Chương
18
SỰ
DUNG THÔNG
Đến
nay, thế giới quan được đề xuất bởi vật lý hiện đại
luôn luôn chỉ rõ rằng, ý niệm về hạt cơ bản kiến tạo
nên thế giới vật chất không thể đứng vững. Trong quá
khứ, khái niệm này hết sức thành công để lý giải thế
giới vật lý bằng một số nguyên tử; lý giải cấu trúc
nguyên tử bằng hạt nhân với các electron chạy vòng sung quanh;
và cuối cùng lý giải cấu trúc hạt nhân bằng hai hạt kiến
tạo là proton và neutron. Do đó, nguyên tử, nhân nguyên tử
rồi hadron lần lượt đã được xem là hạt cơ bản (hạt
cuối cùng kiến tạo thế giới vật chất). Thế nhưng, không
có hạt nào trong số đó thỏa ứng sự chờ đợi. Cứ mỗi
lần tới phiên mình, các hạt này lại cho thấy bản thân
chúng có cấu trúc riêng và nhà vật lý cứ luôn luôn hy vọng
đợi hạt tới sẽ là những hạt cuối cùng của vật chất.
Mặt
khác, lý thuyết vật lý nguyên tử và hạ nguyên tử lại
cho thấy sự hiện hữu của những hạt cơ bản đó ngày càng
khó đứng vững. Nó phát hiện ra một mối tương quan cơ bản
của vật chất, cho thấy rằng động năng có thể biến hóa
thành khối lượng, và đề xuất phải nhìn hạt là một tiến
trình chứ không phải là vật thể. Tất cả những thành tựu
đó chỉ rõ rằng một khái niệm đơn giản mang tính cứng
nhắc về “hạt kiến tạo cơ bản” cần phải được tư
bỏ, thế nhưng cũng còn nhiều nhà vật lý vẫn ngại làm
điều đó. Truyền thống lâu đời chuyên giải thích cấu
trúc phức tạp bằng cách đập nhỏ chúng ra từng mảnh đơn
giản đã bắt rễ quá sâu trong tư tưởng phương Tây, vì
thế ta vẫn cứ tiếp tục tìm kiếm những hạt cơ bản đó.
Thế
nhưng có một trường phái tư tưởng hoàn toàn khác trong nền
vật lý hạt, nó xuất phát từ ý niệm rằng, thế giới tự
nhiên không thể được qui lại về những đơn vị cơ bản,
dù đó là hạt cơ bản hay trường cơ bản. Thiên nhiên phải
được hiểu một cách toàn thể thông qua tự bản thân nó,
với tất cả những phần tử đang ăn khớp với nhau, với
chính bản thân chúng. Ý niệm này đã xuất hiện trong hệ
thống của thuyết ma trận S và được gọi là giả thuyết
Bootstrap. Cha đẻ và lý thuyết gia quan trọng của nó là Geoffrey
Chew, người mà một mặt đã phát triển ý niệm này trở
thành một triết lý Dung thông chung nhất về thiên nhiên, mặt
khác (đã cùng với những người khác), xây dựng một lý
thuyết đặc trưng về hạt, được phát biểu trong ngôn ngữ
của ma trận S. Chew đã mô tả giả thuyết Dung thông trong
nhiều bài viết, và phần sau đây là dựa vào những bài đó.
Triết
học Dung thông là tư tưởng từ bỏ hoàn toàn thế giới quan
cơ học trong vật lý hiện đại. Vũ trụ của Newton được
xây dựng bằng một loạt những đơn vị cơ bản với những
tính chất nòng cốt nhất định, xem như do Thượng đế tạo
nên và vì thế không thể phân tích thêm được. Với cách
này hay cách khác, khái niệm này được chứa đựng trong nhiều
lý thuyết của khoa học tự nhiên cho đến giả thuyết Dung
thông quả quyết rằng theo thế giới quan mới thì vũ trụ
được hiểu như là một mạng lưới động chứa toàn những
biến cố liên hệ với nhau. Không một tính chất nào của
bất kỳ thành phần nào trong mạng lưới này là cơ bản;
tất cả chúng đều sinh ra từ tính chất của những thành
phần khác, và chúng tương thích toàn diện trong quá trình
tương tác của những cấu trúc xác định trong toàn mạng
lưới.
Thế
nên, triết học Dung thông mà tiêu biểu là đỉnh cao của
quan điểm về tự nhiên, nó xuất hiện trong thuyết lượng
tử với sự nhìn nhận có một mối liên hệ chủ yếu và
toàn diện trong vũ trụ, nó nhận được nội dung động trong
thuyết tương đối, và nó được phát biểu bằng xác suất
phản ứng trong thuyết ma trận S. Đồng thời, quan điểm này
tiến gần hơn nữa với thế giới quan phương Đông và bây
giờ hòa điệu với tư tưởng phương Đông, trong cả triết
lý chung lẫn hình dung đặc biệt về vật chất.
Giả
thuyết Dung thông không chỉ phủ nhận sự hiện hữu của
những hạt vật chất cơ bản, mà còn không chấp nhận bất
cứ một đơn vị nào là cơ bản - chẳng có qui luật nào
là cơ bản, phương trình hay nguyên lý nào - và với điều
đó, từ bỏ những ý niệm đã là nòng cốt trong khoa học
tự nhiên suốt hàng năm trăm qua. Khái niệm về qui luật cơ
bản được suy ra từ niềm tin có một đấng thiêng liêng
về nắm giữ qui luật, bắt rễ sâu trong truyền thống đạo
Do Thái - Cơ Đốc. Sau đây là những dòng của Thomas Aquinas:
Có
một qui luật trường cửu nhất định, đó là Nghĩa lý, nó
nằm trong ý định của Chúa và điều hành toàn thế giới
vũ trụ.
Khái
niệm về qui luật thiên nhiên thiêng liêng và trường cửu
gây một ảnh hưởng lớn trong triết học và khoa học phương
Tây. Descartes viết về “qui luật mà Chúa đã đặt để trong
thiên nhiên” và Newton tin rằng, mục đích cao nhất của công
trình khoa học của mình là để minh chứng cho “qui luật
Chúa đặt ra”. Ba thế kỷ sau Newton, mục đích của nhà khoa
học tự nhiên là vẫn khám phá ra những qui luật cuối cùng
của tự nhiên.
