1
Chúng
ta có thể nói tất cả những lời dạy của đức Phật đều
trực tiếp hay gián tiếp liên hệ đến vấn đề đạo đức
và chúng ta cần phải định nghĩa đạo đức Phật giáo như
thế nào trước hết cho phù hợp với dụng ý thuyết pháp
độ sanh của Ngài, sau đó ứng dụng nền đạo đức ấy
vào thế giới loài người của chúng ta, đặc biệt là con
người hiện đại của chúng ta.
Khi
Ngài tuyên bố: "Này các tỷ-kheo, xưa cũng như nay Ta chỉ nói
nên sự khổ và diệt khổ" (Trung Bộ I, 140), lời tuyên bố
xác nhận Ngài chỉ dạy cho loài người biết đến khổ và
sự diệt khổ trong suốt 45 năm qua thuyết pháp của Ngài.
Chúng ta được biết trong kinh Chuyển Pháp Luân, bản kinh đầu
tiên của Ngài thuyết giảng cho 5 vị trước kia cùng tu khổ
hạnh với Ngài. Ngài đã tuyên bố: "Ðây là khổ, đây là
khổ cần phải được biết, đây là khổ đã được biết.
Ðây là khổ tập, đây là khổ tập cần được đoạn diệt,
đây là khổ tập đã được đoạn diệt. Đây là khổ diệt,
đây là khổ diệt cần phải chứng ngộ, đây là khổ diệt
đã được chứng ngộ. Đây là con đường đưa đến khổ
diệt, đây là con đường khổ diệt cần phải hành trì ,
đây là con đường khổ diệt đã được hành trì. " Không
những vậy ngài còn khuyên những đệ tử xuất gia của Ngài:
"Này các Tỷ-kheo hãy du hành, vì hạnh phúc của quần sanh,
vì an lạc cho quần sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì
lợi ích, vì an lạc cho chư thiên và loài người". (Tương
Ưng I, 128).
Những
lời tuyên bố trên của đức Phật nêu rõ hoài bão tha thiết
của Ngài là cứu khổ độ sanh, diệt khổ ưu, đem lại hỷ
lạc cho tất cả loài hữu tình. Và như vậy chúng ta có thể
định nghĩa, đạo đức Phật giáo là một nếp sống đem
lại hạnh phúc và an lạc cho mọi loài chúng sinh, đặc biệt
là loài người chúng ta. Cần đặc biệt nhấn mạnh đây là
một nếp sống, không phải là những lời dạy luân lý hạnh
kiểm cần phải theo một cách máy móc thụ động. Và nếp
sống ấy cần phải đem ra hành trì, thực hiện, không phải
để lễ bái cầu xin. Có thực hiện người hành trì mới
hưởng được hạnh phúc an lạc, thiết thực hiện tại và
ngay trong đời này (sandithiko akàliko), có thể thấy biết được
(ehipassiko), không phải là một cảnh giới thiên đường xa
xăm tưởng tượng .
Một
số lời dạy sau đây của đức Phật càng chứng minh rõ những
lời dạy của Ngài là hướng tới diệt khổ và đem vui cho
chúng sinh: "Thành tựu 5 pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trong hiện tại sống đau khổ, với tổn não với ưu não,
với nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung được chờ đợi
là ác thú . Thế nào là 5? Ở đây này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không có lòng tin, không có lòng xấu hổ, không có lòng sợ
hãi, biếng nhác và ác tuệ. Thành tựu 5 pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong hiện tại sống an lạc, không có tổn
não, không có ưu não, không có nhiệt não và sau khi mạng chung,
được chờ đợi là cõi lành Thế nào là 5? Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo có lòng tin, có lòng hổ thẹn, có lòng sợ hãi, tinh
cần tinh tấn, có trí tuệ... " (Tăng Chi II, 11).
Một
lời dạy tiếp, càng nhấn mạnh thêm: "Thành tựu 5 pháp này,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đem lại hạnh phúc cho mình và đem
lại hạnh phúc cho người . Thế nào là 5? Ở đây này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ giới hạnh và khuyến khích người
khác đầy đủ giới hạnh. Tự mình đầy đủ thiền định
và khuyến khích người khác đầy đủ thiền định. Tự mình
đầy đủ trí tuệ và khuyến khích người khác đầy đủ
trí tuệ. Tự mình đầy đủ giải thoát và khuyến khích người
khác đầy đủ giải thoát. Tự mình đầy đủ giải thoát
tri kiến và khuyến khích người khác đầy đủ giải thoát
tri kiến. Đầy đủ 5 pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đem
lại hạnh phúc cho mình và đem lại hạnh phúc cho người".
(Tăng Chi II, 20).
Nếu
Đạo đức Phật giáo là một nếp sống đem lại hạnh phúc
an lạc, nếp sống ấy cũng là một nếp sống đề cao cho
con người vào một vị trí tối thượng, xác định con người
có khả năng đoạn trừ mọi khổ não, chấm dứt sanh tử
luân hồn. Lời của Ngài là cả một hình ảnh linh động
của một người dựa trên sức mạnh con người, tự mình
đi tìm đạo, tự mình tu khổ hạnh, tự mình hành thiền cho
đến khi chứng quả, không nhờ một ai, không ỷ lại một
thần lực nào. Khi đến tìm đạo với Ngài Alarakalama, vị
đã chứng thiền vô sở hữu xứ, Ngài suy nghĩ: "Không phải
chỉ Alarakalama có lòng tin, Ta cũng có lòng tin, Không phải
chỉ Alarakalama có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải
chỉ Alarakalama có niệm, ta cũng có niệm. Không phải chỉ
Alarakalama có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ Alarakalama
có tuệ, Ta cũng có tuệ". Với những suy nghĩ như vậy, và
với khả năng tự lực, tự cường, Ngài kiên trì tu tập
và chứng được quả Vô sở hữu xứ như Alarakalama đã chứng.
Khi Ngài tự chứng niệm trên bản thân rằng khổ hạnh không
đưa đến giác ngộ, Ngài liền rời bỏ khổ hạnh, hành trì
thiền định, chứng được sơ thiền, thiền thứ hai, thiền
thứ ba, thiền thứ tư, chứng được Túc mạng minh, Thiên
nhãn minh, Lậu tận minh, giải thoát khỏi các lậu hoặc, thành
bậc Chánh đẳng, Chánh giác.
Như
vậy đời Ngài từ khi tầm đạo đến khi giác ngộ, chứng
minh một cách cụ thể rằng, với thân con người với ý trí
nỗ lực con người, không nhờ vả ỷ lại một ai, Ngài đã
được cứu cánh phạm hạnh tối thượng. Ngài chứng minh
rằng: không quá đau khổ trong cảnh giới địa ngục, không
quá sung sướng trong cảnh giới chư Thiên, chỉ với thân con
người, tuệ tri được đau khổ để vượt qua đau khổ, tuệ
tri được lạc để giải thoát khỏi thiên lạc, đạt được
giải thoát lạc để thành bậc Chánh giác.
Như
vậy Đạo đức Phật giáo là một nếp sống đề cao vị
trí con người và chứng minh rằng con người có khả năng
đạt đến giải thoát tối thượng, nếu con người có đủ
ý trí và nỗ lực của con người, nếu con người tăng trưởng
được niệm lực, định lực và thiền lựccủa con người,
nếu con người phát huy được tuệ lực giải thoát lực của
con người.
Bước
thêm bước nữa, đạo đức Phật giáo là một nếp sống
thanh tịnh, trong sạch và lành mạnh, vì chỉ có một đời
sống thanh tịnh mới bảo đảm được đời sống hạnh phúc.
Trong kinh Ví dụ Tấm vải (Trung Bộ I, số 7), đức Phật xác
nhận một tấm vải cấu uế đem nhuộm sẽ đươc một màu
nhuộm không tốt đẹp. Cũng vậy cõi ác chờ đợi một tâm
cấu uế. Trái lại, một tấm vải thanh tịnh trong sạch đem
nhuộm sẽ được một màu nhuộm tốt đẹp. Cũng vậy cõi
thiên chờ đợi một tâm không cấu uế. Như vậy, hạnh phúc
chỉ đến với một tâm trong sạch, không đến với một tâm
cấu uế.
Rồi
Đức Phật kể 16 cấu uế tâm, trong ấy tham sân si là chính,
cần phải tẩy sạch và đoạn trừ, nhờ lòng tịnh tín bất
động đối với ba ngôi báu, nhờ chứng được nghĩa tín
thọ và pháp tín thọ. "Từ nơi đây, hân hoan liên hệ đến
pháp sanh. Từ hân hoan, hỷ khởi lên. Từ hỷ, thân được
khinh an. Thân khinh an, cảm giác được lạc thọ. Với lạc
thọ, tâm được thiền định" (Trung Bộ I, 37A-37B). Muốn chứng
được thiền định, phải loại trừ năm triền cái được
xem như là cấu uế của tâm thay thế bằng năm thiền chi tâm
tứ hỷ lạc và nhất tâm. Muốn chứng quả A-la-Hán, phải
đoạn trừ ba lậu hoặc: Dục lậu, Hữu lậu, Vô minh lậu;
phải tẩy sạch mười kiết sử: Thân kiến, giới cấm thủ,
nghi, tham, sân, sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử và vô
minh. Cũng phải đoạn trừ 7 tùy miên: tham tùy miên, sân tùy
miên, kiến tùy miên, nghi tùy miên, mạn tùy miên, hữu tham
tùy miên, vô minh tùy miên; và các triền cái, kiết sử, lậu
hoặc, tùy miên được xem như cấu uế của tâm. Và như vậy,
một tâm trong sạch chờ đợi là hạnh phúc an lạc, một tâm
cấu uế chờ đợi là đau khổ, sầu muộn. Nói đến cấu
uế tức là nói đến bất thiện, nói đến trong sạch tức
là nói đến thiện lành. Như vậy đạo đức Phật giáo cũng
là một nếp sống từ bỏ bất thiện, thực hiện điều lành,
như biết bao lời dạy của đức Phật về vấn đề này.
Chúng ta đều nhớ câu:
"Không
làm mọi điều ác,
Thành
tựu các hạnh lành,
Tâm
ý giữ trong sạch,
Chính
lời chư Phật dạy.
(Pháp
Cú 183)
Số
phận chờ đợi kẻ ác và bậc thiện được phân biệt rõ
ràng:
"Một
số sinh bào thai,
Kẻ
ác sinh địa ngục;
Người
thiện lên cõi trời
Vô
lậu chứng Niết-bàn.
(Pháp
cú 126)
Hay
câu:
"Ác
hạnh không nên làm,
Làm
xong chịu khổ lụy;
Thiện
hạnh ắt nên làm,
Làm
xong không ăn năn".
(Pháp
cú 319)
Sự
sai khác giữa người ác và bậc lành cũng được phân biệt
rõ ràng:
"Người
lành dù ở xa,
Sáng
tỏ như núi tuyết;
Kẻ
ác dù ở đây,
Cũng
không hề được thấy,
Như
tên bắn đêm đen.
(Pháp
cú 309)
Khi
được du sĩ Vacchagotta yêu cầu giảng vắn tắt các pháp thiện
và các pháp bất thiện, thế tôn phân tích rõ ràng như sau:
"Tham là bất thiện, sân là bất thiện, si là bất thiện;
vô tham là thiện; vô sân là thiên, vô si là thiện. Như vậy
ba pháp là bất thiện, ba pháp là thiện. Sát sanh là bất thiện,
từ bỏ sát sanh là thiện. Lấy của không cho là bất thiện,
từ bỏ lấy của không cho là thiện. Tà hạnh trong các dục
là bất thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện. Nói
láo là bất thiện, từ bỏ nói láo là thiện. Nói hai lưỡi
là bất thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện. Nói ác khẩu
là bất thiện, từ bỏ nói ác khẩu là thiện. Nói lời phù
phiếm là bất thiện, từ bỏ nói lời phù phiếm là thiện.
Xan tham là bất thiện, từ bỏ xan tham là thiện. Sân là bất
thiện, từ bỏ sân là thiện. Tà kiến là bất thiện, từ
bỏ tà kiến là thiện. Như vậy này Vacha, mười pháp là bất
thiện, mười pháp là thiện". (Trung Bộ II, 135, bộ mới).
