Chương
17
CÁC
MẪU HÌNH BIẾN DỊCH
Lý
giải tính đối xứng trong thế giới hạt bằng mô hình động,
tức là bằng cách mô tả sự tương tác giữa các hạt với
nhau, đó là một trong những thách thức chủ yếu của vật
lý ngày nay.
Cuối
cùng thì vấn đề đặt ra là làm sao cùng một lúc mà nối
kết cả thuyết lượng tử lẫn thuyết tương đối. Những
cấu trúc hạt dường như phản ánh tính lượng tử của hạt,
vì mẫu hình tương tự như thế đã xảy ra trong thế giới
nguyên tử rồi. Thế nhưng trong vật lý hạt, chúng không thể
được lý giải bằng mô hình sóng trong khuôn khổ thuyết
lượng tử, vì năng lượng tham gia vào đây quá cao nên thuyết
tương đối phải được áp dụng đến. Vì thế chỉ có một
lý thuyết lượng tử - tương đối cho hạt là có hy vọng
chuyên chở được tính đối xứng đã được quan sát.
Thuyết
trường lượng tử là mô hình đầu tiên của loại này. Nó
cho ta một sự mô tả xuất sắc về sự tương tác điện
từ giữa electron và photon, nhưng nó không phù hợp lắm để
mô tả loại tương tác mạnh. Khi các hạt của loại này ngày
càng được phát hiện, nhà vật lý sớm nhận ra rằng thật
khó lòng liên hệ mỗi một hạt đó với một truờng cơ bản,
và khi thế giới hạt cho thấy rằng nó là hiện thân của
tấm lưới dệt ngày càng phức tạp gồm toàn sự tương tác,
thì nhà vật lý thấy phải tìm những mô hình khác để biểu
diễn cho được thực tại động và luôn thay đổi này. Cái
cần thiết là một mô hình toán học đủ sức mô tả ở
dạng động một số lớn hình thái của cấu trúc hadron, đó
là sự chuyển hóa lẫn nhau liên tục của chúng từ hạt này
qua hạt khác, sự tương tác giữa chúng bằng cách hoán chuyển
hạt, sự hình thành các trạng thái liên kết của hai hay nhiều
hadron, và sự tự phân hủy để thành những liên hợp khác
của hạt. Tất cả những tiến trình này, có lúc được gọi
chung là phản ứng hạt, là tính chất chủ yếu của tương
tác mạnh và phải được lưu ý trong một mô hình lượng
tử tương đối của Hadron.
Khuôn
khổ xem ra phù hợp nhất để mô tả hadron và tương tác của
chúng được gọi là thuyết ma trận S. Cơ sở then chốt của
nó, ma trận S, nguyên được Heisenberg đề xuất năm 1943 và
được phát triển trong suốt hai thập kỷ qua, thành một cơ
cấu toán học phức tạp, có thể xem là thích hợp nhất để
mô tả tương tác mạnh. Ma trận S là tập hợp các xác suất
của tất cả phản ứng có thể có với hadron. Tên của nó
xuất phát từ điều mà toàn bộ phản ứng khả dĩ của hadron
được xếp trong trận đồ vô tận mà nhà toán học gọi
là ma trận. Chữ S đại diện cho tên nguyên là scattering matrix
(ma trận phân tán), nó nói lên các tiến trình va chạm - hay
phân tán, đó là phần đa số của phản ứng các hạt.
Tất
nhiên, trong thực tế không ai quan tâm đến toàn bộ tập hợp
của các tiến trình hadron, mà chỉ một ít phản ứng đặc
biệt. Thành thử, không bao giờ ta xem xét toàn bộ ma trận
S, mà chỉ một phần của nó, hay các yếu tố liên quan đến
tiến trình đang xét. Những yếu tố này được biểu diễn
tượng trưng bằng biểu đồ như hình sau đây, nói lên phản
ứng đơn giản nhất và cũng chung nhất của hạt.
Hai
hạt A và B chịu một lực va chạm để sinh ra hai hạt khác
C, D. Tiến trình phức tạp hơn có thể chứa nhiều hạt hơn
và được đại diện bởi các hình sau đây.