Ngày
nay vật lý hiện đại đã phát triển một thái độ rất
khác. Nhà vật lý đã nhìn nhận rằng, tất cả lý thuyết
của họ về hiện tượng tự nhiên, kể cả những qui luật
mà họ mô tả, tất cả đều do đầu óc con người sáng tạo
ra; tất cả là tính chất của hình dung của chính chúng ta
về thực tại, chứ không phải bản thân thực tại. Hình
dung mang nặng tính khái niệm này buộc phải hạn chế và
chỉ tiến đên sự gần đúng (xem trang 36), cũng như mọi lý
thuyết khoa học và qui luật thiên nhiên mà nó chứa đựng.
Tất cả mọi hiện tượng trong tự nhiên cuối cùng đều
tương thích và liên hệ với nhau; và muốn giải thích một
cái này ta cần hiểu tất cả những cái khác, rõ là điều
không thể. Điều làm khoa học thành công là sự khám phá
ra tính gần đúng. Nếu ta bằng lòng với sự hiểu biết gần
đúng về thiên nhiên, thì như thế ta có thể mô tả một
nhóm hiện tượng chọn lọc, bỏ qua các hiện tượng khác
không quan trọng. Nhờ thế mà ta có thể lý giải nhiều hiện
tượng thông qua một số ít khác và hệ quả là hiểu nhiều
khía cạnh khác nhau của thiên nhiên trong dạng gần đúng,
mà không buộc phải hiểu mọi thứ khác tức khắc. Đó là
phương pháp khoa học; tất cả mọi lý thuyết khoa học và
mô hình đều là sự gần đúng so với tính chất đích thực
của sự vật, nhưng cái sai sót xảy ra trong sự gần đúng
đó thường đủ nhỏ bé để cách tiếp cận đó có ý nghĩa.
Thí dụ trong vật lý hạt, các lực tương tác trọng trường
giữa các hạt thường được bỏ qua, chúng nhỏ hơn nhiều
lần so với các lực tương tác khác. Mặc dù sự sai sót sinh
ra do việc này là nhỏ, trong tương lai, tương tác trọng trường
cần được lưu ý để có những lý thuyết chính xác hơn
về hạt.
Thế
nên, nhà vật lý xây dựng những mảng lý thuyết từng phần
và gần đúng, mỗi một phần đó chính xác hơn thuyết trước
mình, nhưng không có thuyết nào đúng một cách toàn bộ và
chung quyết cho các hiện tượng thiên nhiên. Cũng như các lý
thuyết, tất cả các “qui luật thiên nhiên” do họ đề
ra cũng hay thay đổi, phải bị thay thế bởi các luật chính
xác hơn, khi các lý thuyết trở nên hoàn chỉnh hơn. Tính chất
bất toàn của một lý thuyết thường được phản ánh trong
những đại lượng mà ta gọi là các hằng số cơ bản, đó
là, những trị số không được lý giải bằng lý thuyết
mà được đưa vào lý thuyết sau khi xác định bằng thực
nghiệm. Ví dụ, thuyết lượng tử không thể giải thích trị
số sử dụng cho khối lượng của electron, hay thuyết tương
đối với vận tốc ánh sáng. Trong quan điểm cổ điển, các
trị số đó được xem là hằng số cơ bản của thiên nhiên,
chúng không cần lý giải gì thêm. Trong cách nhìn mới, vai
trò gọi là hằng số cơ bản chỉ được xem là tạm thời
và phản ánh giới hạn của lý thuyết đó. Theo triết học
Dung thông, chúng phải được lý giải, từng cái từng cái,
trong các lý thuyết tương lai, vì tính chính xác và độ bao
trùm của những thuyết này tăng lên. Thế nên ta có thể tiếp
cận dần đến tình huống lý tưởng nhất (nhưng có lẽ chẳng
bao giờ đạt tới), nơi mà lý thuyết không chứa đựng loại
hằng số cơ bản không giải thích được, và nơi mà những
qui luật của chúng thỏa ứng tất cả những đòi hỏi chung
nhất.
Tuy
nhiên, cần nhìn nhận rằng ngay cả một lý thuyết tối ưu
như thế cũng phải chứa vài tính chất không giải thích được,
không nhất thiết phải biểu lộ trong dạng những hằng số.
Bao lâu còn là một lý thuyết khoa học, bấy lâu nó còn đòi
hỏi sự chấp nhận mà không giải thích, một số khái niệm
nhất định,chúng đã hình thành ngôn ngữ khoa học. Nếu ta
đẩy ý niệm Dung thông đi tiếp. Ta có thể lọt ra ngoài khuôn
khổ khoa học luôn :
Trong
một nghĩa rộng thì ý niệm Dung thông, mặc dù hấp dẫn và
hữu ích, nó là phi khoa học…Khoa học, như ta biết, đòi
hỏi một ngôn ngữ dựa trên những khuôn khổ không bị tra
vấn. Vì thế mà về mặt ngôn ngữ, nếu muôn tìm cách giải
thích tất ca mọi khái niệm, điều đó khó gọi là “khoa
học” được.
Điều
rõ rệt là quan điểm Dung thông toàn diện về tự nhiên, trong
đó mọi hiện tượng trong vũ trụ chỉ được hình thành
bằng sự tự tương thích đến rất gần với thế giới quan
phương Đông.