Trong
kinh Song Tầm, Trung Bộ I, số 19, đức Phật phân chia các Tầm
ra hai loại:
- Dục
tầm, sân tầm, hại tầm thuộc bất thiện tầm, vì các tầm
này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến
hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không
đưa đến Niết-bàn.
- Ly
dục tầm, vô sân tầm, bất hại tầm thuộc thiện tầm, vì
các tầm này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại
người, không đưa đến hại cả hai, tăng trưởng trí tuệ,
không dự phần vào phiền não, hướng đến Niết-bàn.
Vì
sao có sự phân biệt này? Đức Phật nêu rõ: "Ta thấy sự
nguy hại, sự hạ liệt, sự uế nhiễm của các pháp bất
thiện và thấy sự viễn ly, sự lợi ích, sự thanh tịnh của
các pháp thiện" (Trung Bộ I, 116). Ở đây chúng ta hiểu vì
sao Đức Phật khuyên chúng ta
"Chớ
thân với bạn ác,
Chớ
thân kẻ tiểu nhân,
Hãy
thân người bạn lành,
Hãy
thân bậc thiện nhân.
(Pháp
cú 78)
Hay
câu:
"Ai
dùng các hạnh lành,
Làm
xóa mờ nghiệp ác,
Sẽ
chói sáng đời này,
Như
chăng thoát mây che"
(Pháp
cú 73)
Đức
Phật dùng một hình ảnh tuyệt đẹp để diễn tả sự sai
khác giữa pháp của bậc thiện và pháp của kẻ ác: "Thật
là xa, thật xa, khoảng cách giữa mặt đất và bầu trời.
Thật là xa, thật xa, khoảng cách bờ biển bên này với bờ
biển bên kia. Thật là xa, thật xa, khoảng cách chỗ mặt trời
lặn và chỗ mặt trời mọc. Nhưng còn cách xa, cách xa hơn
nữa là khoảng cách giữa pháp của bậc thiện và pháp của
kẻ ác. "
Đạo
đức Phật giáo là một nếp sống đi đôi lạc không đi đôi
với khổ, đề cao một kinh nghiệm bản thân của Đức Phật,
là đau khổ không đưa đến giải thoát. Vương tử bồ đề
trong kinh số 85, Trung Bộ II, đã đến bày tỏ cảm nghĩ của
mình: "Lạc được chứng đắc không phải do lạc, Lạc được
chứng đắc do khổ" (Trung Bộ II, 403).
Đây
cũng là quan điểm của các Ni Kiền Tử, khi các vị này tu
khổ hạnh để thiêu đốt các nghiệp ác quá khứ. Quan điểm
Đức Phật khác hẳn, khi Ngài đã có kinh nghiệm 6 năm khổ
hạnh của mình. Và lời dạy hay pháp môn nào của Ngài cũng
đem lại an lạc và hạnh phúc cho người hành trì. Trước
hết Ngài so sánh hai loại lạc:
- Lạc
được Đức Phật gọi là lạc như phân, tức là thụy miên
lạc, lợi dưỡng lạc, cung kính lạc, danh vọng lạc (Tăng
Chi I, 334-335), mà Đức Phật khuyên các đệ tử của Ngài
tránh xa.
- Ngài
đề cao lạc các bậc Thánh là viễn ly lạc, an ổn lạc, an
tịnh lạc, chánh giác lạc, Niết-bàn lạc.
Ngài
khuyên các đệ tử Ngài thường đi nghe pháp để hưởng được
pháp lạc, thường ngày hành thiền để hưởng được thiền
lạc, thường giữ gìn 5 giới, tu tập bát quan trai giới để
hưởng được thanh tịnh lạc, an tịnh lạc. Ngài gọi hành
thiền là pháp môn hiện tại lạc trú, tức là đem lại hỷ
lạc hiện tại cho những vị hành thiền. Sơ thiền đem lại
hỷ lạc do ly dục sanh. Thiền thứ hai đem lại hỷ do định
sanh. Thiền thứ ba đem lại xả niệm lạc trú. Thiền thứ
tư đem lại xả niệm thanh tịnh. Như vậy người hành thiền
làm cho sung mãn tràn đầy hỷ lạc do định sanh, không có
chỗ nào trên toàn thân là không do hỷ lạc ấy thấm nhuần.
Một
nếp sống đề cao an lạc như vậy, nhưng không hiểu sao có
người lại hiểu lầm Phật giáo là bi quan yếm thế, trong
khi đúng lý, người Phật tử phải là người lạc quan nhất
đời, luôn luôn được thấm nhuần pháp lạc, thiền lạc,
viễn ly lạc và an tịnh lạc.
Một
đặc điểm khác của đạo đức Phật giáo là đề cao một
nếp sống giải thoát mọi ràng buộc. Mở đầu là các ràng
buộc đối với 5 dục trưởng dưỡng tức là sắc đẹp,
tiếng hay, hương thơm, vị ngon, xúc êm dịu. Đức Phật thường
hay chỉ rõ sự nguy hiểm của dục: "Sợ hãi, này các Tỷ-kheo,
là đồng nghĩa với các dục. Bệnh, này các Tỷ-kheo, là đồng
nghĩa với các dục... Cục bướu... tham dính... bùn lầy, này
các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Và này các Tỷ-kheo
vì sao sợ hãi là đồng nghĩa với các dục? Này các Tỷ-kheo,
say đắm bởi tham dục, bị trói buộc bởi các ham muốn, ngay
trong hiện tại không thoát được sợ hãi. Do vậy sợ hãi
là đồng nghĩa với dục..." (Tăng Chi II, 309).
Trong
Tiểu kinh Khổ uẩn, Trung Bộ số 14, Đức Phật dạy cho Mahanàma
rõ vì sao tuy vẫn biết tham, sân, si là cấu uế của tâm,
nhưng tham sân si vẫn thỉnh thoảng khởi lên, Ngài dạy: "Này
Mahanàma, vì pháp ấy trong ngươi chưa đựơc đoạn trừ nên
ngươi sống trong gia đình và thọ hưởng các dục". Đức
Phật giải thích rõ thêm: "Này Mahanàma, khi nào các vị thánh
đệ tử, khéo thấy như vậy với như thật chánh trí tuệ:
'Các dục vị ngọt ít, khổ nhiều não nhiều, sự nguy hiểm
ở đây lại nhiều hơn,' và vị này chứng được hỷ lạc
do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh, hay một pháp nào cao
thượng hơn, như vậy vị ấy không bị các dục chi phối"
(Trung Bộ I, 92-92B). Ở đây chúng ta thấy trí tuệ đi đôi
với thiền định mới có khả năng giải thoát được lòng
dục của con người, và chúng ta mới hiểu rõ vì sao Đức
Phật dùng danh từ tâm giải thoát, tuệ giải thoát để diễn
tả một vị được giải thoát giác ngộ, vì tâm giải thoát
là giải thoát nhờ thiền định và tuệ giải thoát là giải
thoát nhờ trí tuệ. Hai giải thoát này cộng lại với nhau
mới là một sự giải thoát toàn diện.
Một
điểm nổi bật trong Đạo đức Phật giáo là vai trò trí
tuệ trong tất cả các pháp môn đưa đến giải thoát và giác
ngộ. Như vậy cũng dễ hiểu, vì trí tuệ mới có công năng
đoạn trừ các ác, bất thiện pháp, các lậu hoặc, các kiết
sử, các tùy miên vv... và vì vậy trong mọi pháp môn Phật
dạy đều có vai trò nổi bật của trí tuệ. Trong ba vô lậu
học giới-định-tuệ, trí tuệ đóng vai trò tuệ tri khổ,
khổ tập, khổ diệt, con đường đưa đến khổ diệt; tuệ
tri các lậu hoặc, các lậu hoặc tập khởi, các lậu hoặc
đoạn diệt, con đường đưa đến lậu hoặc đoạn diệt.
Nhờ tuệ tri như vậy nên nhàm chán sanh, do nhàm chán nên ly
tham, do ly tham đưa đến đoạn diệt, đưa đến tâm giải
thoát và tuệ giải thoát. Trí tuệ với khả năng giúp phân
biệt đâu là pháp thiện, đâu là pháp bất thiện, đâu là
pháp đen, đâu là pháp trắng, đâu là thanh tịnh, đâu là
cấu uế, đâu là chánh pháp, đâu là tà pháp. Nhờ sự phân
biệt này, chúng ta mới có thể từ bỏ các pháp ác, thành
tựu các pháp lành. Chính nhờ trí tuệ, chúng ta tuệ tri được
vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của các dục.
Đức
Phật xác định: "Này các Tỷ-kheo, những sa môn Bà-la-môn
nào như thật tuệ tri vị ngọt các dục là vị ngọt như
vậy, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm như vậy, sự xuất ly
là sự xuất ly như vậy, những vị này sẽ như thật tuệ
tri các dục của chúng, chúng có thể đặt người khác trong
địa vị tương tự, nghĩa là như thật tuệ tri các dục,
sự kiện như vậy có xảy ra" (Trung Bộ I, 87C). Trong 37 pháp
trợ đạo, pháp môn nào cũng có trí tuệ. Trong bốn niệm
xứ, có quán pháp trên các pháp đối với 5 triền cái, 5 thủ
uẩn, 6 nội xứ ngoại xứ; trong 5 căn, 5 lực, có tuệ căn,
tuệ lực; trong 7 giác tri có trạnh pháp giác chi; trong 8 chánh
đạo, có chánh tri kiến, chánh tư duy thuộc về trí tuệ .
Một
đặc điểm nữa của đạo đức Phật giáo là xây dựng một
nếp sống hài hòa với thiên nhiên và làm cho môi trường
sống vừa lành, vừa đẹp. Chúng ta thấy Đức Phật đản
sanh ở ngoài trời, dưới một gốc cây, thành đạo ở ngoài
trời, dưới một gốc cây, thuyết pháp lần đầu tiên ở
ngoài trời, ở tại vườn nai, và thị tịch cũng ở ngoài
trời, dưới gốc cây Ta La Song Thọ. Đời sống của Ngài
rất gần gũi với thiên nhiên, thân cận với núi rừng, hoa
viên và rừng lá. Đời sống của các vị xuất gia, đại
đệ tử của Ngài cũng thường là đời sống trong rừng núi,
xa chốn thị thành, và hiện các hang động còn lại như động
Ajanta, Ellora, Kanheri đều nằm sâu trong núi thẳm, xác dịnh
đời sống, Đạo đức tu hành bao giờ cũng hài hòa với thiên
nhiên, với núi rừng. Ở Việt Nam chúng ta, chùa Yên tử, chùa
Hương được xây dựng cheo leo trên núi đá, hoặc ẩn sâu
trong rừng rậm. Cũng như phần lớn chùa chiền Việt Nam, chùa
nào cũng có vườn cảnh, vườn hoa, cũng có hòn non bộ, cũng
có hồ nước, có các loại cá bơi qua bơi lại. Nhũng hình
ảnh này chứng minh một điều là đời sống của các nhà
xuất gia theo Đạo Phật được sống trong môi trường thiên
nhiên trong sạch, hài hòa với những cảnh xung quanh, tĩnh tâm
hài hòa với tĩnh vật, trăng sao soi sáng thiền tâm.
Đạo
đức Phật giáo đã là một nếp sống hài hòa với thiên
nhiên thời cũng là một nếp sống hài hòa với con người.
Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi được Dandapàni hỏi
Ngài có quan điểm thế nào và giảng dạy những gì, Đức
Phật đã trả lời: "Theo lời dạy của ta, trong thế giới
với chư thiên, ác ma và phạm thiên, với các chúng sa môn,
Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, không có tranh luận với
một ai ở đời" (Trung Bộ III, 109, 109A). Một câu tuyên bố
nữa nói nên thái độ không tranh chấp của Đức Phật:
"Này
các Tỷ-kheo, Ta không có tranh chấp với đời, chỉ có đời
tranh chấp với Ta. Này các Tỷ-kheo, Người nói pháp không
tranh chấp với một ai ở đời" (Tương Ưng III, 165).
Đặc
tính cuối cùng của đạo đức Phật giáo là một nếp sống
vô ngã, một triết lý uyên thâm vi diệu, vừa giúp con người
tự chủ, thoát ly sự chi phối của thân người và thế giới,
vừa vượt qua được các khổ đau, sầu muộn, do tánh vô
thường của tự ngã và thế giới gây ra, vừa là con đường
đưa đến tâm giải thoát và tuệ giải thoát .
