ tử, bốn nghiệp phiền não
được diệt trừ, không làm ác nghiệp theo bốn lý do, không
theo sáu nguyên nhân phung phí tài sản. Vị này, nhờ từ bỏ
mười bốn pháp, trở thành vị che chở sáu phương; vị này
đã thực hành, đã chiến thắng hai đời, vị này đã chiến
thắng đời này và đời sau. Sau khi thân hoại mạng chung vị
này sinh ở thiện phú, Thiên giới".
Vị
thánh đệ tử ở đây tức để chỉ cho một người Phật
tử sống đời sống hạnh phúc gia đình. Vậy thì, đời sống
của một người Phật tử thì như thế nào?
Vị
ấy là người đã diệt trừ bốn nghiệp phiền não, nghĩa
là, người Phật tử đã diệt trừ các ác nghiệp sát sinh,
trộm cắp, tà dâm, nói láo.
Vị
ấy không làm ác nghiệp theo bốn lý do, tức là, vị ấy không
làm các ác nghiệp do tham lam, không làm các ác nghiệp do sân
hận, không làm các ác nghiệp do si mê, không làm các ác nghiệp
do sợ hãi. Bởi người Phật tử không có tham dục, không
sân hận, không si mê, không sợ hãi, nên vị ấy không làm
ác nghiệp theo bốn lý do trên.
Người
Phật tử cũng từ bỏ sáu nguyên nhân phung phí tài sản như:
- Đam
mê các loại rượu khiến phung phí các tài sản.
-
Du hành đường phố phi thời khiến phung phí các tài sản.
-
La cà đình đám hý viện khiến phung phí các tài sản.
-
Đam mê cờ bạc khiến phung phí các tài sản.
-
Giao du với bạn ác khiến phung phí các tài sản.
-
Quen thói lười biếng khiến phung phí các tài sản.
Từ
sáu nguyên nhân trên, Đức Phật chỉ ra 36 trường hợp nguy
hiểm sau đây cho thấy những việc làm thiếu cân nhắc, thiếu
suy nghĩ của con người thì hết sức tai hại.
Về
đam mê các loại rượu có sáu nguy hiểm sau:
- Tài
sản hiện tại bị tổn thất.
-
Đấu tranh tăng trưởng.
-
Bệnh tật dễ xâm nhập.
-
Thương tổn danh dự.
-
Thân thể hở hang.
-
Trí lực bị tổn hại.
Du
hành đường phố phi thời có sáu nguy hiểm sau:
- Tự
mình không được che chở hộ trì.
-
Vợ con không được che chở hộ trì.
-
Tài sản không được che chở hộ trì.
-
Bị tình nghi là tác giả của các ác sự.
-
Nạn nhân của các tin đồn thất thiệt.
-
Tự chuốt vào thân nhiều khổ não.
Sáu
nguy hiểm cho việc la cà đình đám hý viện gồm:
- Luôn
luôn bị lôi cuốn bởi múa.
-
Bị lôi cuốn bởi ca.
-
Bị lôi cuốn bởi nhạc.
-
Bị lôi cuốn bởi tán tụng.
-
Bị lôi cuốn bởi nhạc tay.
-
Bị lôi cuốn bởi kèn trống.
Đam
mê cờ bạc có sáu nguy hiểm như:
- Nếu
thắng thì sinh thù oán.
-
Nếu thua thì sinh tâm sầu muộn.
-
Tài sản bị tổn thất.
-
Tại hội trường lời nói không có hiệu lực.
-
bạn bè khinh miệt.
-
Việc cưới gả không được tín nhiệm, vì kẻ cờ bạc không
đáng để cưới vợ.
Giao
du với bạn ác có sáu nguy hiểm sau:
- Giao
du với kẻ cờ bạc là nguy hiểm.
-
Giao du với kẻ loạn hành là nguy hiểm.
-
Giao du với kẻ nghiện rượu là nguy hiểm.
-
Giao du với kẻ trá ngụy là nguy hiểm.
-
Giao du với kẻ là lường gạt nguy hiểm.
-
Giao du với kẻ bạo động là nguy hiểm.
Trong
mối tương giao với bạn bè, Đức Phật dạy cho Singàlaka
về bốn hạng người không nên kết bạn và bốn hạng người
nên
kết bạn. Ở đây Ngài cũng giải thích rõ vì sao hạng người
này không nên kết bạn, trong khi hạng người kia nên kết
bạn.
Bốn
hạng người không nên kết bạn gồm:
1.
Người vật gì cũng lấy. Hạng người này không nên kết
bạn vì đó là kẻ cho ít xin nhiều, vì sợ mà làm, vì mưu
lợi cho mình và là người vật gì cũng lấy.
2.