Trong
một vũ trụ không thể phân chia, trong đó mọi sự vật và
biến cố liên hệ chặt chẽ với nhau, khó mà nói gì cho có
lý nếu không nói chúng tương thích với nhau. Trong một cách
nào đó thì đòi hỏi tương thích lẫn nhau, điều đã xây
dựng nên nền tảng của giả thuyết Dung thông; và tính nhất
thể lẫn mối liên hệ giữa các hiện tượng, điều được
đạo học phương Đông nhấn mạnh; chúng chính là những khía
cạnh khác nhau của một ý niệm chung. Mối liên hệ chặt
chẽ này được trình bày rõ nhất trong Lão giáo. Đối với
các chân nhân đạo Lão, tất cả mọi hiện tượng trong thế
giới đều là thành phần của con đường vũ trụ - của Đạo
- và qui luật mà Đạo đi theo không do ai đặt định ra hay
do đấng thiêng liêng nào, mà là tính chất nội tại trong
tự tính của nó. Thế nên ta đọc trong Đạo Đức Kinh:
Người
bắt chước Đất (Nhơn pháp Địa), Người theo phép Đất
Đất
bắt chước Trời (Địa pháp Thiên), Đất theo phép Trời
Trời
bắt chước Đạo (Thiên pháp Đạo), Trời theo phép Đạo
Đạo
bắt chước Tự nhiên (Đạo pháp Tự nhiên), Đạo theo pháp
Tự nhiên.
Joseph
Needham, trong công trình nghiên cứu nghiêm túc của mình về
khoa học và văn minh Trung quốc, trình bày rõ ràng tại sao
quan điểm phương Tây về qui luật cơ bản tự nhiên, với
nguồn gốc từ một đấng thiêng liêng là người ban luật,
không hề có sự tương đồng trong tư tưởng Trung quốc. Theo
thế giới quan Trung quốc, Needham viết, “sự hòa đồng của
mọi hiện hữu được sinh ra, không phải từ quyền phép của
một uy lực siêu thế nằm ngoài chúng, mà từ thực tế, chúng
là thành phần của một cái toàn thể tạo thành cấu trúc
của vũ trụ, và điều chúng tuân thủ chính là sự nhắn
nhủ từ chính nội tâm của chúng”.
Theo
Needham, thậm chí người Trung quốc không có từ tương tự
để chỉ ý niệm cổ điển của phương Tây nói về qui luật
tự nhiên. Từ gần nhất với ý niệm đó là Lý, điều mà
triết gia Tân Khổng giáo Chu Hi gọi là “vô số những mẫu
hình như mạch máu nằm trong Đạo”. Needham phiên dịch Lý
là nguyên lý tổ chức và lý giải thêm như sau:
Trong
nghĩa cổ đại nhất, nó chỉ định những mẫu hình trong
sự vật, đó là vân của ngọc thạch hay sợi trong bắp thịt…
Nó đạt được từ chung là “nguyên lý”, nhưng luôn luôn
giữ một nghĩa của “cấu trúc”…Đó là “qui luật “,
nhưng qui luật này là luật mà các thành phần của cái toàn
thể phải tuân thủ vì chúng chính là phần của cái chung…
Điều quan trọng nhất khi nói về thành phần là chúng vào
đúng chỗ, chính xác, ăn khớp với những thành phần khác
tron một sinh cơ toàn thể do chúng tạo nên.
Ta
dễ thấy một quan điểm như thế đưa tư tưởng gia Trung
quốc vào ý niệm mới được phát triển trong thời gian gần
đây của vật lý hiện đại, đó là, sự tự tương thích
chính là cái tinh túy của mọi qui luật thiên nhiên. Câu nói
sau đây của Chen Sun, một học trò của Chu Hi sống khoảng
năm 1200 Công nguyên, diễn tả hình dung này rất rõ, những
câu này có thể được xemlà sự trinh bày toàn hảo về nọi
dung tự tương thích trong triết lý Dung thông:
Lý
là luật của tự nhiên, không thể trốn thoát, luật của
sự và vật…ý nghĩa của “tự nhiên, không thể trốn thoát”
là sự (của con người) và vật (của thiên nhiên) được
tạo ra để được đặt vào đúng chỗ này xảy ra không chút
thừa hay thiếu…Con người từ xưa, tìm hiểu sự vật đến
chỗ tận cùng, và tìm ra lý, chỉ muốn là sáng tỏ sự không
trốn thoát được tự nhiên của sự và vật, và điều đó
có nghĩa đơn giản là những gì họ muốn tìm chính là chỗ
mà vật được đặt vào ăn khớp vớí nhau. Chỉ như thế.
Trong
quan niệm phương Đông, cũng như trong cách nhìn của vật lý
hiện đại, thì mọi sự trong vũ trụ đều có liên quan đến
mọi sự khác và không có thành phần nào là cơ bản. Tính
chất của mỗi phần được xác định, không phải bởi qui
luật nào, mà bởi tính chất của tất cả các thành phần
khác. Cả hai, nhà vật lý và nhà đạo học đều thừa nhận
không thể giải thích hoàn toàn một hiện tượng, thế nhưng
sau đó, hai bên mỗi người có thái độ khác nhau. Nhà vật
lý, như đã nói trên, bằng lòng với một tiếp cận gần
đúng với thiên nhiên. Nhà đạo học phương Đông, mặt khác,
không quan tâm đến nhận thức gần đúng hay tương đối.
Họ quan tâm đến nhận thức tuyệt đối, nó bao tùm sự hiểu
biết của toàn bộ đời sống. Biết rõ mối quan hệ khăng
khít với nhau trong vũ trụ, họ thấy rõ giải thích một vật
cuối cùng chính là trình bày sự liên hệ vật đó với mọi
vật khác như thế nào. Vì điều đó là bất khả; nhà đạo
học phương Đông quả quyết rằng không thể giải thích sự
vật nào một cách đơn lẻ. Thế nên Mã Minh nói:
Tất
cả các pháp không thể dùng danh tự để kêu gọi, không thể
dùng lời nói luận bàn, không thể dùng tâm suy nghĩ được.