Cần
nhấn mạnh rằng biểu đồ ma trận S rất khác với biểu
đồ Feyman của lý thuyết trường. Nó không minh họa cơ chế
cơ lý chi tiết của phản ứng mà chỉ định những hạt đầu
tiên và cuối cùng. Thí dụ tiến trình cơ bản A+B = C+D có
thể diễn tả trong lý thyết trường như một sự hoán chuyển
của một hạt giả V (xem hình dưới), trong lúc trong thuyết
ma trận S, tiến trình đó chỉ được vẽ bằng một vòng
tròn mà không ghi rõ trong đó xảy ra những gì.
Hơn
nữa biểu đồ ma trận S không hề là biểu đồ về không
gian - thời gian, nó chỉ là sự biểu diễn tiêu biểu chung
của phản ứng hạt. Những phản ứng này cũng không được
giả định là xảy ra tại một điểm nhất định nào trong
không gian - thời gian, mà chỉ được mô tả với trị số
vận tốc (hay chính xác hơn, với trị số xung lượng) của
các hạt đến và các hạt đi.
Tất
nhiên ,điều đó có nghĩa là biểu đồ ma trận S không mang
nhiều lượng thông tin như biểu đồ của Feyman. Mặt khác,
thuyết ma trận S lại tránh được khó khăn xảy ra trong lý
thuyết trường. Các hiệu ứng liên hợp của thuyết lượng
tử và tương đối không cho phép ta xác định một cách chính
xác sự tương tác giữa các hạt cho sẵn. Vì nguyên lý bất
định, trạng thái bất định của vận tốc hạt sẽ tăng
trong khu vực tương tác được qui định rõ ràng hơn, và vì
thế trị số của động năng của nó cũng bất định hơn.
Tới lúc nào đó thì năng lượng này đủ lớn để sinh ra
hạt mới, theo thuyết tương đối, lúc đó người ta không
còn chắc chắn liệu mình đang xét hạt nguyên tử nữa hay
không. Vì thế, trong một thuyết bao gồm cả thuyết lượng
tử và thuyết tương đối, người ta không thể chỉ định
được vị trí của các hạt một cách rõ ràng. Nếu điều
này vẫn cứ xảy ra như trong lý thuyết trường, thì người
ta phải đối phó với những mâu thuẫn toán học, mà đó
chính là khó khăn then chốt của mọi lý thuyết trường lượng
tử. Thuyết ma trận S tránh khỏi khó khăn này bằng cách chỉ
định xung lượng của hạt và chấp nhận sự nhất định
về vị trí nơi đó phản ứng xảy ra.
Điều
quan trọng của thuyết ma trận S là nhấn mạnh đến biến
cố, chứ không quan tâm đến vật thể, không quan tâm chủ
yếu về hạt mà về phản ứng của chúng. Sự dời chuyển
đó từ hạt lên biến cố đều được cả hai thuyết lượng
tử và tương đối đòi hỏi. Một mặt, thuyết lượng tử
đã nói rõ một hạt cơ bản chỉ có thể được hiểu như
là dạng xuất hiện của sự tương tác giữa các tiến trình
đo lường khác nhau. Nó không phải là một vật thể độc
lập mà là một sự xảy ra, một biến cố, nó nối những
biến cố khác với nhau trong một cách thế đặc biệt. Hãy
nghe Heisenberg nói:
Trong
vật lý hiện đại, người ta không thể chia thế giới thành
những nhóm vật thể mà thành những nhóm của sự liên hệ…Điều
cần phân biệt là cách liên hệ, đây là yếu tố quan trọng
nhất trong một số hiện tượng…Thế nên thế giới hiện
ra như một tấm lưới dệt toàn những biến cố, trong đó
có những mối liên hệ của nhiều cách thế khác nhau, xúc
tác hay đan lẫn hay nối kết lẫn nhau và qua đó mà xác định
toàn bộ tấm lưới.
Mặt
khác, thuyết tương đối cũng buộc ta phải xem hạt trong tiến
trình của không gian - thời gian : là một cấu trúc bốn chiều,
phải xem là tiến trình hơn là vật thể. Giả thuyết ma trận
S vì thế nối kết cả hai quan điểm này. Dùng phép toán học
bốn chiều của thuyết tương đối, nó mô tả được tất
cả tính chất của hadron theo nghĩa phản ứng (hay nói chính
xác hơn theo nghĩa khả năng phản ứng) và nhờ thế mà tạo
dựng một gạch nối chặt chẽ giữa hạt và tiến trình.