Người chỉ biết nói giỏi. Hạng người này không nên kết
bạn, vì đó là kẻ chỉ biết tỏ lộ thân tình việc đã
qua, tỏ lộ thân tình việc chưa đến, mua chuộc tình cảm
bằng sáo ngữ và khi có công việc thì tỏ sự bất lực của
mình.
3.
Kẻ nịnh hót. Hạng người này không nên kết bạn, vì đó
là kẻ tán thành việc ác, không tán thành việc thiện, trước
mặt tán thán sau lưng chỉ trích.
4.
Người tiêu sài xa xỉ. Hạng người này không nên kết bạn,
vì đó là kẻ kết bạn khi có rượu chè, khi du hành đường
phố phi thời, khi la cà đình đám hý viện và khi có cờ bạc.
Về
bốn hạng người nên kết bạn gồm:
1.
Người có lòng giúp đỡ. Hạng người này nên kết bạn,
vì đó là người biết che chở cho bạn khi bạn vô ý phóng
dật, làm chỗ nương tựa cho bạn khi bạn gặp sợ hãi và
khi bạn có công việc thì sẵn sàng giúp đỡ của cải cho
bạn.
2.
Người chung thuỷ. Hạng người này nên kết bạn, vì đó
là mẫu người sẵn sàng nói cho bạn về điều bí mật của
mình, biết giữ kín điều bí mật của bạn, không bỏ rơi
bạn khi gặp khó khăn và giám hy sinh thân mạng vì bạn.
3.
Người khuyên điều lợi ích. Hạng người này nên kết bạn,
vì đó là mẫu người giúp bạn ngăn chặn điều ác, khuyến
khích bạn làm điều thiện, nói cho bạn những điều bạn
chưa nghe và giải thích cho bạn đường hướng đến hạnh
phúc an lạc.
4.
Người có lòng thương tưởng. Hạng người này nên kết bạn,
vì đó là mẫu người chia sẻ với bạn khi bạn bè gặp hoạn
nạn, hoan hỷ khi bạn bè gặp may mắn, ngăn chặn việc nói
sấu bạn và khuyến khích việc tán thán bạn bè.
Sau
cùng, Đức Phật dạy cho Singàlaka về một số các mối tương
giao được đi kèm với các bổn phận và trách nhiệm như:
Về
quan hệ giữa cha mẹ và con cái:
Con
cái đối với cha mẹ có năm bổn phận vần phải được
thực hiện như sau: Phụng dưỡng cha mẹ, lo làm các bổn phận
đối với cha mẹ, giữ gìn truyền thống gia đình, bảo vệ
tài sản thừa tự và lo tang lễ cho cha mẹ khi cha mẹ qua đời.
Đáp
lại, cha mẹ có năm trách nhiệm đối với con cái: Ngăn con
làm điều ác, khuyến khích con cái làm điều thiện, dạy
nghề nghiệp cho con, lo việc cưới gả cho con và đúng thời
trao của thừa tự cho con.
Về
quan hệ giữa thầy và trò:
Người
học trò có năm bổn phận đối với thầy gồm: Lễ phép
đối với thầy, chămlo hầu hạ thầy, nỗ lực học tập,
lo việc phục vụ thầy, chú tâm học hỏi nghề nghiệp.
Đáp
lại, vị thầy có năm trách nhiệm đối với học trò của
mình như: Huấn luyện cho học trò những gì mình thành thạo,
dạy học trò cách bảo trì những gì cần được bảo trì,
dạy cho học trò của mình thuần thục các nghề nghiệp, khen
thưởng học trò và đảm bảonghề nghiệp cho học trò.
Về
quan hệ giữa vợ và chồng:
Người
chồng có năm bổn phận đối với vợ: tôn trọng vợ, không
thất kính đối với vợ, chung thành với vợ, giao quyền hành
cho vợ và thỉnh thoảng sắm đồ trang sức cho vợ.
Đáp
lại, người vợ phải thi hành tốt đẹp các bổn phận làm
vợ: Khéo đón tiếp các bà con của chồng, trung thành với
chồng, khéo giữ gìn tài sản của chồng, khôn khéo và nhanh
nhẹn trong mọi công việc.
Về
mối quan hệ giữa bạn bè với nhau:
Trong
mối tương giao giữa bạn bè, vị ấy cần sống với một
nếp sống bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, không lường
gạt.
Đáp
lại, vị ấy được bạn bè quý mến, che chở cho những lúc
vô ý phóng dật, được bảo vệ tài sản, được bạn bè
giúp đỡ khi gặp nguy hiểm, được giúp đỡ khi gặp khó
khăn và được bạn bè kính trọng về phương diện gia thế.
Về
quan hệ giữa chủ và người làm công:
Người
chủ cần có trách nhiệm đối với người làm công của mình
như: Giao những công việc vừa sức, lo việc ăn uống và lương
bổng, lo việc điều trị khi đau ốm, chia sẻ các món ăn
ngon và thỉnh thoảng cho nghỉ phép.