Vì
vậy, các thánh nhân phương Đông, thường không quan tâm việc
giải thích sự vật, mà tìm kiếm một sự chứng thực trực
tiếp, phi suy luận về tính nhất thể của mọi sự. Đó cũng
là thái độ của Đức Phật là người trả lời mọi câu
hỏi về ý nghĩa đời sống, nguyên nhân của thế giới hay
tính chất của niết bàn bằng một sự im lặng cao quí. Những
câu trả lời vô nghĩa của các thiền sư khi được yêu cầu
giải thích điều gì đó, hình như cũng có mục đích đó;
để cho người học trò thấy rằng mọi sự đều là hệ
quả của toàn bộ cái còn lại; rằng giải thích tự tính
không có gì khác hơn là chỉ rõ tính nhất thể của nó; rằng
cuối cùng không có gì để giải thích cả. Khi một vị tăng
hỏi Động Sơn đang cân gạo: “Phật là gì?”, Động Sơn
đáp. “Ba cân”; và khi Triệu Châu được hỏi tại sao Bồ-Đề
Lạt-ma đi Trung quốc, ông trả lời: “Cây tùng trước cổng”.
Giải
thoát đầu óc con người khỏi chữ nghĩa và lý luận là một
trong những mục đích chính của nhà đạo học phương Đông.
Cả Phật giáo lẫn Lão giáo đều nói về mạng lưới chữ
nghĩa hay mạng lưới khái niệm, đã mở rộng ý niệm của
một mạng lưới liên hệ lẫn nhau vào trong lĩnh vực của
tư duy. Bao lâu ta còn tìm cách giải thích sự vật, bấy lâu
ta còn bị Nghiệp trói buộc: bị giam trong mạng lưới khái
niệm của chính ta. Vượt lên chữ nghĩa và khái niệm là
phá vỡ vòng kiềm tỏa của Nghiệp và đạt giải thoát.
Thế
giới quan của đạo học phương Đông chia sẻ với triết
học Dung thông của vật lý hiện đại, không những ở chỗ
nhấn mạnh đến mối liên hệ lẫn nhau và sự tương thích
của mọi hiện tượng, mà còn ở chỗ phủ nhận một bản
thể cơ sở của vật chất. Trong một vũ trụ vốn là một
cái toàn thể không thể phân chia và nơi mà mọi hình thể
đều đang trôi chảy và thay đổi liên tục, nơi đó không
có chỗ cho một đơn vị cố định hay cơ bản. Vì thế mà
khái niệm bản thể cơ sở của vật chất không được
nhắc tới trong tư tưởng phương Đông. Thuyết nguyên tử
vật chất không hề được phát triển trong tư tưởng Trung
quốc, và mặc dù nó xuất hiện nơi vài trường phái triết
học Ấn Độ, nó chỉ nằm bên lề của huyền thoại Ấn
Độ. Trong Ấn Độ giáo, khái niệm nguyên tử chỉ xuất hiện
trong hệ Jaina (hệ này được xem là phi kinh viện vì không
chấp nhận thẩm quyền của Kinh Vệ - đà). Trong triết học
Phật giáo, thuyết nguyên tử xuất hiện trong hai trường phái
của Tiểu thừa, nhưng chúng được phái Đại thừa quan trọng
hơn xem là sản phẩm của vô minh. Thế nên Mã Minh nói:
Khi
chia chẻ vật chất, ta biến chúng thành vi trần. Nhưng vi trần
lại bị chia chẻ tiếp tục, nên tất cả dạng hiện hữu,
dù thô sơ hay vi tế, không gì khác hơn là bóng dáng của sự
phân biệt và chúng không có bất cứ mức độ nào của thật
tánh.
Như
thế, những trường phái chính của đạo học phương Đông
đều cùng quan điểm với triết lý Dung thông rằng, vũ trụ
là một thể chung liên hệ lẫn nhau, trong đó không có phần
nào là cơ bản hơn phần nào, rằng tính chất của một phần
này được xác định bởi tất cả các phần kia. Trong nghĩa
này, người ta cũng có thể nói mỗi phần chứa đựng tất
cả các phần kia; và thực tế là một hình ảnh về sự hóa
thân để sinh ra lẫn nhau hình như đánh dấu sự chứng nghiệm
huyền bí về thiên nhiên. Sau đây là những dòng của Sri Aurobindo:
Đối
với cảm quan siêu thế, không có gì là thực sự hữu hạn;
nó dựa trên một cảm giác là tất cả ở trong mỗi một
và mỗi một ở trong tất cả.
Nội
dung tất cả ở trong mỗi một và mỗi một ở trong tất cả
tìm thấy sự phát triển lớn nhất trong Hoa Nghiêm Tông của
Phật giáo Đại thừa, thường được xem là đỉnh cao cuối
cùng của tư tưởng Phật giáo. Nó đặt nền tảng trên kinh
Hoa Nghiêm, theo truyền thuyết là do Đức Phật thuyết giảng
trong khi Ngài nhập định sau khi giác ngộ. Bộ Kinh này tới
nay chưa được dịch ra thứ tiếng phương Tây nào, mô tả
một cách chi tiết thế giới được nhận thức thế nào trong
ý thức giác ngộ, khi “vỏ cứng của cá thể bị tan biến
và cảm giác của hữu hạn không còn đè nặng chúng ta”.
Trong phần cuối, được gọi là Phẩm Hoa Nghiêm, Kinh kể lại
câu truyện của một người tầm đạo trẻ tuổi, Thiện Tài
trình bày một cách sinh động những chứng thực siêu hình
của anh về vũ trụ, vũ trụ đã hiện ra như một mạng luới
toàn hảo của những mối tương quan, trong đó tất cả sự
vật và biến cố tương tác với nhau trong cách thế là mỗi
một chứa đựng tất cả cái khác. Đoạn sau này của Kinh,
được D.T.Suzuki phỏng dịch, dùng hình ảnh của một khung
trời trang hoàng tuyệt đẹp, để truyền đạt chứng nghiệm
của Thiện Tài:
Cung
điện rộng lớn và bao la như bầu trời. Nền cung điện được
lót bằng vô số hạt minh châu đủ loại, và khắp nơi trong
cung trời, còn vô số tháp, của lớn, cửa sổ, lan can, lối
đi, tất cả đều được gắn bảy loại hạt minh châu quí
báu…
Trong
cung, khắp nơi đều trang hoàng tráng lệ lại có hàng trăm
ngàn tháp, mỗi tháp lại được trang hoàng tráng lệ như cung
và cũng rộng lớn như bầu trời. Và tất cả những tháp
này, vô số không đếm được, không hề là chướng ngại
lẫn nhau, mỗi một đều giữ tính chất riêng của mình trong
sụ hòa hợp tuyệt đối với những cái kia; không có gì ngăn
cản một tháp này thâm nhập vào tháp kia, vừa cá thể vừa
toàn thể; đó là một tình trạng toàn hảo của sự trộn
lẫn và trật tự. Thiện Tài, người tầm đạo trẻ tuổi,
tự thấy mình trong tất cả các tháp cũng như mỗi tháp riêng
lẻ, trong đó tất cả đều chứa trong mỗi một và mỗi một
đều chứa đựng tất cả 15.