Mỗi phản ứng của hạt đều nối hạt đó với những phản
ứng khác và như thế mà xây dựng một mạng lưới của những
quá trình.
Thí
dụ, một neutron n có thể tham gia vào hai phản ứng theo sau
nhau, bao gồm hai hạt khác nhau; phản ứng đầu tiên là một
proton và một p -, và phản ứng thứ hai là một S - và một
K +. Thế nên neutron đã nối kết hai phản ứng đó và hòa
nhập chúng trong một tiến trình lớn hơn.
Mỗi
một hạt đầu tiên hay cuối cùng của tiến trình vừa kể
lại có thể tham gia trong những phản ứng khác; thí dụ proton
có thể sinh ra từ một tương tác của một K+ và một l (xem
b). Sau đó K+ của hình a lại có thể xem là nối với một
K- và một po; p- với ba pionkhác nữa (xem hình trang 313).
Thế
là neutron nguyên thủy có thể được xem là một phần tử
của một mạng lưới biến cố, tất cả được mô tả trong
ma trận S. Mối tương quan trong mạng lưới đó không thể
xác được định một cách chắc chắn, chúng chỉ liên hệ
với xác suất. Mỗi phản ứng có thể xảy ra với một xác
suất nào đó, nó tùy thuộc vào năng lượng hiện diện và
vào những đặc trưng của phản ứng và những xác suất này
được nhiều yếu tố của ma trận S chỉ rõ.
Phép
tính này cho phép ta xác định cấu trúc của một hadron trong
một cách thế trước sau đều động. Thí dụ hạt neutron
trong một mạng lưới này có thể xem là trạng thái liên kết
của một proton và p, từ đó sinh ra; cũng là trạng thái liên
kết của p- và một K+, trong đó nó tự hủy. Cả hai trạng
thái liên kết này cũng như các cách khác đều có thể hình
thành một neutron và vì thế mà ta có thể nói chúng là phần
tử của một “cơ cấu” neutron. Cấu trúc của hadron vì
thế không nên hiểu là một sự xếp đặt rõ rệt của những
thành phần mà là được sinh ra bởi mọi hạt mà chúng có
thể tương tác với nhau để tạo thành hadron đó. Thế nên
proton có thể hiện hữu như là một cặp neutron - pion, cặp
kaon - lambda, vân vân. Proton lại có thể tự hủy để chuyển
thành những hạt khác khi có đầy đủ năng lượng. Những
khuynh hướng của một hadron có thể hiện hữu trong những
trạng thái khác nhau được biểu thị bằng xác suất xảy
ra của những phản ứng liên hệ, tất cả những thứ đó
có thể xem là các khía cạnh của cơ cấu nội tại của hadron.
Khi
xác định cấu trúc của một hadron bằng khuynh hướng của
nó đối với các phản ứng, lý thuyết ma trận S đã cho khái
niệm cơ cấu một nôi dung động chủ yếu. Đồng thời, nội
dung này của cấu trúc cũng phù hợp một cách toàn hảo với
các yếu tố thực nghiệm. Cứ mỗi khi hadron bị vỡ ra trong
các quá trình va chạm cao năng lượng, thì chúng tự phân hủy
thành những liên kết của hadron khác; thế nên có thể nói
là chúng có khả năng chứa những mối liên kết đó. Một
trong những hạt sinh ra từ va chạm đó, đến phiên mình lại
chịu nhiều phản ứng, xây dựng nên cả một mạng lưới
biến cố có thể chụp lại trong buồng đo. Hình bên dưới
và các hình trong chương 15 là những thí dụ của một loạt
những phản ứng đó:
Trong
một thí nghiệm, mặc dù một mạng lưới sinh ra do sự ngẫu
nhiên, thế nhưng nó cũng có cấu trúc theo qui luật nhất định.