Đáp
lại, người làm công phải hoàn thành các bổn phận của
mình như: Thức dậy trước chủ, đi ngủ sau chủ, bằng lòng
với lương bổng và tiền thưởng, khéo làm các công việc
và biết đem tiếng tốt về cho chủ.
Về
quan hệ giữa các hiền nhân và đệ tử:
Người
đệ tử phải có lòng về thân, về lời, về ý đối với
các vị Hiền nhân, đón tiếp, trân trọng, cúng dường các
vật dụng cần thiết cho các vị Hiền nhân.
Đáp
lại các vị Hiền nhân có trách nhiệm đối với người đệ
tử như: ngăn ngừa làm các điều ác, khuyến khích làm điều
thiện, thương xót đệ tử với các lòng từ, dạy cho đệ
tử những điều chưa được nghe, khiến cho thanh tịnh điều
đã nghe và dạy bảo con đường hướng thiện cho các đệ
tử.
Chúng
tôi vừa giới thiệu một bài kinh đề cập khá chi tiết về
nếp sống đạo đức của một người Phật tử. Đó là nếp
sống bỏ ác làm lành được thể hiện trong đời sống hằng
ngày của chúng ta ngang qua các mối quan hệ mật thiết giữa
cá nhân, gia đình, xã hội. Rõ ràng bài kinh chỉ được giảng
dưới hình thức nêu rõ một số quan điểm về thiện và
bất thiện cùng các mối quan hệ giữa con người với con
người và chúng ta không hề thấy hai chữ "đạo đức" được
nhắc đến ở đây. Quả vậy, bài kinh này không định nghĩa
cho chúng ta đạo đức là gì, nhưng mỗi chữ mỗi câu trong
bài đều toát lên sức sống của một nếp sống đạo đức
chân thực thể hiện qua sự cân nhắc, chọn lựa những gì
là thiên, bất thiện cũng như việc thực hiện đầy đủ
các trách nhiệm và bổn phận đối với các mối quan hệ
giữa con người với con người. Và đó chính là đạo đức.
Như
vậy, bài kinh đã dạy cho chúng ta đạo đức của con người
Phật là gì, cùng lúc ấy chỉ cho chúng ta cách thực hiện
đạo đức ấy như thế nào. Tuy nhiên, điều cần chú ý ở
đây không phải là những dấu hiệu đạo đức tìm thấy
trong bài kinh, mà những biểu hiện của đạo đức được
thể hiện qua đời sống hàng ngày của mỗi người Phật
tử chúng ta. Làm sao để giá trị đạo đức của bài kinh
trở nên sống động, góp phần vào việc xây dựng hạnh phúc
cho cá nhân, gia đình và xã hội đó là trách nhiệm của mỗi
người Phật tử chúng ta.
Không
phải chỉ ngày nay đạo đức mới tỏ lộ tiếng nói của
mình như là điều kiện tất yếu cho hạnh phúc của con người
và thái bình của xứ sở. Hơn 25 thế kỷ trước, Đức Phật
đã nói đến đạo đức và cuộc sống của Ngài là tấm
gương sáng về đạo đức. Quả vậy nếp sống Giới đức,
Hạnh đức và Trí đức của Ngài mãi mãi là tấm gương soi
sáng hướng đi hạnh phúc, an lạc cho mỗi chúng ta.
Nhân
kỷ niệm Đản sinh lần thứ 2543 của Ngài, mỗi chúng ta hãy
tự xác tín lại lòng kính tín của chúng ta đối với Đức
Phật bằng cách tự đặt mình vào lời dạy của Ngài và
nỗ lực tinh tấn thực hành những lời Ngài dạy. Việc làm
đó nói lên lòng tôn kính của chúng ta đối với Đức Phật,
sự kính trọng của chúng ta đối với giáo pháp của Ngài.
Việc làm đó cũng nói lên tinh thần trách nhiệm của chúng
ta đối với vấn đề đạo đức.
Trước
khi vào Niết-bàn, đức Phật có để lại cho chúng ta những
lời huấn thị quan trọng. Để xác chứng lòng tịnh tín đối
với bậc Đạo sư và những lời dạy của Ngài, chúng tôi
xin kết thúc bài viết này bằng một lời khuyên của Ngài
nói về thái độ kính trọng đúng đắn nhất của một người
đệ tử đối với bậc đạo sư của mình:
"Này
Ananda, nếu có các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, nam cư sĩ hay nữ cư
sĩ nào thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chính
trong Chánh pháp, hành trì đúng pháp, thời người ấy kính
trọng tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng
dường tối thượng".