Trước
hết, Đức Phật nêu lên 6 kiến xứ của người phàm phu như
đã được trình bày trong Kinh Xà Dụ (22, Trung Bộ). Tức xem
sắc, thọ, tưởng, hành, thức là của ta, là ta, là tự ngã
của ta, và xem tự ngã và thế giới sau khi chết, ta sẽ thường
hằng, thường tồn mãi mãi. Trước hết, Đức Phật phân
biệt giữa người phàm phu ít nghe và vị thánh đệ tử nghe
nhiều, người phàm phu thời chấp thủ sáu kiến xứ này,
còn vị thánh đệ tử nghe nhiều thời không. Tiếp đến,
Đức Phật nói đến sự vô lý của chấp ngã như đã trình
bày trong kinh Sáu Sáu, số 148, Trung Bộ 3: "Nếu mắt là tự
ngã, như vậy không hợp lý. Sự sanh và diệt của mắt đã
được thấy nên phải đưa đến kết luận 'Tự ngã sanh và
diệt ở nơi tôi.' Do vậy nếu ai nói: 'Mắt là tự ngã', như
vậy không hợp lý" (Trung Bộ III, 474-475). Cũng vậy, đối
với các pháp khác.
Kinh
Vô ngã tướng lại nói thêm, xem 5 uẩn là tự ngã không thể
chấp nhận được, vì đối với thân của ta, ta không có
quyền lực muốn thân của ta phải như ý muốn ta. Do vậy
không thể xem 5 thủ uẩn là tự ngã. Rồi Đức Phật nói
lên những nguy hiểm đau khổ do chấp ngã gây ra: "Ai khởi
nên ý nghĩ, cái gì chắc chắn của ta, nay chắc chắn không
còn là của ta, chắc chắn ta không được cái ấy. Suy nghĩ
như vậy, nó sầu muộn than van khóc lóc, đập ngực đi đến
bất tỉnh. Nếu nó không suy nghĩ như vậy, thời nó đâu có
sầu muộn than van" (Trung Bộ I, 136A).
Còn
những ai tin rằng sau khi chết, ta sẽ thường hằng, thường
tồn mãi mãi, và khi nghe Đức Phật hay đệ tử của Đức
Phật giảng pháp, bạt trừ tất cả kiến xứ, tịnh chỉ
các hành, từ bỏ mọi sanh y, đoạn trừ khát ái, thời vị
ấy sầu muộn than van khóc lóc dập ngực đi đến bất tỉnh,
vì nghĩ rằng mình sẽ bị hoại diệt, không còn tồn tại.
Cho nên mọi đau khổ khởi lên đều chính do chấp 5 thủ uẩn
này là của ta, là ta, là tự ngã của ta.
Để
mọi người ý thức rõ 5 thủ uẩn là vô ngã, Đức Phật
đặt một số câu hỏi: "Sắc là thường hay vô thường? Cái
gì vô thường là khổ hay lạc? Cái gì vô thường, khổ chịu
sự biến hoại, liệu có hợp lý chăng nếu xem sắc là của
tôi, là tôi, là tự ngã của tôi?" Các câu trả lời tất
nhiên xác nhận sắc là vô thường, là khổ, là vô ngã, cũng
như các thủ uẩn khác. Rồi Đức Phật đi đến kết luận,
khích lệ các vị Tỷ-kheo cần phải quan sát: "Này các Tỷ-kheo,
bất cứ sắc pháp nào ... cảm thọ nào ... tưởng nào... hành
nào... thức nào quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại,
thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần tất cả thức là:
'Cái này không phải của tôi, không phải là tôi, không phải
là tự ngả của tôi' (Trung Bộ I, 138A). Nhờ quán như vậy,
vị Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc... đối với thọ...
đối với tưởng ... đối với hành... đối với thức. Do
nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát. Trong
sự giải thoát có trí biết được đã giải thoát. Vị ấy
biết: "Sanh đã tận, Phạm hành đã thành, việc nên làm đã
làm, không còn trở lại trạng thái này nữa" (Trung Bộ I,
139).
Như
vậy chính nhờ quán vô ngã, vị hành giả chứng được Thánh
quả. Và đã chứng Thánh quả thời mọi đau khổ đều được
tiêu diệt hoàn toàn. Như vậy Đạo đức Phật giáo là một
nếp sống đem lại hạnh phúc cho con người, đề cao giá trị
con người, một nếp sống trong sạch thanh tịnh, lành mạnh,
loại bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp,
một nếp sống đi đôi với lạc, không đi đôi với khổ,
giải thoát các triền phược, các dục trưởng dưỡng, một
nếp sống trong ấy trí tuệ đóng vai trò then chốt, sống
hài hòa với thiên nhiên, với con người, một nếp sống vô
ngã vị tha.
2
ĐẠO
ĐỨC PHẬT GIÁO
Được
yêu cầu viết về Đạo đức Phật giáo, chúng tôi thấy ngay
tầm quan trọng của vấn đề này cùng tất cả khó khăn của
nó. Tầm quan trọng vì chúng ta có thể nói tất các lời dạy
của Đức Phật được lưu truyền đến nay đều liên hệ
trực tiếp hay gián tiếp đến vấn đề Đạo đức. Khó khăn
là chúng ta cần định nghĩa đạo đức Phật giáo như thế
nào trước hết cho phù hợp với dụng ý thuyết pháp độ
sanh của Ngài, sau để ứng dụng nền đạo đức ấy vào
thế giới loài người chúng ta được đặc biệt là con người
hiện đại của chúng ta. Một bậc đạo sư không xem thuyết
pháp để khoái khẩu biện luận, không phải để chỉ trích
người khác (Kinh xà Dụ, số 22, Trung Bộ I), tự nhiên tất
cả những lời dạy của Ngài đều có một chủ trương nhất
định, đều phản ảnh một hoài bảo độ sanh rõ nét trong
từng câu từng chữ.
Khi
Ngài tuyên bố: "Này các Tỷ-kheo, xưa cũng như nay ta chỉ nói
lên sự khổ và sự diệt khổ", (Trung Bộ I, 140). Lời tuyên
bố xác nhận Ngài chỉ dạy cho loài người biết đến khổ
và sự diệt khổ trong suốt 45 năm thuyết pháp của Ngài.
Chúng ta cũng được biết, trong kinh Chuyển Pháp Luân, bản
kinh đầu tiên Ngài thuyết cho 5 vị trước kia cùng tu khổ
hạnh với Ngài, Ngài đã tuyên bố: "Đây là khổ. Ðây là
khổ cần phải được biết. Ðây là khổ đã được biết.
Đây là khổ tập. Ðây là khổ tập cần được đoạn diệt.
Ðây là khổ tập đã được đoạn diệt. Đây là khổ diệt,
Đây là khổ diệt cần phải chứng ngộ. Đây là khổ diệt
đã được được chứng ngộ. Ðây là con đường đưa đến
khổ diệt. Đây là con đường đưa đến khổ diệt cần phải
hành trì. Ðây là con đường đưa đến khổ diệt đã được
hành trì".
Không
những vậy Ngài còn khuyên các đệ tử xuất gia của Ngài:
"Này các Tỷ-kheo hãy du hành, vì hạnh phúc của quần sanh,
vì an lạc cho quần sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì
lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người"
(Tương Ưng I, 126). Những lời tuyên bố trên của đức Phật
nêu rõ hoài bão tha thiết của Ngài là cứu khổ độ sanh,
diệt khổ ưu, đem lại hỷ lạc cho tất cả loài hữu tình.
Và như vậy chúng ta có thể định nghĩa, đạo đức Phật
giáo là một nếp sống đem lại hạnh phúc và an lạc cho mọi
loài chúng sinh, đặc biệt là loài người chúng ta. Cần đặc
biệt nhấn mạnh: đây là một nếp sống, không phải là những
lời dạy luân lý hạnh kiểm cần phải theo một cách máy
móc thụ động. Và nếp sống ấy cần phải đem ra hành trì,
thực hiện, không phải để lễ bái cầu xin. Có thực hiện
người hành trì mới hưởng được hạnh phúc an lạc, thiết
thực hiện tại và ngay trong đời này (sandithiko akàliko), có
thể thấy biết được (ehipassiko), không phải là một cảnh
giới thiên đường xa xăm tưởng tượng.
Một
số lời dạy sau đây của đức Phật càng chứng minh rõ những
lời dạy của Ngài là hướng tới diệt khổ và đem vui cho
chúng sinh: "Thành tựu 5 pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trong hiện tại sống đau khổ, với tổn não với ưu não,
với nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung được chờ đợi
là ác thú. Thế nào là 5? Ở đây này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không có lòng tin, không có lòng xấu hổ, không có lòng sợ
hãi, biếng nhác và ác tuệ. Thành tựu 5 pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong hiện tại sống an lạc, không có tổn
não, không có ưu não, không có nhiệt não và sau hki mạng chung,
được chờ đợi là cõi lành Thế nào là 5? Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo có lòng tin, có lòng hổ thẹn, có lòng sợ hãi, tinh
cần tinh tấn, có trí tuệ... "(Tăng Chi II, 11).
Một
lời dạy tiếp, càng nhấn mạnh thêm: "Thành tựu 5 pháp này,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đem lại hạnh phúc cho mình và đem
lại hạnh phúc cho người. Thế nào là 5? Ở đây này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ giới hạnh và khuyến khích người
khác đầy đủ giới hạnh. Tự mình đầy đủ thiền định
và khuyến khích người khác đầy đủ thiền định. Tự mình
đầy đủ trí tuệ và khuyến khích người khác đầy đủ
trí tuệ. Tự mình đầy đủ giải thoát và khuyến khích người
khác đầy đủ giải thoát. Tự mình đầy đủ giải thoát
tri kiến và khuyến khích người khác đầy đủ giải thoát
tri kiến. Đầy đủ 5 pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đem
lại hạnh phúc cho mình và đem lại hạnh phúc cho người "
(Tăng Chi II, 20).
Đề
cập đến nguồn suối công đức, nguồn suối an lạc, Đức
Phật chỉ rõ thêm: "Có 8 nguồn công đức này, nguồn nước
thiện, món ăn an lạc, làm nhân sanh thiên, quả dị thục an
lạc, đưa đến cõi trời, đưa đến khả ái, khả hỷ, khả
ý, hạnh phúc an lạc. Thế nào là 8? Ở đây này các Tỷ-kheo,
thánh đệ tử quy y Phật ... quy y Pháp ... quy y Tăng. Này các
Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức, nguồn nước thiện,
món ăn an lạc, đưa đến cõi trời, đưa đến khả ái, khả
hỷ, khả ý, hạnh phúc an lạc... vị Thánh đệ tử đoạn
tận sát sanh... đoạn tận lấy của không cho... từ bỏ tà
hạnh trong các dục... từ bỏ nói láo ... từ bỏ đắm say
men ruợu, rượu nấu... Như vậy vị Thánh đệ tử bố thí
không sợ hãi cho vô lượng chúng sinh, bố thí không hận thù
cho vô lượng chúng sinh, bố thí không làm hại cho vô lượng
chúng sinh... sau khi bố thí cho vô lượng chúng sinh thí không
sợ hãi, không hận thù, không làm hại, vị ấy được san
sẻ vô lượng không sợ hãi, vô lượng không hận thù, vô
lượng không làm hại. Này các Tỷ-kheo, đây là 8 nguồn công
đức, nguồn nước thiện, món ăn an lạc, làm nhân sanh thiên,
quả dị thục an lạc, đưa đến cõi trời, đưa đến khả
ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc an lạc". (Tăng Chi III, 93-95)
Nếu
đạo đức Phật giáo là một nếp sống đem lại hạnh phúc
an lạc, nếp sống ấy cũng là một nếp sống đề cao cho
con người vào một vị trí tối thượng, xác định con người
có khả năng đoạn trừ mọi khổ não, chấm dứt sanh tử
luân hồi. Lời của Ngài là cả một hình ảnh linh động
của một người dựa trên sức mạnh con người, tự mình
đi tìm đạo, tự mình tu khổ hạnh, tự mình hành thiền cho
đến khi chứng quả, không nhờ một ai, không ỷ lại một
thần lực nào. Khi đến tìm đạo với Ngài Alarakalama, vị
đã chứng thiền vô sở hữu xứ, Ngài suy nghĩ: "Không phải
chỉ Alarakalama có lòng tin, Ta cũng có lòng tin, Không phải
chỉ Alarakalama có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải
chỉ Alarakalama có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ
Alarakalama có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ Alarakalama
có tuệ, Ta cũng có tuệ". Với những suy nghĩ như vậy, và
với khả năng tự lực, tự cường, Ngài kiên trì tu tập
và chứng được quả Vô sở hữu xứ như Alarakalama đã chứng.