Tất
nhiên, trong đoạn này, cung điện là hình ảnh của vũ trụ
và sự thâm nhập lẫn nhau toàn hảo của các thành phần được
Đại thừa Phật giáo gọi là viên dung vô ngại. Kinh Hoa Nghiem
chỉ rõ sự viên dung này là mối lên hệ động cốt tủy,
nó không những xảy ra trong không gian mà cả trong thời gian.
Như đã nói trong các chương trước không gian và thời gian
cũng được xem là thâm nhập (viên dung) với nhau.
Kinh
nghiệm thực chứng của sự viên dung trong trạng thái giác
ngộ có thể được xem là linh ảnh huyền diệu của một
tình trạng Dung thông hoàn hảo, nơi đó tất cả hiện tượng
thế gian đều xen kẽ vào nhau một cách hòa hợp. Trong tình
trạng đó của ý thức, óc suy luận được chuyển hóa và
các lý giải nhân - quả không còn cần thiết, chúng được
thay thế bằng một chứng thực trực tiếp về sự liên hệ
lẫn nhau của sự vật và biến cố. Thế nên, khái niệm viên
dung của đạo Phật đi xa hơn hẳn bất cứ khoa học nào về
Dung thông. Cần nói thêm rằng, có nhiều mô hình về các hạt
hạ nguyên tử trong vật lý hiện đại, dựa trên giả thuyết
Dung thông, chúng cho thấy một sự tương đồng lớn lao với
Đại thừa Phật giáo.
Nếu
ý niệm Dung thông được phát biểu trong một khuôn khổ khoa
học, thì nó phải được giới hạn và xem như gần đúng
với tính gần đúng của nó bắt nguồn từ việc ta bỏ qua
các lực tương tác khác, chỉ quan tâm đến lực tương tác
mạnh.Vì các tương tác mạnh này lớn gấp hàng trăm lần
các tương tác điện từ và gấp nhiều lần hơn nữa so với
tương tác yếu cũng như trọng trường, sự tiếp cận gần
đúng đó có thể được xem là có lý. Vì vậy Dung thông khoa
học chỉ xử lý các tương tác mạnh của hạt, hay của hadron,
và vì thế nó thường được gọi là Dung thông hadron. Nó
được phát biểu trong khuôn khổ của thuyết ma trận S và
mục đích của nó là suy ra tất cả các tính chất của hadron
và tương tác của chúng dựa trên yêu cầu của sự tương
thích. Các qui luật cơ bản duy nhất được chấp nhận trong
nguyên lý ma trận S đã được nói trong chương trước, chúng
xuất phát từ cách quan sát và đo lường của chúng ta và
vì thế mà tạo nên khuôn khổ cần thiết của mọi khoa học,
đó là điều không ai tra vấn. Tất cả mọi tính chất khác
của ma trận S có thể tạm thời được xem là nguyên lý cơ
bản, nhưng ta hy vọng chúng sẽ tự biến thành hệ quả tất
yếu của quá trình tương thích, viên dung trong một lý thuyết
toàn bộ. Giả định rằng tất cả hạt hadron đều nằm trong
các họ được mô tả bởi dạng Reege (xem trang 324) có thể
thuộc loại này.
Trong
ngôn ngữ của thuyết ma trận S thì giả thuyết Dung thông
đề xuất rằng, ma trận S với toàn bộ trị số, tức là
chứa mọi tính chất của hadron, chỉ được xác định bởi
các nguyên lý chung, vì rằng chỉ có một ma trận S duy nhất
tương thích với cả ba nguyên lý đó. Thực tế là, nhà vật
lý chưa bao giờ tiến gần tới một mô hình toán học thỏa
ứng được cả ba nguyên lý chung đó. Nếu chỉ có một ma
trận S duy nhất đủ khả năng mô tả tất cả tính chất
và tương tác của hadron, như giả thiết của Dung thông tiên
đoán, thì bây giờ ta hiểu tại sao nhà vật lý không xây
dựng được một ma trận S tương thích, dù chỉ là cục bộ.
Lý do là thế giới hiện tượng quá phức tạp.
Sự
tương tác của các hạt hạ nguyên tử phức tạp đến mức
không ai chắc rằng liệu một ma trận S toàn bộ tương thích
đến một ngày nào đó được xây dựng nên, thế nhưng ta
có thể tin rằng một ngày nào đó được xây dựmg nên, thế
nên ta có thể tin rằng một loạt những mô hình từng phần
có thể thành công, trong phạm vi nhỏ. Mỗi một mô hình đó
có thể xem là đúng cho một phạm vi của vật lý hạt và
vì thế chứa vài thông số không thể giải thích được,
chính chúng tiêu biểu cho giới hạn của mô hình, những cũng
những thông số này lại có thể lý giải bằng các mô hình
kia. Nhờ vậy mà càng lúc càng nhiều hiện tượng, từng bậc,
được lý giải với một sự chính xác ngày càng tăng, bằng
những mô hình tương thích với nhau như những viên gạch,
trong đó số lượng các thông số không giải thích được
ngày càng giảm đi. Vì thế mà từ Dung thông không bao giờ
phù hợp cho một mô hình riêng lẻ, mà chỉ được áp dụng
cho một sự phối hợp của nhiều mô hình tương thích lẫn
nhau, không có mô hình nào trong số đó là cơ bản hơn cái
khác. Như Chew đã nói: “Nhà vật lý nào biết nhìn nhiều
mô hình riêng lẻ và có giá trị trong phạm vi của mình, mà
không thiên vị mô hình nào, người đó hiển nhiên là một
nhà Dung thông học.