9
KINH
NGHIỆM TU TẬP CỦA ĐỨC PHẬT
QUA
KINH THÁNH CẦU
Sự
kiện ra đời của đức Phật để đem lại an lạc cho con
người và cuộc đời, đã được Ngài đề cập trong nhiều
kinh: "Ta ra đời vì an lạc, vì hạnh phúc, vì lợi ích cho
chư thiên và loài người, vì lòng thương tưởng cho đời".
Với lý tưởng đó, Ngài đã trải qua bao nhiêu thử thách,
gian lao, bằng những kinh nghiệm của tự thân để cuối cùng
tìm được con đường đi ra khỏi khổ đau. Ở đây chúng
ta muốn giới thiệu kinh nghiệm tu học của đức Phật được
ghi lại trong kinh Thánh Cầu (số 26, Trung Bộ I).
Ở
đời cái gì cũng vậy, không phải ngẫu nhiên có được,
mà đòi hỏi mỗi con người chúng ta phải tự nỗ lực, tự
tầm cầu, tự suy tư để tìm đến con đường giải thoát
cho tự thân và tha nhân. Đức Phật cũng vậy, qua sự tu tập
và kinh nghiệm của Ngài khi đang còn là Bồ-Tát cho đến lúc
chứng Vô thượng Chánh đẳng giác, nỗi khổ đau kiếp người
lúc nào cũng vẫn ám ảnh trong tâm thức, khiến Ngài phải
tự tư duy, tìm cầu giải thoát. Những kinh nghiệm đó được
Ngài chia ra hai loại, đó là Thánh cầu và phi Thánh cầu .
1.
Thế
nào là Phi Thánh cầu?
"Ở
đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tìm
cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già,
tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu...
tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm".
"Vợ
con, đầy tớ nam, đầy tớ nữ, dê, cừu, gà, voi, heo, trâu,
bò, ngựa đực, ngựa cái, vàng và bạc là bị sanh, bị già,
bị bệnh, bị chết, bị sầu, bị ô nhiễm. Những chấp thủ
ấy là bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết, bị sầu, bị
ô nhiễm, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng,
tự mình bị sanh, bị già... bị ô nhiễm lại tìm cái bị
sanh, bị già... bị ô nhiễm. Này các Tỷ-kheo như vậy gọi
là Phi Thánh Cầu".
2.
Thế
nào là Thánh cầu?
Ở
đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh, sau khi
biết rõ sự nguy hại của bị sanh, tìm cầu cái vô sanh, vô
thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị
già... tìm cầu cái không già... tự mình bị bệnh... tìm cầu
cái không bệnh... tự mình bị chết... tìm cầu cái bất tử...
tự mình bị ô nhiễm... tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng
an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo như vậy
gọi là Thánh Cầu".
Ngài
đã kể lại, khi Ngài đang còn là Bồ-tát, chưa chứng Chánh
đẳng giác, đã tự mình đi tìm cầu cái bị sanh, bị già,
tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu.
Những nỗi khổ đau đang ám ảnh trong tâm trí của Ngài và
thấy sự nguy hại của chúng, Ngài từ bỏ chúng và đến
học đạo với hai vị đạo sư nổi tiếng đương thời là
Àlàra Kàlàma và Uddaka Ràmaputta. Khi đến học đạo với Àlàra
Kàlàma, được Àlàra Kàlàma tuyên bố về Vô-sở-hữu-xứ.
Rồi Ngài suy nghĩ không phải chỉ có Àlàra Kàlàma có lòng
tin, có tinh tấn, có niệm, có định, có tuệ, Ta cũng có lòng
tin, có tinh tấn, có niệm, có định, có tuệ. Suy nghĩ như
vậy, Ngài tự thân nỗ lực và không bao lâu Ngài đã chứng
được pháp ấy. Nhưng pháp ấy cuối cùng cũng không hướng
đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thượng tri, giác
ngộ, Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô-sở-hữu-xứ.
Ngài lại từ bỏ pháp ấy, ra đi. Tiếp đến học đạo với
Uddaka Ràmaputta, được Uddaka Ràmaputta tuyên bố về Phi tưởng
phi-phi-tưởng-xứ. Rồi Ngài suy nghĩ không phải chỉ có Uddaka
Ràmaputta có lòng tin, có tinh tấn, có niệm, có định, có
tuệ, Ta cũng có lòng tin, có tinh tấn, có niệm, có định,
có tuệ. Suy nghĩ như vậy, Ngài tự thân nỗ lực và không
bao lâu Ngài đã chứng được pháp ấy. Nhưng tựu trung, pháp
ấy vẫn không hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an
tịnh, thượng tri, giác ngộ, Niết-bàn, mà chỉ đưa đến
sự chứng đạt Phi tưởng phi-phi-tưởng-xứ. Do đó Ngài lại
từ bỏ pháp ấy, ra đi.