Tiếp đến là tu khổ hạnh trong 6 năm, Ngài tự mình hành
trì trong rừng sâu núi thẳm. Ngài đã tự diễn tả: "Này
Sàriputta, Ta đầy đủ bốn hạnh: về khổ hạnh, Ta khổ hạnh
đệ nhất. Về bần uế, Ta bần uế đệ nhất. Về yểm ly,
ta yểm ly đệ nhất. Về cô độc, Ta cô độc đệ nhất"
(Trung Bộ I, 76). Khi Ngài tự chứng niệm trên bản thân rằng
khổ hạnh không đưa đến giác ngộ, Ngài liền rời bỏ khổ
hạnh, hành trì thiền định, chứng được sơ thiền, thiền
thứ hai, thiền thứ ba, thiền thứ tư, chứng được Túc mạng
minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh, giải thoát khỏi các lậu
hoặc, thành bậc Chánh đẳng, Chánh giác.
Như
vậy đời Ngài từ khi tầm đạo đến khi giác ngộ, chứng
minh một cách cụ thể rằng, với thân con người với ý trí
nỗ lực con người, không nhờ vả ỷ lại một ai, Ngài đã
được cứu cánh phạm hạnh tối thượng. Ngài chứng minh
rằng, không quá đau khổ trong cảnh giới địa ngục, không
quá sung sướng trong cảnh giới chư Thiên, chỉ với thân con
người, tuệ tri được đau khổ để vượt qua đau khổ, tuệ
tri được lạc để giải thoát khỏi thiên lạc, đạt được
giải thoát lạc để thành bậc Chánh giác.
Không
những Đức Phật với ý trí tự lực của con người, đạt
được mục đích giải thoát và giác ngộ, Ngài còn hướng
dẫn các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni sử dụng tự lực của con
người. Trong Ðại kinh Vacchagotta số 73, Trung Bộ II, khi được
vị Bà-la-môn hỏi có đệ tử nào của Ngài cũng được giác
ngộ như Ngài, Đức Phật đã xác nhận như sau: "Này Vacchagotta,
không phải chỉ có một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm,
năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ni của ta đã được đoạn trừ các lậu hoặc với thượng
trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện
tại, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát ... không phải
chỉ có một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà
còn nhiều hơn thế nữa là những nam cư sĩ, nữ cư sĩ là
đệ tử sống tại gia mặc áo trắng, theo phạm hạnh sau khi
đã đoạn trừ 5 hạ phần kiết sử được hóa sanh, chứng
Niết-bàn tại chỗ ấy không còn trở lui lại lời này nữa...
không phải chỉ có một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm,
năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những nam cư sĩ, nữ
cư sĩ là đệ tử sống tại gia mặc áo trắng, hưởng thụ
vật dụng nhưng xây dựng Thánh giáo, chấp nhận giáo huấn,
chứng đắc vô sở uý, không dựa vào người khác, sống trong
Thánh giáo của bậc Đạo sư" (Trung Bộ II, 235-238, bộ mới).
Như
vậy đạo đức Phật giáo là một nếp sống đề cao vị
trí con người và chứng minh rằng con người có khả năng
đạt đến giải thoát tối thượng, nếu con người có đủ
ý trí và nỗ lực của con người, nếu con người tăng trưởng
được niệm lực, định lực và thiền lực của con người,
nếu con người phát huy được tuệ lực giải thoát lực của
con người.
Bước
thêm bước nữa, đạo đức Phật giáo là một nếp sống
thanh tịnh, trong sạch và lành mạnh, vì chỉ có một đời
sống thanh tịnh mới bảo đảm được đời sống hạnh phúc.
Trong kinh Ví dụ Tấm vải (Trung Bộ I, số 7), đức Phật xác
nhận một tấm vải cấu uế đem nhuộm sẽ đươc một màu
nhuộm không tốt đẹp. Cũng vậy cõi ác chờ đợi một tâm
cấu uế. Trái lại một tấm vải thanh tịnh trong sạch đem
nhuộm sẽ được một màu nhuộm tốt đẹp. Cũng vậy cõi
thiên chờ đợi một tâm không cấu uế. Như vậy hạnh phúc
chỉ đến với một tâm trong sạch, không đến với một tâm
cấu uế. Rồi Đức Phật kể 16 cấu uế tâm, trong ấy tham
sân si là chính, cần phải tẩy sạch và đoạn trừ, nhờ
lòng tịnh tín bất động đối với ba ngôi báu, nhờ chứng
được nghĩa tín thọ và pháp tín thọ. Từ nơi đây, hân
hoan liên hệ đến pháp sanh khởi; từ hân hoan, hỷ khởi lên.
Từ hỷ, thân được khinh an. Thân khinh an, cảm giác được
lạc thọ. Với lạc thọ, tâm được thiền định (Trung Bộ
I, 37A-37B).
Muốn
chứng được thiền định, phải loại trừ năm triền cái
được xem như là cấu uế của tâm, thay thế bằng năm thiền
chi: tầm, tứ, hỷ, lạc, và nhất tâm. Muốn chứng quả A-la-Hán,
phải đoạn trừ ba lậu hoặc: Dục lậu, hữu lậu vô minh
lậu; phải tẩy sạch mười kiết sử: Thân kiến, giới cấm
thủ, nghi, tham, sân, sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử và
vô minh. Cũng phải đoạn trừ 7 tùy miên: tham tùy miên, sân
tùy miên, kiến tùy miên, nghi tùy miên, mạn tùy miên, hữu
tham tùy miên, vô minh tùy miên; và các triền cái, kiết sử,
lậu hoặc, tùy miên được xem như cấu uế của tâm. Và như
vậy, một tâm trong sạch chờ đợi là hạnh phúc an lạc,
một tâm cấu uế chờ đợi là đau khổ, sầu muộn. Nói đến
cấu uế tức là nói đến bất thiện, nói đến trong sạch
tức là nói đến thiện lành. Như vậy đạo đức Phật giáo
cũng là một nếp sống từ bỏ bất thiện, thực hiện điều
lành, như biết bao lời dạy của đức Phật về vấn đề
này. Chúng ta đều nhớ câu:
"Không
làm mọi điều ác,
Thành
tựu các hạnh lành,
Tâm
ý giữ trong sạch,
Chính
lời chư Phật dạy".
(Pháp
Cú 183)
Số
phận chờ đợi kẻ ác và bậc thiện được phân biệt rõ
ràng:
"Một
số sinh bào thai,
Kẻ
ác sinh địa ngục;
Người
thiện lên cõi trời
Vô
lậu chứng Niết-bàn.
(Pháp
cú 126)
Hay
câu:
"Ác
hạnh không nên làm,
Làm
xong chịu khổ lụy;
Thiện
hạnh ắt nên làm,
Làm
xong không ăn năn".
(Pháp
cú 319)
Sự
sai khác giữa người ác và bậc lành cũng được phân biệt
rõ ràng:
"Người
lành dù ở xa,
Sáng
tỏ như núi tuyết;
Kẻ
ác dù ở đây,
Cũng
không hề được thấy,
Như
tên bắn đêm đen".
(Pháp
cú 309)
Khi
được du sĩ Vacchagotta yêu cầu giảng vắn tắt các pháp thiện
và các pháp bất thiện, thế tôn phân tích rõ ràng như sau:
"Tham là bất thiện, sân là bất thiện, si là bất thiện;
vô tham là thiện, vô sân là thiên, vô si là thiện. Như vậy
ba pháp là bất thiện, ba pháp là thiện. Sát sanh là bất thiện,
từ bỏ sát sanh là thiện. Lấy của không cho là bất thiện,
từ bỏ lấy của không cho là thiện. Tà hạnh trong các dục
là bất thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện. Nói
láo là bất thiện, từ bảo nói láo là thiện. Nói hai lưỡi
là bất thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện. Nói ác khẩu
là bất thiện, từ bỏ nói ác khẩu là thiện. Nói lời phù
phiếm là bất thiện, từ bỏ nói lời phù phiếm là thiện.
Xan tham là bất thiện, từ bỏ xan tham là thiện. Sân là bất
thiện, từ bỏ Sân là thiện. Tà kiến là bất thiện, từ
bỏ tà kiến là thiện. Như vậy này Vacha, mười pháp là bất
thiện, mười pháp là thiện". (Trung Bộ II, 135 bộ mới).
Trong
kinh Song Tầm, Trung Bộ I, số 19, đức Phật phân chia các Tầm
ra hai loại: Dục tầm, sân tầm, hại tầm thuộc bất thiện
tầm, vì các tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại
người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào
phiền não, không đưa đến Niết-bàn. Ly dục tầm, vô sân
tầm, bất hại tầm thuộc thiện tầm, vì các tầm này không
đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa
đến hại cả hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào
phiền não, hướng đến Niết-bàn. Vì sao có sự phân biệt
này? Đức Phật nêu rõ: "Ta thấy sự nguy hại, sự hạ liệt,
sự uế nhiễm của các pháp bất thiện và thấy sự viễn
ly, sự lợi ích, sự thanh tịnh của các pháp thiện ". (Trung
Bộ I, 116). Ở đây chúng ta hiểu vì sao Đức Phật khuyên
chúng ta:
"Chớ
thân với bạn ác,
Chớ
thân kẻ tiểu nhân,
Hãy
thân người bạn lành,
Hãy
thân bậc thiện nhân.
(Pháp
cú 78)
Hay
câu:
"Ai
dùng các hạnh lành,
Làm
xóa mờ nghiệp ác,
Sẽ
chói sáng đời này,
Như
chăng thoát mây che"
(Pháp
cú 73)
Đức
Phật dùng một hình ảnh tuyệt đẹp để diễn tả sự sai
khác giữa pháp của bậc thiện và pháp của kẻ ác: "Thật
là xa, thật xa, khoảng cách giữa mặt đất và bầu trời.
Thật là xa, thật xa, khoảng cách bờ biển bên này với bờ
biển bên kia. Thật là xa, thật xa, khoảng cách chỗ mặt trời
lặn và chỗ mặt trời mọc. Nhưng còn cách xa, cách xa hơn
nữa là khoảng cách giữa pháp của bậc thiện và pháp của
kẻ ác". Đạo đức Phật giáo là một nếp sống trong sạch
và chánh thiện. Vì thế nếp sống ấy phải là nếp sống
tôn trọng sự thật, không có quanh co lừa dối.
Trong
16 pháp cấu uế của tâm, những tâm như hư ngụy, man trá,
lường gạt, đều được xem là cấu uế của tâm. Trong 5
tinh cần chi của người thiện nam tử muốn tu tập theo chánh
pháp, tinh cần chi thứ ba xác định vị thiện nam tử không
có man trá, không có lường gạt, xử sự như chơn với một
bậc đạo sư, đối với các bậc có trí, đối với các đồng
phạm hạnh. Trong 5 giới tu tại gia, có giới không nói láo,
yêu cầu các Phật tử phải biết tôn trọng sự thật. Đặc
biệt trong bài kinh danh tiếng Giáo giới La Hầu La ở rừng
Ambalatthika, số 61, Trung Bộ kinh, Đức Phật đã nhấn mạnh
những tai hại của cố ý nói láo, không có tàm ý. Trước
hết, Đức Phật chỉ cho La Hầu La rõ là sa môn hạnh người
nào biết mà nói láo không có sự xấu hổ sợ hãi, là giống
như một ít nước còn lại trong chậu nước, như một ít
nước ấy bị đổ đi, như chậu nước ấy bị lật úp lại,
như chậu nước ấy trống không khi lật ngửa trở lại. Rồi
Đức Phật dùng ví dụ con voi lâm trận. Nếu con voi này dùng
hai chân trước, hai chân sau, phần thân trước, phần thân
sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi nhưng bảo vệ
cái vòi, thời con voi này là được xem không ném bỏ mạng
sống của mình. Trái lại con voi nào khi lâm trận dùng hai
chân trước, hai chân sau, phần thân trước, phần thân sau,
dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi và dùng luôn cái
vòi thì con voi này được xem là ném bỏ mạng sống của mình
và con voi ấy không có việc gì mà không làm. Và Đức Phật
đưa đến kết luận: "Cũng vậy, này La Hầu La, đối với
ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời ta nói rằng người
ấy không có việc ác gì mà không làm. Do vậy này La Hầu
La, ta quyết không nói láo, dù nói để mà chơi". (Trung Bộ
II, 122-124). Tánh tôn trọng sự thật cũng được biểu lộ
rõ nét, khi người người hành giả dùng trí tuệ như thật
để quan sát sự vật, tiến đến Như thật trí, Lậu tận
trí để được giải phóng giác ngộ. Chúng ta hiểu rõ vì
sao Đức Phật dùng đề tài "4 sự thật", để mở đầu cuộc
chuyển pháp luân của Ngài, vì giác ngộ là gì nếu không
phải là liểu tri bốn sự thật "khổ đế, tập đế, diệt
đế và đạo đế" đang chi phối con người và thế giới?