Một
số những mô hình cục bộ thuộc loại này đã hiện hữu
và cho thấy chương trình dung thông sẽ được thực hiện
trong một tương lai không xa. Liên hệ đến hadron thì bài toán
lớn nhất của thuyết ma trận S và thuyết dung thông luôn
luôn lý giải cho được cấu trúc quark, nó đặc trưng cho
tương tác mạnh. Thời gian gần đây, thuyết Dung thông chưa
giải thích được sự bất thường rất lớn này và đó là
nguyên nhân chính tại sao Dung thông chưa được coi trọng trong
cộng đồng vật lý. Phần lớn nhà vật lý nghiêng về phía
thành lập một mô hình quark, nó cung cấp, nếu không lý giải
nhất quán, thì ít nhất cũng mô tả được hiện tượng.
Thế nhưng, trong sáu năm qua, tình hình đã đảo lộn. Nhiều
công trình quan sát cho phép suy ra phần lớn đặc trưng của
mô hình quark, mà không cần giả định có sự hiện hữu của
hạt quark. Những kết quả này đã tạo ra niềm hứng khởi
lớn lao trong giới lý thuyết gia của ma trận S và có lẽ
sẽ buộc cộng đồng vật lý phải đánh giá lại toàn bộ
thái độ của họ đối với phép Dung thông trong nền vật
lý hạ nguyên tử.
Hình
ảnh của hadron xuất hiện từ thuyết Dung thông thường được
gọi một cách gợi mở là mỗi một hạt chứa tất cả các
hạt kia. Tuy thế, không nhất thiết phải hình dung là mỗi
hadron chứa những hạt còn lại trong nghĩa cổ điển, tĩnh
tại.
Khi
nói cái này chứa cái kia, có nghĩa là hadron kéo cái kia trong
cái động và nghĩa xác suất của thuyết ma trận S, mỗi hadron
có khả năng ở trạng thái liên kết của một loạt những
hạt có thể tương tác với nhau để tạo thành hadron đó.
Trong nghĩa đó, tất cả hadron là những cấu trúc được hợp
thành, mà thành phần của chúng là hadron, và không có thành
phần nào là cơ bản hơn thành phần nào. Lực liên kết để
duy trì cấu trúc đó được hình thành bởi sự trao đổi
hạt, và những hạt được trao đổi đó lại chính là hadron.
Thế nên mỗi hadron cùng một lúc đóng ba vai trò: bản thân
nó là một cấu trúc được hợp thành, nó có thể là thành
phần của một hadron khác, và nó có thể được trao đổi
giữa các thành phần để thành một lực duy trì cấu trúc
lại với nhau. Khái niệm “crossing” (giao nhau) vì thế là
rất then chốt trong hình dung này. Mỗi hadron được duy trì
bởi lực do sự trao đổi với hadron khác trong kênh ngang, rồi
bản thân hadron (thứ hai) đó lại được duy trì bởi lực
mà hadron trước cũng tham gia. Thế nên, “mỗi hạt sinh ra
những hạt khác, những hạt vừa sinh, lại sinh lại hạt trước”.
Toàn bộ các hadron tự sinh ra mình theo cách này và tự kéo
mình lên, như kéo “ống giày” (bootstrap). Đó là một quá
trình vô cùng phức tạp của sự tự khẳng định, đó là
cách thể duy nhất để có thể tự hình thành. Nói cách khác
chỉ có một nhóm hadron duy nhất tự tương thích - đó là
nhóm tìm thấy trong thiên nhiên.
Trong
Dung thông hadron, tất cả các hạt đều do các hạt khác tạo
thành một cách động, và trong nghĩa này ta có thể nói chúng
chứa lẫn nhau. Trong Đại thừa Phật giáo, một quan niệm
rất giống như vậy cũng được dùng để nói về toàn bộ
vũ trụ. Tấm lưới vũ trụ bao gồm các viên dung vô ngại
được minh hoạ trong kinh Hoa Nghiêm bằng tấm lưới Đế Thích
Indra (Nhân-đà-la), một tấm lưới rộng lớn treo toàn các
hạt minh châu trên cung trời Đế Thích. Sau đây là những
dòng của Sir Charles Eliot:
Trên
cung trời Đế Thích, người ta nói có một tấm lưới chứa
toàn ngọc, được sắp đặt sao mà bạn chỉ cần nhìn một
viên, bạn thấy tất cả các viên khác phản chiếu vào đó.
Trong cách đó, mỗi sự vật trong thế gian không phải chỉ
là nó thôi, mà mang theo mỗi vật khác và thực tế là của
tất cả phần còn lại. “Trong mỗi hạt bụi là vô lượng
chư Phật".
Sự
tương đồng của hình ảnh này với hình ảnh của Hadron thật
là đáng kinh ngạc. Hình ảnh cung trời Đế Thích có thể
gọi ngay là mô hình đầu tiên của Dung thông, được các
nhà minh triết Phương Đông sáng tạo khoảng 2500 năm trước
khi vật lý hạt bắt đầu. Người Phật tử quả quyết rằng
khái niệm của viên dung vô ngại không thể nắm bắt được
bằng tư duy trừu tượng, mà bằng sự chứng thực của ý
thức giác ngộ trong trạng thái thiền định. Thế nên D.T.
Suzuki viết:
"Đức
Phật ( trong phẩm Hoa Nghiêm) không còn là người sống trong
thế giới của không gian và thời gian. Ý thức của ngài không
phải là ý thức thông thường được quy định bởi cảm
quan và suy luận… Đức Phật của Hoa Nghiêm sống trong thế
giới tâm thức với quy luật riêng".