Sau
khi từ bỏ hai vị Àlàra Kàlàma và Uddaka Ràmaputta, vì hai
vị này chưa chứng được thánh quả, rồi Ngài đến Uruvela,
lựa một địa điểm khả ái, dễ dàng khất thực và Ngài
tham thiền ở đó cho đến khi thành đạo. Ngài tự mình bị
sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, tìm cầu cái
vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; và
chứng được chúng; tự mình bị già... tìm cầu cái không
già... tự mình bị bệnh... tìm cầu cái không bệnh... tự
mình bị chết... tìm cầu cái bất tử... tự mình bị ô nhiễm...
tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ
ách, Niết-bàn vả đã chứng được cái không ô nhiễm, vô
thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Rồi tri và kiến
khởi lên nơi Ngài: "Sự giải thoát của Ta không bị giao động.
Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn tái sanh nữa".
Sau
khi thành đạo, Ngài suy nghĩ: "Pháp này do Ta chứng được
thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng,
siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn
quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái
dục. Đối với quần chúng như vậy thì thật khó mà thấy
được định lý Idapacayatà Paticcasamuppàda (Y Tánh Duyên Khởi
Pháp); sự kiện này thật khó thấy, tức là sự tịnh chỉ
tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, y tham,
đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu ta thuyết pháp mà người khác
không hiểu Ta, thời như vậy thật phiền toái cho Ta, như vậy
thật bực mình cho ta!". Phạm thiên Sahampati biết được tâm
tư của đức Thế Tôn, liền hiện đến đỉnhcầu Ngài ở
lại đời để thuyết pháp. Cuối cùng, Ngài nhận lời của
Phạm thiên theo bài kệ:
"Cửa
bất tử rộng mở
Cho
những ai chịu nghe.
Hãy
từ bỏ tín tâm,
Không
chính xác của mình
Tự
nghĩ đến phiền toái,
Ta
đã không muốn giảng
Tối
thượng vi diệu pháp,
Giũa
chúng sinh loài người". - (Ôi Phạm thiên)
Từ
đó, Ngài vận chuyển bánh xe pháp. Trên con đường hoằng
pháp Ngài gặp tà mạng ngoại đạo Upaka, vị này ca ngợi
và hỏi Ngài vì mục đích gì mà xuất gia, ai là vị đạo
sư và Ngài thọ trì pháp của ai. Để khẳng định mình là
bậc thầy của trời người, Ngài nói lên bài kệ với tà
mạng ngoại đạo Upaka như sau:
-"Ta,
bậc thắng tất cả,
Ta,
bậc nhất thiết trí.
Hết
thảy pháp không nhiễm,
Hết
xả pháp, xả ly.
Ta
sống không giải thoát,
Đoạn
tận mọi khát ái.
Như
vậy Ta tự giác,
Còn
phải y chỉ ai?
Ta
không có Đạo sư,
Bậc
như Ta không có,
Giữa
thế giới Nhân, Thiên,
Không
có ai bằng Ta,
Bậc
Ứng cúng trên trời,
Bậc
Đạo sư vô thượng.
Tự
mình Chánh đẳng giác,
Tự
an tịnh thanh thoát.
Để
chuyển bánh xe pháp,
Ta
đến thành Kàsi.
Gióng
lên trống bất tử,
Trong
thế giới mù loà.
-"Như
hiền giả tự xưng, hiền giả xứng đáng là bậc chiến thắng
vô tận?".
-"Như
Ta, bậc thắng giả,
Những
ai chứng Lậu tận,
Ác
pháp, Ta nhiếp phục,
Do
vậy, Ta vô địch.
Này
Upaka!"
Rồi
Ngài đi đến vườn nai để hóa độ cho năm vị Tỷ-kheo trước
kia đồng tu khổ hạnh với Ngài và cả năm đều chứng quả
A-la-hán. Tiếp theo, Ngài nói bài pháp về năm dục trưởng
dưỡng, sự nguy hại của năm dục trưởng dưỡng và sự
giải thoát năm dục trưởng dưỡng. Các sắc do mắt nhận
thức, sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, kích thích lòng
dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức... các hương do
mũi nhận thức... các vị do lưỡi nhận thức... các xúc do
thân cảm xúc, khả ái, khả hỷ, khả lạc, kích thích lòng
dục, hấp dẫn. Như vậy gọi là năm dục trưởng dưỡng.
Nếu những sa môn hay Bà-la-môn nào bị trói buộc, bị tham
đắm bởi năm dục trưởng dưỡng này, không thấy sự nguy
hại, sự giải thoát của chúng mà thọ dụng của chúng thì
những sa môn, bà-la-môn ấy sẽ rơi vào tầm tay của Ác ma.