Đạo
đức Phật giáo là một nếp sống đi đôi với lạc, không
đi đôi với khổ, đề cao một kinh nghiệm bản thân của
Đức Phật, là đau khổ không đưa đến giải thoát. Vương
tử Bồ Ðề trong kinh số 85, Trung Bộ II, đã đến bày tỏ
cảm nghĩ của mình: "Lạc được chứng đắc không phải do
lạc, lạc được chứng đắc do khổ" (Trung Bộ II, 403). Đây
cũng là quan điểm của các Ni Kiền Tử, khi các vị này tu
khổ hạnh để thiêu đốt các nghiệp ác quá khứ và khi các
vị này tuyên bố: "Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể
thành tựu nhờ hạnh phúc. Hạnh phúc phải thành tựu nhờ
đau khổ" (Trung Bộ I, 94A). Quan điểm Đức Phật khác hẳn,
khi Ngài đã có kinh nghiệm 6 năm khổ hạnh của mình. Và lời
dạy hay pháp môn nào của Ngài cũng đem lại an lạc và hạnh
phúc cho người hành trì.
Trước
hết, Ngài so sánh hai loại lạc: lạc được Đức Phật gọi
là lạc như phân, tức là thụy miên lạc, lợi dưỡng lạc,
cung kính lạc, danh vọng lạc (Tăng Chi I, 334-335), mà Đức
Phật khuyên các đệ tử của Ngài tránh xa. Ngài đề cao lạc
của các bậc Thánh là viễn ly lạc, an ổn lạc, an tịnh lạc,
chánh giác lạc, Niết-bàn lạc.
Ngài
khuyên các đệ tử Ngài thường đi nghe pháp để hưởng được
pháp lạc, thường ngày hành thiền để hưởng được thiền
lạc, thường giữ gìn 5 giới, tu tập bát quan trai giới để
hưởng được thanh tịnh lạc, an tịnh lạc. Ngài gọi hành
thiền là pháp môn hiện tại lạc trú, tức là đem lại hỷ
lạc hiện tại cho những vị hành thiền. Sơ thiền đem lại
hỷ lạc do ly dục sanh. Thiền thứ hai đem lại hỷ do định
sanh. Thiền thứ ba đem lại xả niệm lạc trú. Thiền thứ
tư đem lại xả niệm thanh tịnh. Như vậy người hành thiền
làm cho sung mãn tràn đầy hỷ lạc do định sanh, không có
chỗ nào trên toàn thân là không do hỷ lạc ấy thấm nhuần
. Một nếp sống đề cao an lạc như vậy, nhưng không hiểu
sao có người lại hiểu lầm Phật giáo là bi quan. yếm thế,
trong khi đúng lý người Phật tử phải là người lạc quan
nhất đời, luôn luôn được thấm nhuần pháp lạc, thiền
lạc, viễn ly lạc và an tịnh lạc.
Một
đặc điểm khác của đạo đức Phật giáo là đề cao một
nếp sống giải thoát mọi ràng buộc, mở đầu là các ràng
buộc đối với các dục trưởng dưỡng. Đức Phật thường
hay chỉ rõ sự nguy hiểm của dục: "Sợ hãi, này các Tỷ-kheo,
là đồng nghĩa với các dục. Bệnh, này các Tỷ-kheo, là đồng
nghĩa với các dục ... Cục bướu ... Tham dính . . Bùn lầy,
này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục". Và này các
Tỷ-kheo vì sao sợ hãi là đồng nghĩa với các dục? Này các
Tỷ-kheo, say đắm bởi tham dục, bị trói buộc bởi các ham
muốn, ngay trong hiện tại không thoát được sợ hãi, đời
sau cũng không thoát khỏi sợ hãi. Do vậy sợ hãi là đồng
nghĩa với dục. (Tăng Chi II, 309).
Trong
Tiểu kinh Khổ uẩn, Trung Bộ số 14, Đức Phật dạy cho Mahanàma
rõ vì sao tuy vẫn biết tham, sân, si là cấu uế của tâm,
nhưng tham sân si vẫn thỉnh thoảng khởi lên, Ngài dạy: "Này
Mahanàma, vì pháp ấy trong ngươi chưa được đoạn trừ nên
ngươi sống trong gia đình và thọ hưởng các dục". Đức
Phật giải thích rõ thêm: "Này Mahanàma, khi nào các vị Thánh
đệ tử, khéo thấy như vậy với như thật chánh trí tuệ:
'Các dục vị ngọt ít, khổ nhiều não nhiều, sự nguy hiểm
ở đây lại nhiều hơn, ' và vị này chứng được hỷ lạc
do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh, hay một pháp nào cao
thượng hơn, như vậy vị ấy không bị các dục chi phối
". (Trung Bộ I, 92-92B).
Ở
đây chúng ta thấy trí tuệ đi đôi với thiền định mới
có khả năng giải thoát được lòng dục của con người,
và chúng ta mới hiểu rõ vì sao Đức Phật dùng danh từ tâm
giải thoát, tuệ giải thoát để diễn tả một vị được
giải thoát giác ngộ, vì tâm giải thoát là giải thoát nhờ
thiền định và tuệ giải thoát là giải thoát nhờ trí tuệ.
Hai giải thoát này cộng lại với nhau mới là một sự giải
thoát toàn diện.
Một
điểm nổi bật trong đạo đức Phật giáo là vai trò trí
tuệ trong tất cả các pháp môn đưa đến giải thoát và giác
ngộ. Như vậy cũng dễ hiểu, vì trí tuệ mới có công năng
đoạn trừ các ác bất thiện pháp, các lậu hoặc các kiết
sử, các tùy miên vv... và vì vậy trong mọi pháp môn Phật
dạy đều có vai trò nổi bật của trí tuệ. Trong ba vô lậu
học giới-định-tuệ, trí tuệ đóng vai trò tuệ tri khổ,
khổ tập, khổ diệt, con đường đưa đến khổ diệt; tuệ
tri các lậu hoặc, các lậu hoặc tập khởi, các lậu hoặc
đoạn diệt, con đường đưa đến lậu hoặc đoạn diệt.
Nhờ tuệ tri như vậy nên nhàm chán sanh, do nhàm chán nên ly
tham, do ly tham đưa đến đoạn diệt, đưa đến tâm giải
thoát và tuệ giải thoát. Trí tuệ với khả năng giúp phân
biệt đâu là pháp thiện, đâu là pháp bất thiện, đâu là
pháp đen, đâu là pháp trắng, đâu là thanh tịnh, đâu là
cấu uế, đâu là chánh pháp, đâu là tà pháp. Nhờ sự phân
biệt này chúng ta mới có thể từ bỏ các pháp ác, thành
tựu các pháp lành. Chính nhờ trí tuệ, chúng ta tuệ tri được
vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của các dục. Đức
Phật xác định: "Này các Tỷ-kheo, những sa môn, Bà-la-môn
nào như thật tuệ tri vị ngọt các dục là vị ngọt như
vậy, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm như vậy, sự xuất ly
là sự xuất ly như vậy, những vị này sẽ như thật tuệ
tri các dục của chúng, chúng có thể đặt người khác trong
địa vị tương tự, nghĩa là như thật tuệ tri cácdục, sự
kiện như vậy có xảy ra" (Trung Bộ I, 87C). Trong 37 pháp trợ
đạo, pháp môn nào cũng có trí tuệ. Trong bốn niệm xứ,
có quán pháp trên các pháp đối với 5 triền cái, 5 thủ uẩn,
6 nội xứ ngoại xứ; trong 5 căn, 5 lực, có tuệ căn, tuệ
lực; trong 7 giác tri có trạnh pháp giác chi; trong 8 chánh đạo,
có chánh tri kiến, chánh tư duy thuộc về trí tuệ.
Tác
động của trí tuệ trong tiến trình giải thoát phong phú và
đa dạng đến nỗi có nhiều danh từ khác nhau để đặt tên
cho các trí. Như thức tri biết ngang qua thức, tưởng tri biết
ngang qua tưởng, ý tri biết ngang qua ý, thắng tri biết ngang
qua thiền, tuệ tri biết ngang qua trí tuệ, liễu tri là hiểu
biết của một vị đã giải thoát.
Trong
kinh Canki, số 95, Trung Bộ, Đức Phật diễn tả quá trình
đi tìm chân lý nhờ trí tuệ. Quá trình này gồm có 15 giai
đoạn. Trước hết là đi tìm minh sư, tìm một vị không có
tham pháp, sân pháp, si pháp, không có những hành động thân,
miệng, ý bị tham sân si chi phối. Khi vị ấy thuyết pháp,
pháp ấy thâm sâu khó thấy, tế nhị, không thể do một người
có tham sân si thuyết giảng. Đến đây vị ấy khởi lên niềm
tin, và tiến trình 14 pháp được diễn tả như sau: "Vị ấy
sinh lòng tin đối với vị minh sư ấy. Với lòng tin sanh, người
này đến gần, khi đến gần liền thân cận giao thiệp. Do
thân cận giao thiệp, nên lóng tai. Lòng tai người ấy nghe
pháp. Sau khi nghe liền thọ trì pháp. Rồi tìm hiểu ý nghĩa
của pháp được thọ trì. Trong khi tìm hiểu ý nghĩa, các
pháp được hoan hỷ chấp nhận. Khi các pháp được hoan hỷ
chấp nhận, ước muốn sanh. Khi ước muốn sanh liền có cố
gắng. Sau khi cố gắng liền cân nhắc. Sau khi cố cân nhắc,
người ấy tinh cần. Trong khi tinh cần người ấy tự thân
chứng ngộ tối thượng chân lý. Và sau khi thể nhập chân
lý ấy, với trí tuệ, vị ấy thấy. Cho đến mức độ này
là sự giác ngộ chân lý". (Trung Bộ II, 519, bộ mới) như
vậy trí tuệ trong tiến trình giác ngộ chân lý là yếu tố
căn bản để được giác ngộ và giải thoát.
Một
đặc điểm nữa của Đạo đức Phật giáo là xây dựng một
nếp sống hài hòa với thiên nhiên và làm cho môi trường
sống vừa lành, vừa đẹp. Chúng ta thấy Đức Phật sản
sanh ở ngoài trời, dưới một gốc cây, thành đạo ở ngoài
trời, dưới một gốc cây, thuyết pháp lần đầu tiên ở
ngoài trời, ở tại vườn nai, và thị tịch cũng ở ngoài
trời, dưới gốc cây Ta La Song Thọ. Đời sống của các vị
xuất gia, đại đệ tử của Ngài cũng thường là đời sống
trong rừng núi, xa chốn thị thành, và hiện các hang động
còn lại như động Ajanta, Ellora, Kanheri đều nằm sâu trong
núi thẳm, xác định đời sống đạo đức tu hành bao giờ
cũng hài hòa với thiên nhiên, với núi rừng. Ở Việt Nam
chúng ta, chùa Yên tử, chùa Hương được xây dựng cheo leo
trên núi đá, hoặc ẩn sâu trong rừng rậm. Cũng như phần
lớn chùa chiền Việt Nam, chùa nào cũng có vườn cảnh, vườn
hoa cũng có hòn non bộ, cũng có hồ nước, có các loại cá
bơi qua bơi lại. Những hình ảnh này chứng minh một điều
là đời sống của các nhà xuất gia theo Đạo Phật được
sống trong môi trường thiên nhiên trong sạch, hài hòa với
những cảnh xung quanh, tĩnh tâm hài hòa với tĩnh vật, trăng
sao soi sáng thiền tâm. Có một hình ảnh được diễn tả
trong kinh Tăng Chi II, tr 336, nói nên cảm hứng của Đức Phật,
khi ngài cảm thấy một mình sống giữa vũ trụ bao la: "Những
khi ta đang bước trên con đường, trước mặt ta không thấy
ai, sau lưng ta không thấy ai, cho đến khi ấy ta cảm thấy
yên ổn".