Qui luật này chính là luật bảo toàn đã được nói tới;
các phản ứng chỉ có thể khả dĩ khi các trị số lượng
tử đã định được bảo toàn. Trước hết, tổng số năng
lượng phải được bảo toàn trong mỗi phản ứng. Điều
này có nghĩa là mỗi nhóm hạt nhất định chỉ có thể sinh
ra từ một phản ứng nếu năng lượng tác động vào đủ
cao để tạo ra khối lượng đòi hỏi. Hơn thế nữa, nhóm
hạt sinh ra phải mang đúng tổng trị số lượng tử đã được
mang lại trong phản ứng với các hạt ban đầu. Thí dụ, một
proton và một p- mang một điện tích tổng thể bằng không,
có thể vỡ ra trong va chạm và sinh ra một neutron và một po
, chúng không thể sinh ra neutron và một p+ vì cặp sau
này sẽ có điện tích là +1.
Thế
nên, phản ứng hadron đại diện một dòng chảy năng lượng,
trong đó hạt được hình thành và phân hủy, nhưng năng lượng
hầu như được chảy trong một kênh có đặc trưng là những
trị số lượng tử được bảo toàn trong tương tác mạnh.
Trong thuyết ma trận S, khái niệm kênh phản ứng là cơ
bản hơn khái niệm hạt. Khái niệm đó được định nghĩa
là một nhóm trị số lượng tử, nó có thể phù hợp với
một số khác nhau hadron va có khi chỉ cho một hadron duy nhất.
Nhóm hadron nào sẽ chảy xuyên qua kênh đó, đó là vấn đề
của xác suất, nhưng chủ yếu nó tùy thuộc vào năng lượng
dành cho tiến trình. Thí dụ hình trang sau chỉ sự tương tác
giữa một proton và một p- trong đó một neutron được sinh
ra ở đoạn giữa. Thế là kênh phản ứng được xây dựng
nên trước hết bằng hai hadron, sau bằng một hadron duy nhất
và cuối cùng một cặp hadron.
Nếu
có nhiều năng lượng hơn thì kênh đó có thể được làm
thành từ một cặp l - K0, một cặp S- - K+ và từ những liên
hợp khác.
Khái
niệm về những kênh phản ứng lại càng phù hợp hơn để
làm việc với những quá trình cộng hưởng, đó là những
hạt hadron sống cực ngắn, chúng là đặc trưng của tất
cả mọi tương tác mạnh.
Chúng
sống ngắn đến mức các nhà vật lý mới đầu ngại xem
chúng là những hạt và ngày nay việc lý giải tính chất của
chúng vẫn là một trong những trách nhiệm chính của ngành
vật lý thực nghiệm cao năng lượng. Cộng hưởng xảy ra
trong các cuộc va chạm hadron và tự phân hủy hầu như ngay
sau khi chúng sinh ra. Chúng không thể được thấy trong buồng
đo, nhưng chúng có thể được phát hiện vì một tính chất
rất đặc biệt xác suất phản ứng. Xác suất để cho hai
hadron đang di động phản ứng được với nhau - tức là tương
tác lên nhau - tuỳ thuộc vào năng lượng chứa sẵn trong sự
va chạm. nếu trị số năng lượng này biến đổi thì xác
suất cũng thay đổi theo; năng lượng tăng thì xác suất có
thể tăng hay giảm, tùy theo chi tiết của phản ứng. Tuy thế,
người ta quan sát rằng tại một trị số nhất định của
năng lượng thì xác suất phản ứng gia tăng rõ rệt, một
phản ứng dễ xảy ra tại trị số này hơn bất kỳ tại
trị số năng lượng khác. Sự tăng vọt này của xác suất
liên hệ với sự hình thành của một đời sống ngắn tạm
bợ của hadron với một khối lượng tương tự cuả năng
lượng tại nơi tăng vọt xác suất.
Lý
do mà những giai đoạn ngắn ngủi này của hadron được gọi
tên là resonance (cộng hưởng) xuất phát từ sự tương đồng
với hiện tượng cộng hưởng trong sự dao động. Thí dụ
trong âm thanh, không khí trong một lỗ trống thường dội lại
một cách yếu ớt với âm thanh đến từ bên ngoài, nhưng
nó sẽ bắt đầu cộng hưởng hay doa động mạnh mẽ khi sóng
âm thanh đạt đến một tần số nhất định được gọi
là tần số cộng hưởng. Kênh của phản ứng hadron cũng có
thể so sánh như một lỗ trống cộng hưởng, vì năng lượng
của hạt hadron đang di động liên quan đến tần số của
sóng xác suất liên hệ. Khi năng lượng này, hay tần số,
đạt tới một trị số nhất định thì kênh này bắt đầu
cộng hưởng; sự dao động của sóng xác suất bỗng nhiên
trở nên mãnh liệt và sinh ra sự tăng vọt trong xác suất
phản ứng. Phần lớn kênh phản ứng đều có vài năng lượng
cộng hưởng, mỗi trị số của chúng liên hệ với khối
lượng của một hadron tạm bợ sống ngắn ngủi, chúng sẽ
hình thành khi năng lượng của những hạt đang va chạm đó
đạt tới trị số cộng hưởng.