Còn những sa môn hay bà-la-môn nào không bị trói buộc, không
bị tham đắm bởi năm dục trưởng dưỡng này, thấy sự
nguy hại, sự giải thoát của chúng mà thọ dụng chúng thì
những sa môn, bà-la-môn ấy sẽ không rơi vào tầm tay của
Ác ma. Muốn vậy, cần phải chứng được Tứ thiền, Tứ
không và Diệt Thọ Tưởng Định bằng trí tuệ, các lậu
hoặc được đoạn trừ.
Qua
đó, chúng ta nhận thấy tiến trình tu tập của đức Phật
từ khi đang còn là Bồ-tát cho đến khi chứng Vô Thượng
Bồ đề, Ngài luôn luôn tự thân nỗ lực, không nương tựa
vào bất cứ ai, mà chỉ nhờ vào lòng tin, tinh tấn, niệm,
định, tuệ của mình. Chính ngay cả Àlàra Kàlàma và Uddaka
Ràmaputta là hai vị đạo sư nổi tiếng đương thời, vẫn
không làm cho Ngài đạt được trí nguyện giải thoát. Điều
đó, Ngài đã từng dạy cho chư Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo,
hãy sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình (attadipà viharatha),
chớ y tựa một ai khác. Lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, lấy
chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái
gì khác... " (Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư Tử hống, Trường
Bộ II).
Tóm
lại, kinh nghiệm tu tập của Ngài được ghi lại trong kinh
Thánh cầu đã minh chứng rằng bằng tinh thần vô uý và tự
tin vào sức mạnh của chính mình, Ngài đã thắp ngọn đuốc
bằng niềm tin Giới, Định, Tuệ bừng sáng trong đêm đầy
tăm tối, đem lại con đường đi ra khỏi khổ đau cho nhân
loại.
Vạn
Hạnh, mùa Thành Ðạo, PL 2542
10
GIÁ
TRỊ HẠNH PHÚC
QUA
ĐẠI KINH VÍ DỤ LÕI CÂY
Từ
khi còn là một Thái tử cho đến khi thành tựu đạo Vô Thượng
Bồ đề, đức Phật đã trải qua đủ mọi lạc thú ở thế
gian, kể cả những lạc thú cao cấp trong Thiền định như
Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nhưng tất
cả những lạc thú đó cuối cùng để lại cho Ngài một ưu
tư lớn về tính chất vô thường, và không thể nào tìm thấy
hạnh phúc chân thật trong các lạc thú đó. Và thật sự có
một hạnh phúc chân thật không bị quy luật vô thường chi
phối được Ngài tìm thấy ngay sau khi giác ngộ, đó là giải
thoát bất động. Nhờ kinh nghiệm tự thân và kinh nghiệm
chứng ngộ này, đức Phật đã trình bày năm hạng người
điển hình đang tìm cầu hạnh phúc qua "Đại Kinh Ví Dụ Lõi
Cây".
Qua
bài kinh này, người học Phật có thể nhận thức được
đâu là chân giá trị hạnh phúc và đâu là hạnh phúc vô
thường tạm bợ. Nếu không có được nhận thức như thế
thì chúng ta khó có thể đạt đến mục đích mong muốn, khó
có thể đạt được hạnh phúc chân thật của sự giải thoát
và giác ngộ. Năm hạng người được đức Phật trình bày
trong bài kinh này đều có cùng ước muốn là đi tìm cầu
hạnh phúc, họ sống phạm hạnh để mong giải thoát mọi
khổ đau ởcuộc đời: "Ở đây, có Thiện nam tử do lòng
tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: Ta bị
chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị
chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất
có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt".
Tuy
nhiên, việc thành đạt mục đích giải thoát mọi khổ đau
hay không là hoàn toàn tùy thuộc vào nhận thức của chính
mỗi người qua các giai đoạn thành đạt trong việc tu tập
của người ấy. Thông thường, các giai đoạn thành đạt
ấy đem lại sự hỷ lạc cho vị hành giả và nếu say mê,
tham đắm, tự mãn đối với sự thành đạt này thì vị ấy
sẽ bị dừng lại ở đó, khó có thể đạt đến mục đích
cứu cánh giải thoát. Các hỷ lạc trong lộ trình tu tập của
vị hành giả được đức Phật phân ra như là năm hạng người,
và cũng chính là năm trạng thái hạnh phúc, từ phàm tục
cho đến giải thoát hoàn toàn:
1.
Có người được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do lợi
dưỡng, tôn kính, danh vọng vị ấy khen mình, chê người:
"Ta được lợi dưỡng như vậy, được tôn kính như vậy,
được danh vọng như vậy. Còn các Tỷ-kheo khác ít được
biết đến, ít có uy quyền". Do vậy, vị ấy trở thành mê
say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị
đau khổ.
2.