Trong
bài kinh sau đây, chúng ta thấy Đức Phật an tâm và hoan hỷ
khi thấy vị Tỷ-kheo sống ở trong rừng, dù đang ngủ gục
hoặc không thiền định. Trái lại Ngài không an tâm khi thấy
vị Tỷ-kheo ngồi thiền định ở trong một ngôi chùa gần
làng xóm, vì vị này ở gần xóm làng có thể bị các sa di
hay các cư sĩ đến quấy rầy không cho tu thiền định. Còn
vị Tỷ-kheo có ngủ gục ở trong rừng, hết ngủ gục rồi
ngồi thiền lại, không có ai phá phách:
"Ở
đây, này Nàgita, ta thấy một Tỷ-kheo ngồi thiền định tại
trú xứ ở cuối làng. Này Nàgita, về vị ấy, ta suy nghĩ
như sau: Này có người coi khu vườn hay người sa di phá phách
vị Tôn giả ấy, làm cho vị ấy xuất khỏi thiền định.
Do vậy, này Nàgita, ta không có hoan hỷ với trú xứ của vị
ấy.
"Ở
đây, này Nàgita, ta thấy một Tỷ-kheo đang ngồi ngủ gục
ở trong rừng. Này Nàgita. Ta suy nghĩ về vị ấy như sau: Nay
vị Tôn giả này, sau khi đoạn trừ ngủ nghỉ về mệt nhọc,
sẽ tác ý tưởng rừng hoặc đạt được nhất tâm'. Do vậy
này Nagita, ta hoan hỷ với trú xứ tại rừng của vị Tỷ-kheo
ấy". (Tăng Chi II, 335-336).
Đạo
đức Phật giáo đã là một nếp sống hài hòa với thiên
nhiên thời cũng là một nếp sống hài hòa với con người.
Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi được Dandapàni hỏi
Ngài có quan điểm thế nào và giảng dạy những gì, Đức
Phật đã trả lời: "Theo lời dạy của ta, trong thế giới
với chư thiên, ác ma và phạm thiên, với các chúng sa môn,
Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, không có tranh luận với
một ai ở đời (Trung Bộ III, 109, 109A). Một câu tuyên bố
nữa nói nên thái độ không tranh chấp của Đức Phật:
"Này
các Tỷ-kheo, Ta không có tranh chấp với đời, chỉ có đời
tranh chấp với Ta. Này các Tỷ-kheo, Người nói pháp không
tranh chấp với một ai ở đời". (Tương Ưng III, 165).
Đức
Phật nêu rõ các dục là nguồn gốc của xung đột và chiến
tranh, và do vậy Ngài dạy các đệ tử phải dùng trí tuệ
và thiền định để chế ngự các dục: "Này các Tỷ-kheo,
do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân,
do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua... mẹ tranh đoạt
với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con
tranh đoạt với cha... " (Trung Bộ I, 87). Một nguyên nhân nữa
của đấu tranh và xung đột là sự so sánh giữa mình và người,
xem các người khác là bằng mình hay hơn mình, hay thua mình.
Do vậy Đức Phật dạy:
"Bằng,
thắng hay thua ta,
Như
vậy đấu tranh khởi;
Cả
ba không giao động,
Bằng,
thắng không khởi lên".
(Tương
Ưng I, 15)
Phương pháp hay nhất để tránh xa tranh luận và xung đột
là không cho khởi lên các hý luận, vọng tưởng, các tà kiến.
Và trong trường hợp chúng khởi lên, thời thái độ tốt
nhất là chớ có hoan hỷ, đón mừng và chấp thủ chúng. Đức
Phật dạy: "Này các Tỷ-kheo, do bất cứ nguyên nhân gì, một
số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người. Nếu ở đây
không có gì đáng hoan hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ,
thời như vậy là sự đoạn tận tham tùy miên, sân tùy miên,
kiến tùy miên, nghi tùy miên, mạn tùy miên, hữu tham tùy miên,
vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm,
đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ,
vọng ngữ. Chính ở đây những ác bất thiện pháp này đều
được tiêu diệt không có dư tàn". (Trung Bộ I, 110). Chiến
tranh xảy ra đem đến đau khổ vô lựơng vô biên cho mọi
người. Chiến thắng sanh thù oán, bại trận chịu khổ đau
cho nên phương pháp hay nhất là đừng nên dùng chiến tranh
dể giải quyết các xung đột, phải dùng các phương pháp
hòa bình để chấm dứt các bất đồng ý kiến và các xung
đột. Do vậy các bậc Thánh đã từ bỏ gia đình, chấm dứt
mọi tranh luận với bất cứ một ai. Lời Đức Phật nhắn
nhủ:
"Thắng
trận sinh thù oán,
Bại
trận nếm khổ đau.
Ai
bỏ thắng bỏ bại,
Tịch
tịnh hưởng an lạc".
(Tương
Ưng, 102)
"Bậc
Thánh bỏ gia đình,
Du
hành không trú xứ,
Đối
với dân trong làng,
Không
tác thành hệ lụy,
Tuyệt
không các dục vọng,
Không
ước vọng hão huyền,
Chấm
dứt mọi tranh luận,
Bất
cứ với một ai".
(Tương
Ưng III, 14)
Khi Đức Phật thành lập Tăng đoàn đầu tiên, Ngài chú tâm
chế đặt một số giới luật căn bản để bảo đảm một
đời sống hòa hợp nhất trí giữa chư Tăng. Do vậy, Ngài
dạy 6 pháp cần phải ghi nhớ hay 6 pháp hòa kỉnh, để xây
dựng tình tương thân tương ái giữa chúng sanh, sống với
nhau hòa hợp như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt
ái kính: "Có 6 pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái,
tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không
tranh luận, hòa hợp nhất trí. Ở đây này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
an trú từ thân hành... từ khẩu hành... từ ý hành đối với
các vị phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng. Lại nữa
này các Tỷ-kheo, đối với các tài vật nhận được đúng
pháp, hợp pháp cho đến các tài vật thâu nhận trong bình
bát, Tỷ-kheo không phải là người không san sẻ các tài vật
thu nhận được như vậy, phải là người san sẻ dùng chung
với các vị đồng phạm hạnh có giới đức ... Lại nữa
này các Tỷ-kheo, đối với các giới luật không vi phạm,
không có tỳ vết, không có vẩn đục, không có uế tạp,
giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp trước,
đưa đến thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu trong các
giới luật ấy với các vị đồng phạm hạnh cả trước
mặt lẫn sau lưng... Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với
các tri kiến thuộc bậc thánh, có khả năng hướng thượng,
khiến người thực hành chấm dứt khổ đau, Tỷ-kheo thành
tựu tri kiến như vậy cùng với các vị đồng phạm hạnh,
cả trước mặt lẫn sau lưng... " (Trung Bộ I, 321B).
Khi
chúng Tăng tranh cãi, đấu tranh nhau, Đức Phật đã có lời
khiển trách thẳng thắn và quyết liệt: "Này các Tỷ-kheo,
các ngươi nghĩ thế nào? Trong khi các ngươi sống cạnh tranh,
luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng
lưỡi, trong khi ấy các ngươi có an trú từ thân hành... từ
khẩu hành... từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh,
cả trước mặt lẫn sau lưng không? Bạch Thế Tôn, không....
Như vậy này các người ngu kia, do biết gì, do thấy gì các
ngươi sống cạnh tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh
khí miệng lưỡi, và các ngươi không thông cảm nhau, không
chấp nhận thông cảm, không tự hòa giải nhau, không chấp
nhận hòa giải. Như vậy này các người ngu kia, các ngươi
sẽ phải chịu bất hạnh đau khổ trong một thời gian dài"
(Trung Bộ I, 321A-321B).
Một
pháp môn Đức Phật thường hay dạy để nuôi dưỡng lòng
thương người thương vật cho người Phật tử là pháp môn
bốn vô lượng tâm (4 phạm trú) được diễn tả như sau:
"Vị ấy an trú, biến mãn một phương với lòng từ... lòng
bi... lòng hỷ... lòng xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy
phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp
thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng
khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu
hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân.
"(Trung Bộ I, 38).
Chính
bấn vô lượng tâm này đoạn được hiềm hận, nhờ lòng
từ đoạn được lòng sân, nhờ lòng bi đoạn được hại
tâm, nhờ hỷ đoạn được tâm không lạc, nhờ tâm xả đoạn
được hận thù: "Có 5 trừ khử niềm hận này, ở đây vị
Tỷ-kheo có hiềm hận khởi lên, cần phải trừ khử một
cách hoàn toàn... trong người nào hiềm hận được sanh, trong
người ấy, từ cần phải tu tập... bi cần phải tu tập...
xả cần phải tu tập... vô niệm vô pháp ý cần phải tu tập...
trong người ấy, kiện nghiệp ấy do mình tạo ra cần phải
được an lập" (Tăng Chi II, 194-195). Như vậy tâm từ của
đạo Phật mở rộng đến tất cả chúng sinh, kể cả các
loài côn trùng nhỏ bé, các loài cây cỏ hữu tình.
Đặc
tính cuối cùng của Đạo đức Phật giáo là một nếp sống
vô ngã, một triết lý uyên thâm vi diệu, vừa giúp con người
tự chủ, thoát ly sự chi phối của thân người và thế giới,
vừa vượt qua được các khổ đau, sầu muộn, do tánh vô
thường của tự ngã và thế giới gây ra, vừa là con đường
đưa đến tâm giải thoát và tuệ giải thoát.
Trước
hết Đức Phật nêu lên 6 kiến xứ của con người như đã
được trình bày trong Kinh Xà Dụ (22, Trung Bộ). Tức xem sắc,
thọ, tưởng, hành thức là của ta, là ta, là tự ngã của
ta, và xem tự ngã và thế giới sau khi chết, ta sẽ thường
hằng, thường tồn mãi mãi. Trước hết, Đức Phật phân
biệt giữa người phàm phu ít nghe và vị thánh đệ tử nghe
nhiều, người phàm phu thời chấp thủ sáu kiến xứ này,
còn vị thánh đệ tử nghe nhiều thời không. Tiếp đến Đức
Phật nói đến sự vô lý của chấp ngã như đã trình bày
trong kinh 66, số 148, Trung Bộ 3: "Nếu mắt là tự ngã, như
vậy không hợp lý. Sự sanh và diệt của mắt đã được
thấy nên phải đưa đến kết luận 'Tự ngã sanh và diệt
ở nơi tôi'. Do vậy nếu ai nói: 'Mắt là tự ngã', như vậy
không hợp lý" (Trung Bộ III, 474-475). Cũng vậy đối với các
pháp khác. Kinh Vô ngã tướng lại nói thêm, xem 5 uẩn là tự
ngã không thể chấp nhận được, vì đối với thân của
ta, ta không có quyền lực muốn thân của ta phải như ý muốn
ta. Do vậy không thể xem 5 thủ uẩn là tự ngã. Rồi Đức
Phật nói lên những nguy hiểm đau khổ do chấp ngã gây ra:
"Ai khởi nên ý nghĩ, cái gì chắc chắn của ta, nay chắc chắn
không còn là của ta, chắc chắn ta không được cái ấy. Suy
nghĩ như vậy, nó sầu muộn than van khóc lóc, đập ngực đi
đến bất tỉnh" (Trung Bộ I, 136A). Nếu nó không suy nghĩ như
vậy, thời nó đâu có sầu muộn than van. Còn những ai tin
rằng sau khi chết, ta sẽ thường hằng, thường tồn mãi mãi,
và khi nghe đức Phật hay đệ tử của đức Phật giảng pháp,
bạt trừ tất cả kiến xứ, tịnh chỉ các hành, từ bỏ
mọi sanh y, đoạn trừ khát ái, thời vị ấy sầu muộn than
van khóc lóc dập ngực đi đến bất tỉnh, vì nghĩ rằng mình
sẽ bị hoại diệt, không còn tồn tại. Cho nên mọi đau khổ
khởi lên đều chính do chấp 5 thủ uẩn này là của ta, là
ta, là tự ngã của ta.