Trong
vật lý hiện đại, tình huống cũng giống như thế. Ý niệm
rằng mỗi hạt chứa tất cả các hạt khác là không thể
tưởng tượng được trong không gian và thời gian. Nó mô tả
một thực tại, giống như thực tại của Phật, có qui luật
riêng. Trong trường hợp của Dung thông hadron, đó là qui luật
của thuyết lượng tử và thuyết tương đối, khái niệm
then chốt là các lực duy trì hạt với nhau chính là bản thân
các hạt đó được trao đổi trong kênh ngang. Khái niệm này
có thể biểu diễn bởi một ý nghĩa toán học chính xác,
nhưng hầu như không thấy được bằng hình ảnh. Đó là một
tính chất mang tính tương đối của Dung thông và vì ta không
thể có kinh nghiệm về không gian - thời gian bốn chiều, thật
khó mà tưởng tượng được tại sao một hạt riêng lẻ có
thể chứa tất cả những hạt khác. Tuy nhiên, đó chính là
quan điểm của Đại thừa:
Khi
một cái được đặt dối diện với Mọi cái khác, cái Một
sẽ được thấy tràn ngập khắp tất cả, đồng thời dung
chứa tất cả vào mình.
Ý
niệm về một hạt chứa tất cả hạt khác không phải chỉ
sinh ra trong đạo học phương Đông, mà còn có trong tư tưởng
đạo học phương Tây. Thí dụ sau đây cho thấy rõ rệt trong
những dòng nổi tiếng của William Blake:
Nhìn
thế giới trong một hạt cát
Và bầu trời trong cánh hoa rơi.
Giữ vô cùng trong lòng bàn tay,
Và vĩnh cửu trong một giờ ngắn ngủi.
Một
lần nữa, ở đây, một tầm nhìn huyền bí lại đưa đến
hình ảnh của Dung thông; khi nhà thơ thấy thế giới trong
một hạt cát thì nhà vật lý hiện đại thấy thế giới
trong một hadron.
Một
hình ảnh tương tự xuất hiện trong triết học của Leibniz,
người xem thế giới được cấu tạo bằng những phần tử
cơ bản mà ông gọi là “monads”, mỗi một phần tử đó
phản ánh toàn bộ vũ trụ. Điều này đưa ông đến một
quan điểm về vật chất, với những tương đồng Đại thừa
Phật giáo và với Dung thông hadron. Trong tác phẩm Monadology
(1714), Leibniz viết:
Mỗi
một phần tử của vật chất có thể được nhìn như một
mảnh vườn đầy hoa lá hay một hồ đầy cá. Thế nhưng mỗi
cành hoa lá, mỗi tứ chi con vật, mỗi giọt nước cốt của
chúng cũng là một mảnh vườn hay hồ nước như vậy.
Thật
thú vị thấy rằng những dòng trong Kinh Hoa Nghiêm viết trên
đây có thể ghi dấu ấn của ảnh hưởng Phật giáo lên Leibniz.
Joseph Needham đã chứng minh rằng Leibniz đã chịu ảnh hưởng
của tư tưởng và văn hóa Trung quốc nhờ những bản dịch
mà ông nhận được từ các tu sĩ Jesuit, và triết học của
ông rất có thể được cảm hứng bởi trường phái Tân khổng
giáo của Chu Hi, mà ông biết rõ. Trường phái này có một
gốc rễ trong Đại thừa Phật giáo, đặc biệt trong tông
Đại thừa Hoa Nghiêm. Thực tế là Needham nhắc lại ẩn dụ
tấm lưới ngọc của Đế Thích, khi nói rõ mối liên hệ
với các “phần tử cơ bản” của Leibniz.
Thế
nhưng, khi so sánh chi tiết quan niệm của Leibniz trong “tương
quan phản chiếu” giữa các phần tử cơ bản với ý niệm
viên dung trong Đại thừa, có lẽ ta thấy hai bên khác nhau
nhiều và phương thức của Phật giáo nhìn vật chất tới
gần hơn với tinh thần của vật lý hiện đại so với Leibniz.
Sự khác biệt chính giữa chủ trương “phần tư cơ bản”
với quan niệm của Phật giáo có lẽ “các phần tử cơ bản”
của Leibniz là những thể cơ bản, chúng được xem là thể
tính cuối cùng của vật chất. Leibniz bắt đầu Monadology
với những chữ: “Monad mà ta bàn đến ở đây chỉ là một
thể tính giản đơn, nó là thành phần của thứ khác; giản
đơn được hiểu là không có đơn vị nào nhỏ hơn nữa".
Ông viết tiếp: “và những Monad này là những nguyên tử
đích thực của thiên nhiên, và nói gọn lại, chúng là yếu
tố của mọi vật”. Quan điểm cơ bản này hoàn toàn ngược
với triết học Dung thông và vì vậy hoàn toàn khác với Đại
thừa Phật giáo, là người từ chối một đơn vị cơ bản
hay một thể tính cơ bản . Cách nhìn cơ bản của Leibniz cũng
được phản ảnh trong quan niệm về lực, mà ông xem là định
luật của mệnh lệnh thiêng liêng (divine decree) và khác hẳn
vật chất. Ông viết “lực và hoạt động không thể chỉ
là dạng của vật chất thụ động được”. Một lần nữa,
điều này ngược hẳn với quan niệm về vật lý hiện đại
của đạo học phương Đông.
Nói
về mối liên hệ thực sự giữa các monad với nhau, khác biệt
chính với hadron Dung thông có lẽ là monad không tương tác
lẫn nhau; chúng “không có cửa sổ”, như Leibniz nói, mà
chỉ phản chiếu lẫn nhau. Mặt khác, trong hadron Dung thông
cũng như trong Đại thừa, sự quan trọng chính là sự tương
tác hay viên dung của tất cả các hạt. Hơn thế nữa, quan
điểm của Dung thông và Đại thừa về vật chất đều là
cái nhì không gian - thời gian, chúng xem vật thể là biến
cố mà những tương tác giữa những biến cố đó chỉ có
thể hiểu được nếu người ta thừa nhận rằng cả không
gian - thời gian cũng tương tác viên dung với nhau.
Thuyết
Dung thông về hadron còn lâu mới hoàn chỉnh và tất cả những
khó khăn liên quan trong việc phát biểu nó vẫn còn đáng kể.