Có người không tự mãn với lợi dưỡng, danh vọng nên thành
tựu Giới đức. Do thành tựu Giới đức này, vị ấy hoan
hỷ, tự mãn và khen mình, chê người: "Ta là người trì giới,
theo thiện pháp. Các Tỷ-kheo khác phá giới, theo ác pháp".
Do thành tựu Giới đức này, vị ấy trở thành mê say, tham
đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
3.
Có người do không tự mãn với lợi dưỡng, danh vọng, không
tự mãn với Giới đức nên thành tựu Thiền định. Do thành
tự thiền định này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn và khen mình,
chê người: "Ta có thiền định nhất tâm, các Tỷ-kheo không
có thiền định, tâm bị phân tán". Do vậy, vị ấy trở thành
mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị
đau khổ.
4.
Có người do không tự mãn với lợi dưỡng, danh vọng, không
tự mãn với Giới đức, không tự mãn với Thiền định nên
thành tựu tri kiến. Vì tri kiến này, vị ấy hoan hỷ, tự
mãn và khen mình, chê người: "Ta sống, thấy và biết; các
Tỷ-kheo khác sống, không thấy và không biết". Vị ấy do
tri kiến này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống
phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
5.
Có người do không tự mãn với lợi dưỡng, danh vọng, không
tự mãn với Giới đức, không tự mãn với Thiền định,
không tự mãn với tri kiến nên thành tựu thời và phi thời
giải thoát, và vị ấy có thể từ bỏ thời và phi thời
giải thoát. Như vậy, phạm hạnh không phải vì lợi ích lợi
dưỡng, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu Giới
đức, không phải vì lợi ích thành tựu Thiền định, không
phải vì lợi ích thành tựu tri kiến, mà tâm giải thoát bất
động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây,
là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh.
Như
vậy, Tâm giải thoát bất động là mục đích của phạm hạnh,
là lõi cây, là hạnh phúc chân thật không hề có sự khổ
đau; còn lợi dưỡng, danh vọng, giới đức, thiền định,
tri kiến đều không phải mục đích của phạm hạnh được
không phải lõi cây, là hạnh phúc tạm thời của thế giới
vật chất vô thường.
Thế
nhưng, lòng tham muốn khiến con người chỉ tìm kiếm và chấp
nhận chút hạnh phúc tạm bợ mong manh mà không biết thú vui
đó là nguyên nhân của khổ. Hạnh phúc ấy luôn luôn bị
phụ thuộc vào sự đối đãi của tầng số tăng giảm về
lạc thú. Hôm nay, ta ăn cơm với xì dầu sướng hơn ngày hôm
trước, không có xì dầu mà ăn; nhưng xì dầu lại là sự
chán bỏ đối với nhửng món ăn khác ngon hơn. Phương tiện
xe đạp là thú vui so với đi bộ, nhưng lại là sự chán bỏ
đối với xe máy; và xe máy này là sự chán bỏ đối với
xe gắn máy đời mới hơn vv...
Vì
thế, đức Phật dạy hạnh phúc mà con người thường thọ
hưởng không ngoài sự tham muốn và tưởng nhớ các dục.
Kinh Xà Dụ (Trung Bộ, số 22) ghi: "Người ta thọ dụng các
dục không goài các dục, không ngoài các dục tưởng, không
ngoài các dục tầm". Thọ dụng các dục nghĩa là thọ hưởng
hạnh phúc do thoả mãn lòng tham muốn khi các giác quan tiếp
xúc với các trần cảnh; thọ dụng các dục tưởng là thọ
hưởng hạnh phúc do tưởng nhớ những cảm thọ trong quá
khứ; thọ dụng các dục tầm là thọ hưởng các hạnh phúc
do ước mong về tương lai. "Quá khứ đã đoạn tận, còn tương
lai thì chưa đến", nên hạnh phúc của dục tưởng và dục
tầm là hạnh phúc do vạng tưởng tạo lên, không thật có.
Còn hạnh phúc do các giác quan đưa đến thì lại vô cùng
phức tạp. Hạnh phúc này hoàn toàn tùy thuộc vào ý thích
riêng của mỗi người, nó không tùy thuộc vào thế giới
vật chất. Cái này là thú vui thích của người này nhưng
đồng thời lại là cái khiến người kia bực bội, chán ghét.
Một ly cà phê, anh thích còn tôi thì ghét. Thích là hạnh phúc,
ghét là đau khổ. Phải chăng một ly cà phê vô tri ấy mà
lại chứa đựng cả hạnh phúc lẫn đau khổ?