Để
mọi người ý thức rõ 5 thủ uẩn là vô ngã, Đức Phật
đặt một số câu hỏi: "Sắc là thường hay vô thường? Cái
gì vô thường là khổ hay lạc? Cái gì vô thường, khổ chịu
sự biến hoại, liệu có hợp lý chăng nếu xem sắc là của
tôi, là tôi, là tự ngã của tôi?". Các câu trả lời tất
nhiên xác nhận sắc là vô thường, là khổ, là vô ngã, cũng
như các thủ uẩn khác. Rồi Đức Phật đi đến kết luận,
khích lệ các vị Tỷ-kheo cần phải quan sát: "Này các Tỷ-kheo,
bất cứ sắc pháp nào . . cảm thọ nào... tưởng nào... hành
nào... thức nào quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại,
thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần tất cả thức là:
"Cái này không phải của tôi, không phải là tôi, không phải
là tự ngả của tôi" (Trung Bộ I, 138A). Nhờ quán như vậy,
vị Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc... đối với thọ...
đối với tưởng ... đối với hành... đối với thức. Do
nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát. Trong
sự giải thoát có trí biết được đã giải thoát. Vị ấy
biết: "Sanh đã tận, Phạm hành đã thành, việc nên làm đã
làm, không còn trở lại trạng thái này nữa" (Trung Bộ I,
139). Như vậy chính nhờ quán vô ngã, vị hành giả chứng
được Thánh quả. Và đã chứng Thánh quả thời mọi đau
khổ đều được tiêu diệt hoàn toàn.
Đến
đây chúng ta có thể xác nhận đạo đức Phật giáo là một
nếp sống vô ngã, có vô ngã, mới đem lại hạnh phúc và
an lạc cho mọi loài chúng sinh. Có vô ngả mới đề cao vị
trí tối thượng của con người hướng đến đời sống trong
sạch, không uế nhiễm. Có vô ngã mới thành tựu được một
nếp sống hiền thiện tránh ác làm lành. Có vô ngã đời
sống mới thực sự an lạc, bình an thoải mái. Có vô ngã
mới đi đôi với giải thoát khỏi đau khổ, khỏi sanh não
bệnh chết. Có vô ngã mới giúp trí tuệ phát triển khả
năng đoạn tận các lậu hoặc, các kiết sử. Có vô ngã mới
thực hiện được nếp sống hài hòa với thiên nhiên, với
cảnh giới bên ngoài. Có vô ngã mới thực hiện được một
đời sống hòa hợp, thông cảm, tương thân tương ái. Có
vô ngã mới xât dựng một nếp sống từ bi hỷ xả. Có vô
ngã mới thực hiện được một nếp sống đạo đức mà
đức Phật muốn thực hiện ngay trong đời này, cho tất cả
mọi loài chúng sinh.
3
ĐẠO
PHẬT VÀ NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM
Như
mọi người đều biết vào thế kỷ thứ nhất sau kỷ nguyên,
đạo Phật du nhập vào Việt Nam trong khi đất nước đang
bị phong kiến phương Bắc đô hộ.
Trước
đó, nhân dân Việt Nam đã xây dựng được một nền văn
hóa rực rỡ, độc đáo, có bản sắc riêng, mà hiện nay các
nhà sử học và khảo cổ học gọi là "Nền văn minh sông
Hồng". Đó là một nền văn minh xóm làng dựa trên một nông
nghiệp trồng lúa trước với kỹ thuật luyện đồng và luyện
sắt đã phát triển từ rất sớm. Phong kiến phương Bắc
đã tiến hành một sự đồng hóa cưỡng bức về văn hóa
nhưng dân chúng Việt Nam phải đấu tranh quyết liệt để
bạo vệ nền văn hóa truyền thống và cũng là để bảo vệ
sự sinh tồn của dân tộc.
Người
Việt Nam vốn có một thái độ bao dung cởi mở về văn hóa
và tín ngưỡng, ít có những thành kiến tôn giáo, sẵn sàng
chọn lọc trong những nền văn hóa bên ngoài những yếu tố
làm phong phú nền văn hóa độc đáo của họ. Người Việt
Nam cũng có thể chấp nhận những tín ngưỡng khác nhau từ
bên ngoài và dung hòa chúng với tín ngưỡng cổ truyền.
Phật
giáo đã bắt rễ dễ dàng trên mảnh đất Việt Nam. Những
người nông dân Việt Nam đang đau khổ và khát vọng sự giải
thoát, đã tiếp nhận Phật giáo một cách tự nhiên.
Các
nhà sư Ấn Độ và Trung Á đã đến Việt Nam vào khoảng đầu
công nguyên. Giao Châu - Việt Nam thời đó - đã là nơi dừng
chân của nhiều khách thương Ấn Độ cũng như các Tăng sĩ
Ấn Độ. Thương gia Ấn Độ thường phải ở lại đây cho
đến năm sau, chờ gió mùa đông bắc để trở về Ấn Độ
. Còn một số nhà sư Ấn Độ có thể ở lại lâu hơn. Cũng
từ đây, một số thành tựu văn hóa vật chất, ngôn ngữ
và tinh thần Ấn Độ được người Việt tiếp thu, trong đó
có Phật giáo.
Sự
tiếp nhận này dường như không gây ra sự thay đổi nào đột
ngột trong đời sống tinh thần của người Việt. Họ thờ
cúng Chư Phật cũng như đã thờ cúng các vị thần vốn có
của họ.
Trung
tâm Phật giáo cổ nhất ỏ Việt Nam là Luy Lâu, cách Hà Nội
khoảng 30 km về phía Bắc. Ở đây có bốn ngôi chùa được
dựng từ thời các nhà sư Ấn Độ đầu tiên đến đây,
có tên là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, tức Mây,
Mưa, Sấm, chớp. Bốn ngôi chùa này đồng thời thờ bốn
vị nữ thần là Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Đàn, Bà Tướng. Rõ
ràng đó là các nữ thần nông nghiệp. Cho đến ngày nay, người
ta vẫn còn thờ các loại nữ thần đó trong các chùa này.
Như vậy là ngay trong bước du nhập đầu tiên, Phật giáo
đã được những người nông dân trồng lúa Việt Nam dung
hòa với các tín ngưỡng cổ truyền của họ.
Từ
thế kỷ hai trở đi. Phật giáo Giao Châu đã có những bước
phát triển đáng kể. Tăng đoàn đã khá đông. Nhiều chùa
tháp được dựng. Các nhà sư Ấn Độ và Trung Á đã bắt
đầu tổ chức việc dịch kinh ở Luy Lâu. Ngoài nhiều bộ
kinh đã được dịch, đã xuất hiện những quyển sách bàn
luận về Phật giáo. Những trung tâm dịch kinh và nghiên cứu
Phật giáo đồng thời cũng là những trung tâm giáo dục. Những
thế hệ Tăng sĩ người Việt dần dần được hình thành.
Chẳng hạn như Đạo Thanh là học trò của Chi Cương Lương
Tiếp (Kalàsìvi) trong thế kỷ III, và Huệ Thắng là học trò
của Đạt-Ma-Đề-Bà (Dharmadeva) trong thế kỷ V... Từ thế
kỷ VI trở đi, Phật giáo ở Việt Nam càng phát đạt. Các
phái Thiền Tông Trung Quốc đã du nhập vào Việt Nam trong thế
kỷ VI và thế kỷ IX. Cũng vào thời gian này, xuất hiện nhiều
cao tăng người Việt, có đạo đức sâu rộng, trong số đó
có những người như Phụng Đình Pháp sư, Duy Giám Pháp sư,
được vua nhà Ðường mời sang Trường An (Chánh An) để giảng
kinh luận. Nhiều cao tăng Việt Nam khác cũng đã đến Ấn
Độ như Vận Kỳ Giải Thoát Thiên (tên Sanskrit là Moksadeva),
Khuy Xung (tên Sanskrit là Prajnadeva). Đặc biệt là ngài Đại
Thừa Đăng (tên Sanskrit là Mahayànapradìpa), đã nhiều năm
tu hoc ở Ấn Độ, tinh thông tiếng Sanskrit, đã chú giải tác
phẩm Duyên Sinh Luận (Nidàna-sastra). Vị này đã tới học
ở tự viện Nalanda và cuối cùng mệnh chung ở chùa Parinirvana
tại Kusinara vào thế kỷ VII.
Cũng
một phần qua các hoạt động của các tăng sĩ như vậy mà
văn hóa Việt Nam đón nhận ảnh hưởng của văn hóa thế
giới. Nhưng điều quan trọng trong thời kỳ này là Phật giáo
đã góp phần phát triển và bảo vệ nền văn hóa dân tộc.
Khi
đã thấm sâu vào tín ngưỡng của nhân dân, Phật giáo đã
có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của người
Việt. Các ngôi chùa lại trở thành các trung tâm văn hóa giáo
dục trong các làng xã. Chùa không phải chỉ là nơi sinh hoạt
tôn giáo mà còn là nhà trường. Các em bé đến chùa không
phải chỉ để sau này trở thành các Tăng sĩ mà là để học
chữ. Chư Tăng không những làm việc tôn giáo mà còn là thầy
học hoặc thầy thuốc ở nông thôn. Chư Tăng là người hiểu
biết trong xóm làng, làm cố vấn cho nông thôn trong nhiều
công việc và được nông dân kính trọng.
Chính
vì vậy, rất tự nhiên, trong cuộc đấu tranh giải phóng đất
nước, Phật giáo đã đúng vào phía những người yêu nước.
Nhiều Tăng sĩ trong hoạt động tôn giáo của mình, đã nhen
nhóm một tinh thần tự chủ. Và có những tín đồ Phật giáo
đã trực tiếp cầm đầu nhân dân đứng lên làm cuộc chiến
tranh giải phóng. Cuộc khởi nghĩa của Lý Phật Tử cuối
thế kỷ VI, đầu thế kỷ VII là một ví dụ. Trong tiếng
Việt, "Phật tử" có nghĩa là tín đồ Phật giáo. Như vậy
là Phật giáo Việt Nam, trong những bước phát triễn đầu
tiên, đã nhập thân vào dân tộc. Chính vì vậy mà người
Việt Nam không ngạc nhiên khi thấy trong lịch sử, vua Lý Nam
Đế, khi xây dựng một nhà nước độc lập ngắn ngủi vào
thế kỷ VI, đã cho xây ngôi chùa có tên là Khai Quốc, nghĩa
là "mở nước". Chùa Khai Quốc là tiền thân của chùa Trấn
Quốc ngày nay ở Hà Nội.
Do
vai trò của Phật giáo trong cuộc chiến đấu giải phóng,
khi nền độc lập của Việt Nam được giành lại trong thế
kỷ X, Phật giáo đã có một vị trí to lớn trong xã hội.
Từ thế kỷ X đấn thế kỷ XIV là giai đoạn phát triển
cực thịnh của Phật giáo Việt Nam, mà đỉnh cao là trong
hai triều đại Lý (1010-1225) và Trần (1225-1400). Phật giáo
trở thành quốc giáo. Nhiều cao tăng làm cố vấn cho nhà vua
trong công việc đối nội và đối ngoại. Nhiều nhà vua tin
sùng Phật giáo, sau khi truyền ngôi cho con, đã xuất gia tu
hành. Phần lớn quan lại quý tộc là tín đồ Phật giáo.
Chùa
tháp mọc lên khắp nơi trong nước. Ngày nay, ở những tỉnh
miền núi của Việt Nam như Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, các nhà
khảo cổ học đã tìm được di tích những ngôi chùa cổ
trong thời kỳ này. Điều đó có nghĩa là bấy giờ, Phật
giáo đã thâm nhập vào các dân tộc thiểu số trên đất
Việt Nam.