Trong
khuôn khổ của thuyết ma trận S, vấn đề liệu ta có thể
gọi những cộng hưởng là hạt hay không, không được đặt
ra. Tất cả mọi hạt đều được xem là giai đoạn chuyển
tiếp cả trong một tấm lưới của phản ứng, và việc các
resonance tồn tại rất ngắn so với các hadron khác không hề
làm cho chúng có sự khác biệt căn bản với các hạt khác.
Thực tế là từ resonance (cộng hưởng) là một từ rất thích
hợp. Nó được áp dụng cho cả hai trường hợp, cho kênh
phản ứng và cho hadron được sinh ra trong hiện tượng này,
nên nó chỉ rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa hạt và phản
ứng. Một resonance là một hạt, không phải là một vật thể.
Tốt hơn ta gọi nó là một biến cố, một sự việc xảy
ra.
Sự
mô tả này của hadron trong nền vật lý hạt nhắc ta lại
những lời của D.T.Suzuki nói cuối chương 13: “ Phật tử
xem vật thể là một tiến trình chứ không phải là một vật
hay một chất”. Điều mà Phật tử đã nhận ra bằng kinh
nghiệm đạo học của họ về thế giới tự nhiên nay đã
được phát hiện lại bằng thực nghiệm và bằng lý thuyết
toán học của khoa học hiện đại.
Nhằm
mô tả tất cả hadron trong giai đoạn chuyển tiếp của chúng
trong một hệ thống lưới đầy phản ứng, ta phải quan tâm
đúng mức đến các lực mà xuyên qua đó chúng tương tác
với nhau. Đó là những lực của tương tác mạnh, chúng tách
- hay tung ra xa - các hadron đang lao vùn vụt, giải thể chúng
rồi lại xếp chúng theo những khuôn mẫu khác nhau, rồi lại
kết chúng lại để đạt tới trạng thái liên kết chuyển
tiếp. Trong thuyết ma trận S cũng như trong lý thuyết trường,
lực tương tác có liên quan tới hạt, thế nhưng khái niệm
của hạt giả không được sử dụng. Thay vào đó mối liên
hệ giữa lực và hạt được đặt trên tính chất đặc biệt
của ma trận S, được gọi là “crossing” (tác động giao
nhau). Nhằm minh họa tính chất này, hãy xem hình trang 320 về
tương tác giữa một proton và một p-.
Nếu
được quay 90 và ta giữ qui ước như cũ (xem chương 12),
nhưng mũi tên hướng xuống chỉ các đối hạt, thì biểu
đồ mới sẽ biểu diễn một phản ứng giữa một đối hạt
antiproton (`p) và một proton (p), t? đ? sinh ra một cặp pion,
p+ là đối hạt của p- trong phản ứng nguyên thủy.
Bây
giờ, tính chất chất của ma trận S dựa trên thực tế là
hai tiến trình kể trên được mô tả chỉ bằng một yếu
tố của ma trận S. Điều đó có nghĩa là hai biểu đồ trên
chỉ đại diện hai khía cạnh, hay hai kênh của một phản
ứng duy nhất. Nhà vật lý nay đã quen đổi từ kênh này qua
kênh kia trong bài toán của mình, và thay vì quay biểu đồ,
họ chỉ việc đọc từ dưới lên trên hay từ trái qua phải
và gọi chúng là kênh trục dọc hay kênh ngang. Thế nên phản
ứng trong thí dụ chúng ta được đọc trong kên dọc là p
+ p - đ p + p+, trong kên ngang là `p + p đ p- + p+
Mối
liên hệ giữa lực và hạt được thiết lập thông qua giai
đoạn chuyển tiếp trong hai kênh. Trong kênh dọc của thí dụ
này, proton và p - có thể tạo nên một neutron chuyển tiếp,
trong lúc đó, ở kênh ngang một pion trung gian p 0 có thể xuất
hiện.