Thật
ra, hạnh phúc hay khổ đau là chính thái độ con người đối
với đối tượng nhận thức, chứ không phải là đối tượng
nhận thức. Vả lại, đối tượng nhận thức thuộc thế
giới khách quan, luôn luôn vận hành theo quy luật duyên sinh,
vô thường, vô ngã; trong khi đó, thú vui (hạnh phúc) mà con
người thọ dụng thì thuộc chủ quan tự ngã. Sự mâu thuẫn
giữa thế giới khách quan và tâm ý chủ quan này đã tạo
ra biết bao khổ đau trên cuộc đời. Thế nhưng, do ý chí
muốn sống (hay kiết sanh thức) đã khiến cho loài hữu tình
bất chấp mọi khổ đau để tìm kiếm chút hạnh phúc tạm
bợ trong cuộc sống này. Vô minh là thế.
Do
vậy, vấn đề nhận thức đúng đắn về bản chất và giá
trị của hạnh phúc là vấn đề rất quan trọng. Đại kinh
Ví Dụ Lõi Cây cho chúng ta thấy rõ giá trị hạnh phúc qua
năm phần của một cây Đại thọ, gồm lõi cây, giác cây,
vỏ trong, vỏ ngoài và cành lá.
- Hạnh
phúc cành lá là lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng;
-
Hạnh phúc vỏ ngoài là thành tựu Giới đức;
-
Hạnh phúc vỏ trong là thành tựu Thiền định;
-
Hạnh phúc lá cây là thành tựu Tri kiến; và
-
Hạnh phúc lõi cây là Giải thoát bất động.
Đối
chiếu năm phần của một cây đại thọ như thế, chúng ta
có thể dễ dàng thấy được giá trị hạnh phúc của lợi
dưỡng tôn kính, danh vọng; thấy được giá trị hạnh phúc
của Giới đức, của Thiền định, của Tri kiến và của
Giải thoát bất động. Qua đó chúng ta có thể biết được
chúng ta đang sống và cảm thọ ở mức hạnh phúc nào, đồng
thời biết định hướng cho mình một hướng đi đúng đắn.
*
Trong
bài kinh này, đức Phật hướng dẫn cho chúng ta thấy rằng
mục đích cuối cùng của phạm hạnh phải là Giải thoát
bất động. Tuy nhiên, trên chặng đường đi đến mục đích
ấy, chúng ta không thể không trải qua bốn giai đoạn trước.
Điều quan trọng ở đây là chúng ta không nên cho lạc thú
của các giai đoạn đó chi phối bước tiến của mình, không
nên dừng lại và chấp thủ tự mãn những gì mình đã đạt
được. Lời dạy của đức Phật trong Đại Kinh Ví Dụ Lõi
Cây thật là cao siêu. Những gì đức Phật dạy từ bỏ thì
những thứ đó con người đang ngưỡng vọng và hướng đến.
Thật vậy, chỉ cần thành tựu Giới đức thôi thì đã đạt
đến Biệt giải thoát rồi, huống nữa là thành tựu Thiền
định và thành tựu Tri kiến. Do đó con người đi đến đích
ở đây thật là dài, và lạc thú ở trong đó cũng không phải
là ít, không khéo thì chúng ta khó có thể đạt được mục
đích mà đức Phật mong muốn. Lợi dưỡng, Tôn kính, Danh
vọng, Giới đức, Thiền định, Tri kiến rất cần thiết
cho những ai chưa đạt đến, nhưng lại là mối nguy hiểm
cho những ai tự mãn, say mê, tham đắm và dừng lại ở đó.
Giáo
lý đức Phật muốn trình bày trong kinh này không phải là
một pháp môn tu tập cụ thể, mà ở đây, Ngài mở ra cho
chúng ta một Chánh Tri Kiến, một cách nhìn đúng đắn về
lộ trình tu tập đưa đến giải thoát giác ngộ. Tuy được
hướng dẫn cho người xuất gia tu phạm hạnh, bài kinh này
vẫn có giá trị thiết thực cho bất cứ ai muốn tìm cầu
hạnh phúc chân thật mà không sợ bị sai đường lạc lối,
không sợ bị rơi vào tà kiến khổ đau. Giải thoát bất động
là ngọn hải đăng soi sáng cho những con thuyền lênh đênh
đi tìm bờ cập bến, đang đi tìm kiếm hạnh phúc chân thật.
Có ngọn đèn, có con đường, đoàn lữ hành lướt sóng vượt
qua mà không bị phong ba làm chướng ngại, không bị dòng tục
lụy cuốn trôi.
Hành
giả tin chắc phía ngọn đèn là bờ, thấy được rằng vượt
qua những hạnh phúc tầm thường không thật thì sẽ đạt
đến hạnh phúc chân thật thanh cao; vượt qua được cành
lá, vỏ cây, giác cây thì sẽ đạt đến lõi cây. Hãy tin
rằng chỉ có lõi cây, chỉ có Giải thoát bất động mới
là hạnh phúc vững bền và chắc thực, bởi "Cái gì là lõi
cây, cái ấy sẽ tồn tại lâu dài" (Yo sàro so thassati ).
(Trung
Bộ I, bài kinh số 29).