Phật
giáo đã thấm sâu vào các làng xã. Người Việt Nam chúng
ta có câu: "Đất vua, chùa làng". Đất của vua có nghĩa là
đất đai trong nước thuộc quyền sở hữu của nhà vua, một
hình thức sở hữu ruộng đất phổ biến ở phương Đông
cổ đại. Còn chùa là của làng, nói lên rằng mỗi công xã
có một ngôi chùa riêng. Nhà chùa thường được hưởng hoa
lợi trên một số ruộng đất gọi là ruộng chùa, lấy ra
trong bộ phận ruộng công của làng xã. Nhiều nhà nghiên cứu
Việt Nam hiện nay cho rằng đình, ngôi nhà chung của cư dân
làng xã mà ở đó thường tiến hành những sinh hoạt công
cộng, chỉ xuất hiện về sau này. Còn trong thời kỳ thế
kỷ X đến thế kỷ XIV, chưa có đình, mà chùa là nơi sinh
hoạt công cộng của cư dân làng xã. Như vậy trong giai đoạn
này chùa không chỉ là nơi tiến hành các sinh hoạt tôn giáo,
mà cũng như đình sau này, còn là nơi sinh hoạt văn hóa của
dân làng xã. Làng xã Việt Nam bao giờ cũng là nơi ấp ủ
sức sống của văn hóa truyền thống của người Việt Nam
. Như vậy là từ trong cái tế bào của xã hội Việt Nam cổ
truyền, văn hóa dân tộc đã tiếp xúc với Phật giáo.
Sau
thế kỷ X, cùng với việc giành lại chủ quyền đất nước
văn hóa Việt Nam bước vào một thời kỳ phát triển rực
rở, bừng lên như môt cuộc hồi sinh hay phục hưng. Đặc
điểm của nền văn hóa trong giai đoạn từ thế kỷ X đến
thế kỷ XIV là biểu hiện một ý thức dân tộc rất cao.
Trong
việc xây dựng nền văn hóa dân tộc thời đó, Phật giáo
Việt Nam có những đóng góp to lớn. Có thể nói rằng văn
hóa Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV vừa mang tính
chất dân tộc vừa mang tính chất Phật giáo. Và hai đặc
điểm này hoàn toàn không mâu thuẫn nhau.
Như
đã nói ở trên, Phật giáo Việt Nam đã tham gia vào công cuộc
giải phóng dân tộc từ trước thế kỷ X, nên khi giành lại
được nền độc lập, các Tăng sĩ vẫn mang một ý thức
quốc gia mạnh mẽ. Nhiều cao tăng như Khuông Việt (tên hiệu
này có nghĩa là "giúp nước Việt"), Vạn Hạnh, Pháp Thuận
đã thực sự tham gia hoạt động chính trị với mục đích
giữ gìn một nhà nuớc độc lập mới được xây dựng. Phật
giáo thời kỳ này mang một màu sắc nhập thế rõ ràng, hay
nói cho đúng hơn, có nhiều chiều hướng phục vụ quốc gia
dân tộc.
Vả
lại, các nhà sư thời kỳ này đều thuộc các phái Thiền.
Đối với các Thiền sư, mọi công việc của đạo của đời
đều không ngăn cản đạt được bát nhã (Prajna). Vì vậy
ngồi trên chiếu thiền, hay lên yên đuổi giặc, các vị ấy
đều tự do. Tuệ Trung thượng sĩ, một nhà thiền trong cuộc
kháng chiến chống Nguyên, đã trình bày điều đó trong hai
câu thơ rất hay:
"Đi
là thiền, mà ngồi cũng là thiền,
Bao
giờ cũng là một đóa sen tươi trong lò lửa đỏ rực. "
Ý
thức dân tộc biểu hiện mạnh mẽ trong văn học và nghệ
thuật. Thời kỳ này mà chư Tăng là người mở đầu dòng
văn học đó. Bài thơ sớm nhất mà ngày nay được biết đến
trong lịch sử văn học Việt Nam là của pháp sư Khuông Việt,
cố vấn cho các vua Đinh và Lê trong thế kỷ X. Đó là một
bài thơ tiễn môt sứ giả Trung Quốc về nước. Bài thơ được
làm trong công việc ngoại giao, biểu hiện một ý thức quốc
gia mạnh mẽ nhưng vẫn có tính nghệ thuật cao.
Ngày
nay, những gì còn lại trong kho tàng văn học Việt Nam từ
thế kỷ X đến thế kỷ XII, tuyệt đại bộ phận là văn
học Phật giáo. Hầu hết là thơ của các thiền sư. Trong
số đó có những bài thơ rất hay, đã giữ một vị trí rất
xứng đáng trong lịch sử thi ca Việt Nam.
Đây
là bài thơ ngắn của nhà sư Mãn Giác(1052-1096):
"Mùa
xuân đi trăm hoa rụng,
Mùa
xuân đến trăm hoa nở,
Việc
đời trôi qua trước mắt,
Tuổi
già đến từ trên đầu.
"Nhưng
chớ nói rằng mùa xuân tàn thì tất cả các hoa đều rụng
Đêm
hôm qua trước sân, một cành hoa mai đã nở".
Có
thể các tác giả bài thơ muốn dùng hình ảnh cành hoa mai
để biểu hiện bản thể bất sinh bất diệt của vạn pháp.
Nhưng mọi người Việt Nam lại tìm thấy ở bài thơ này một
cảm xúc về sự vươn lên của cuộc sống không gì dập tắt
được.
Và
đây là bài thơ nhỏ của nhà sư Không Lộ (mất năm 1119):
"Chọn
được nơi ở trên một thửa đất đẹp.
Cái
thú ở thôn quê khiến cho suốt ngày, niềm vui không dứt,
Có
lúc, ta chèo lên đỉnh núi cao chót vót,
Kêu
dài một tiếng, làm lạnh cả bầu trời.
Trong
khi hứng siêu thoát rất độc đáo của tác giả. người Việt
Nam lại thấy một sự khảng định con người giữa tự nhiên
mênh mông.
Văn
học Việt Nam từ thế kỷ XII đến thế kỷ XIV phong phú hơn,
đa dạng hơn và có một tinh thần dân tộc sâu sắc hơn. Nhưng
văn học Phật giáo vẫn còn là một bộ phận quan trọng,
đó là chưa kể ảnh hưởng của Phật giáo đến văn học
nói chung. Một nhà thơ nổi tiếng có đóng góp cho nền thơ
ca Việt Nam là Pháp sư Huyền Quang (1254-1334), giỏi Phật học
nhưng thơ rất bình dị. trong thơ Ngài, thiên nhiên hiện lên
tuyệt đẹp và rung cảm của con người thật là tươi mát.
Nhưng đôi khi, bên cạnh những bức tranh đẹp của thiên nhiên,
ta gặp những dòng thơ chia sẻ nỗi đau khổ của con người.
Chẳng hạn bài thơ của Ngài viết khi gặp những người tù
đi đày bị áp giải:
"Ta
muốn viết một bức thư bằng máu để nhắn tin
Như
chim nhạn cô đơn bay vút qua tầng mây,
Đêm
nay, bao nhiêu nhà buồn dưới ánh trăng,
Hai
nơi xa nhau nhưng cùng một nỗi đau".
Huyền
Quang là tổ thứ ba của phái thiền Trúc Lâm. Việc xây dựng
một phái thiền riêng trong thời Trần cũng là một biểu hiện
của ý thức dân tộc. Vị tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm
là vua Trần Nhân Tông (1258-1308), người anh hùng dân tộc,
nhà sư và cũng là nhà thơ.
Một
trào lưu văn học có tính chất dân tộc thời Trần là sáng
tác bằng ngôn ngữ Việt Nam và ghi lại bằng thứ chữ Việt
Nam gọi là chữ Nôm. Trần Nhân Tông, Huyền Quang cũng đã
để lại những tác phẩm văn học Phật giáo bằng chữ Nôm.
Những tác phẩm đó ngày nay vẫn còn, và trở thành những
tài liệu vô cùng quý báu .
Sự
hưng thịnh của Phật giáo trong các thế kỷ X-XIV ở Việt
Nam đã kéo theo sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc,
điêu khắc và hội hoạ. Nhiều chùa tháp đã mọc lên ở
các kinh đô Hoa Lư, Thăng Long (Hà Nội ngày nay) cũng như ở
nhiều nơi khác trong nước. Đáng tiếc là phần lớn các kiến
trúc này nay không còn nữa, do thời gian và do chiến tranh xâm
lược. Ngày nay chỉ còn lại tháp đá Phổ Minh (tỉnh Hà Nam
Ninh) 14 tầng, cao 21m, xây dựng năm 1305 và tháp gạch Bình
Sơn (tỉnh Vĩnh Phú), 11 tầng, cao 15m, xây vào thế kỷ XIV
là còn khá nguyên vẹn. Đó là những niềm tự hào kiến trúc
cổ Việt Nam.
Cùng
phát triển với kiến trúc là điêu khắc. Tiêu biểu cho điêu
khắc thời kỳ này, ngoài những phù điêu trang trí cho các
kiến trúc Phật giáo là những pho tượng bằng đá như tượng
A Di Đà (Amitabha) ở chùa Phật Tích (tỉnh Hà Bắc), các tượng
kim Cương (Vajrapani) ở chùa Long Đọi (tỉnh Hà Nam Ninh). Đó
là những pho tượng đẹp thời Lý. Thời Trần ngày nay ít
tượng hơn, nhưng lại tìm được rất nhiều bệ tượng bằng
đá. Đó là những khối chữ nhật ghép đá mà trên đó những
nhà điêu khắc đã trang trí bằng các phù điêu.
Phong
cách điêu khắc Lý mềm mại, phong cách điêu khắc Trần khoẻ
khoắn. Một hình tượng trang trí phổ biến của thời kỳ
này là hình hai con rồng uống khúc nằm giữa hai chiếc lá
cây bồ đề. Lá bồ đề tượng trưng cho Phật giáo và rồng
tượng trưng cho dân tộc Việt Nam. Thủ đô Hà Nội thời
đó có tên là Thăng Long, có nghĩa là "rồng bay lên". Một
lần nữa, ta lại thấy sự quyện nhập giữa tinh thần Phật
giáo và ý thức dân tộc trong các biểu hiện của văn hóa
giai đoạn này.
Từ
giữa các thế kỷ XIV, Nho giáo bắt đầu lớn mạnh và Phật
giáo bị chèn ép. Nhưng từ giữa thế kỷ XVI, Phật giáo Việt
Nam bắt đầu phục hồi và hưng khởi lại. Thời kỳ phát
triển này đạt đến đỉnh cao của Phật giáo vào thế kỷ
XVIII.
Phật
giáo hưng khởi trở lại, kiến trúc và nghệ thuật tạo hình
Phật giáo cũng theo đó mà phát triển. Nhiều ngôi chùa lớn
ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam ngày nay là được xây
dựng trong thời kỳ này. Tượng Phật thời kỳ này trở lên
đa dạng. Đặc biệt là xuất hiện nhiều tượng Tuyết Sơn
và tượng Quan Âm (Avalokitesvara) đẹp. Nổi tiếng nhất là
tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, tạc năm 1656, ở chùa Bút
Tháp (tỉnh Hà Bắc). Bên cạnh tượng Phật là tượng La-hán
(Arhat) mà đặc sắc nhất là loạt tượng La-hán ở chùa Tây
Phương (Hà Nội), cuối thế kỷ XVIII.
Đây
cũng là một thời kỳ xuất hiện nhiều tác phẩm văn học
Phật giáo mà nội dung phổ biến là sự dung hòa tư tưởng
Phật giáo với tinh thần Nho giáo và Đạo giáo.
Nhiều
nhà văn Việt Nam cũng đã chịu ảnh hưởng của Phật giáo.
Ngay Nguyễn Trãi, nhà tư tưởng và nhà yêu nước, cũng đã
từng viết những dòng thơ:
Tào
Khê rửa ngàn tăm suối [1]
Sạch
chẳng còn một chút phàm
Còn
nhà thơ lớn Nguyễn Du, một tên tuổi chói sáng trong lịch
sử văn hóa Việt Nam, thì lại tỏ ra có một căn bản vũng
chắc về thiền học, khi ông viết:
Tôi
đã học kinh Kim Cương hơn nghìn lần,
Trong
đó có nhiều điều sâu sắc tôi chưa hiểu được .
Nhưng
đến khi đứng trước đài đá chia kinh này mới biết kinh
không có chữ là kinh chân chính. [2]
Nay
nhìn lại sự phát triển của nền văn hóa Việt Nam, chúng
ta không thể không chú đến sự đóng góp của đạo Phật.
Đạo Phật đã có mặt trên đất nước này gần 2.000 năm.
Vai trò Phật giáo đã đóng góp trong việ