Tuy thế nhà vật lý bắt đầu mở rộng mức tìm hiểu về
tính tự tương thích, kể cả vượt qua sự mô tả về các
hạt tương tác mạnh. Một sự mở rộng như thế phải vượt
qua khuôn khổ của thuyết ma trận S hiện nay, là thuyết đặc
biệt chỉ dành để mô tả tương tác mạnh. Người ta phải
tìm ra một khuôn khổ tổng quát hơn và trong khuôn khổ mới
này, vài khái niệm hiện đang được chấp nhận mà không
giải thích, chúng phải được Dung thông hóa; tức là chúng
được suy diễn ra từ một sự tự tương thích tổng quát.
Theo Geoffrey Chew, những điều này có thể bao gồm khái niệm
của ta về không gian - thời gian vĩ mô và, có lẽ bao gồm
cả ý thức con người:
Nếu
đi tận cuối cùng của logic, thì giả thuyết Dung thông hàm
ý rằng sự hiện hữu của ý thức, cùng với những khía
cạnh khác của thiên nhiên, là cần thiết cho sự ăn khớp
toàn bộ của cái tổng thể.
Cách
nhìn này là sự hòa hợp toàn hảo với các quan niệm của
các truyền thống đạo học phương Đông, trong đó ý thức
luôn luôn được xem là phần bất khả phân của vũ trụ.
Trong
quan niệm phương Đông, con người, cũng như tất cả dạng
sinh học khác, là những thành phần của một sinh cơ tổng
thể không phân chia được. Con người được xem là sự minh
chứng sống động của mộ tư thức vũ trụ; trong ta, vũ trụ
lặp đi lặp lại lần nữa khả năng của nó sinh ra sắc hình
rồi qua đó mà ý thức lại chính mình.
Trong
vật lý hiện đại, vai trò của ý thức đã nổi lên trong
mối quan hệ với sự quan sát các hiện tượng nguyên tử.
Thuyết lượng tử đã chỉ rõ rằng những hiện tượng chỉ
được hiểu như một mắt xích của một chuỗi những tiến
trình, mà khâu cuối của chúng nằm nơi ý thức của con người
quan sát. Dùng những chữ của Eugene Wigner, “Không thể phát
biểu định luật (của thuyết lượng tử) trong một cách
hoàn toàn nhất quán nếu không dựa trên ý thức”. Sự phát
biểu thực từ hiện nay của thuyết lượng tử bởi các nhà
khoa học trong các công trình thì chưa dựa rõ ràng lên ý thức.
Tuy nhiên Wigner và các nhà vật lý khác cho rằng, sự bao gồm
trọn vẹn ý thức con người có thể là một khía cạnh chủ
yếu của những thuyết về vật chất trong tương lai.
Một
sự phát triển như thế sẽ mở ra nhiều khả năng hấp dẫn
cho một sự tác động qua lại giữa nhà vật lý và nhà đạo
học phương Đông. Sự hiểu biết về ý thức con người và
mối liên hệ của nó với phần còn lại của vũ trụ là
điểm khởi đầu của mọi thực chứng siêu hình. Nhà đạo
học phương Đông đã khám phá nhiều dạng của ý thức qua
bao thế kỷ nay và những kết luận mà họ đạt được thường
khác hẳn những ý niệm phương Tây. Nếu nhà vật lý thực
sự muốn gắn liền ý thức con người vào lĩnh vực nghiên
cứu của họ, thì sự tìm hiểu về các ý niệm phương Đông
có thể cung cấp nhiều quan niệm mới mẻ và gợi mở.
Thế
nên, sự mở rộng trong tương lai của Hadron - Dung thông, với
sự Dung thông hóa không gian và thời gian và có thể với ý
thức của con ngưòi, chúng có thể mở ra những khả năng
không hề biết trước, đi hẳn ra ngoài khuôn khổ qui ước
của khoa học:
Một
bước đi như thế trong tuơng lai sẽ là sâu sắc hơn bất
kỳ những gì liên hệ tới Hadron Dung thông; chúng ta sẽ buộc
phải đương đầu với khái niệm khó hiểu của sự quan sát
và, có thể, cả với ý thức. Thành thử, sự vật lộn hiện
nay với Hadron Dung thông có thể chỉ là mùi vị đầu của
một nỗ lực hoàn toàn mới mẻ của đầu óc con người,
một cái không những chỉ nằm ngoài vật lý mà thậm chí
còn không được gọi là “khoa học” nữa.
Thế
thì ý niệm Dung thông sẽ đưa ta về đâu? Tất nhiên, không
ai biết được cả, nhưng thật là đáng say mê khi suy tư về
đoạn cuối của nó. Người ta có thể tưởng tượng ra một
hệ thống lý thuyết trong tương lai bao trùm càng lúc càng
lớn các mức độ của hiện tượng thiên nhiên với độ
chính xác ngày càng cao; một hệ thống chứa đựng càng lúc
càng ít các tính chất không thể giải thích; suy ra được
càng lúc càng nhiều cấu trúc tự tương thích nhau của những
thành phần. Rồi tới một ngày, sẽ đạt tới mức mà trong
đó tính chất duy nhất không giải thích được trong hệ thống
lý thuyết chính là các yếu tố của khuôn khổ khoa học.
Qua khỏi mức này thì kết quả lý thuyết không còn được
diễn tả bằng lời, hay bằng khái niệm suy luận, và như
thế nó ra khỏi khuôn khổ khoa học. Thay vì một thuyết Dung
thông về thiên nhiên, nó sẽ biến thành một linh ảnh Dung
thông về thiên nhiên, vượt qua lĩnh vực của tư tưởng và
ngôn ngữ; dẫn ra khỏi khoa học và đưa vào thế giới của
bất khả tư nghì, nơi đó không thể nghĩ bàn được. Nhận
thức trong linh ảnh đó là toàn trí, nhưng không thể trao truyền
bằng lời: Đó sẽ là nhận thức mà Lão Tử nói tới, cách
đây hơn hai ngàn năm:
Người
biết không nói, Người nói không biết
(Tri
giả bất ngôn, Ngôn giả bất tri).