Pion
trung gian trong giai đoạn chuyển tiếp của kênh ngang này có
thể được xem là biểu trưng của lực, lực đó tác động
trong kênh dọc, nối proton và p - với nhau để tạo thành
neutron. Thế nên hai kênh này đều được cần đến để liên
kết lực và hạt với nhau, cái xuất hiện dưới dạng lực
ở một kênh này lại là biểu trưng cho hạt chuyển tiếp
ở một kênh kia.
Mặc
dù tương đối dễ dàng khi đổi từ kênh này qua kênh kia
về mặt toán học, nhưng lại hơi khó - nếu không muốn nói
là không thể - có một hình ảnh trực tiếp về tình trạng
này. Điều đó là vì crossing (tác động giao nhau) chủ yếu
là một phương thức xuất phát từ hệ bốn chiều của thuyết
tương đối và vì thế mà rất khó có hình ảnh về nó. Một
tình trạng tương tự xảy ra trong lý thuyết trường là nơi
mà lực tương tác được xem là sự hoán chuyển các hạt
giả. Thực tế là, biểu đồ trình bày các pion chuyển tiếp
trong kênh ngang nhắc ta rất nhiều đến các biểu đồ Feyman
cũng vẽ nên sự hoán chuyển hạt và ta có thể nói đơn giản,
rằng proton và p - đã tương tác “thông qua một hoán chuyển
một p 0”. Những chữ này được nhà vật lý sử dụng, nhưng
họ không mô tả hết tình trạng này. Một sự mô tả hợp
lý chỉ có thể có được bằng cách trình bày kênh dọc và
kênh ngang, tức là phải chịu một khái niệm trừu tượng
mà phần lớn chúng ta không tưởng tượng ra được.
Mặc
dù có hình thái khác nhau, nội dung chung của một lực tương
tác trong thuyết ma trận S rất giống với lực trong lý thuyết
trường. Trong cả hai lý thuyết thì lực biểu trưng cho hạt
mà khối lượng của hạt nói lên sức mạnh của lực (xem
chương 15) và trong cả hai thuyết chúng được nhận ra là
tính chất nội tại của hạt đang tương tác; chúng phản
ánh cấu trúc của đám mây hạt giả trong lý thuyết trường
và trong thuyết ma trận S thì chúng được sinh ra ở trạng
thái liên kết của hạt tương tác. Sự song hành với quan
điểm phương Đông về lực đã được bàn đến, sự song
hành này được áp dụng cho cả hai thuyết. Hơn thế nữa,
quan điểm về lực tương tác đưa đến một kết luận quan
trọng rằng tất cả các hạt được biết phải có một cấu
trúc nội tại nào đó, vì chỉ như thế mà bị phát hiện.
Hãy nghe những lời của Geoffrey Chew, một trong những kiến
trúc sư chính của thuyết ma trận S:
Một
hạt cơ bản đích thực - tức là không hề còn có một cơ
cấu nội tại nào cả - thì không thể là đối tượng của
một lực nào, lực đó cho phép chúng ta phát hiện sự hiện
hữu của nó. Chỉ duy việc biết đến sự hiện hữu của
một hạt là đã nói được rằng hạt đó phải có một cơ
cấu nội tại!.
Một
ưu điểm đặc biệt của dạng ma trận S là nó có khả năng
mô tả sự hoán chuyển của toàn bộ cả họ hadron. Như đã
nói trong chương trước, hầu như tất cả hadron đều nằm
trong những chuỗi mà các phần tử của chúng có những tính
chất đồng nhất với nhau, chỉ trừ khối lượng và spin
của chúng. Có một mô hình được Tullion Reege đề xuất đầu
tiên, nó giúp ta xem chuỗi này chỉ là một hạt hadron đơn
nhưng lại hiện hữu ở những trạng thái kích thích khác
nhau. Trong những năm gần đây, người ta đã đưa mô hình
Reege vào trong khuôn khổ ma trận S và được xem là bước
đầu tiến tới một lý giải động cho cấu trúc hạt.
Khuôn
khổ của ma trận S giờ đây đã đủ khả năng mô tả cấu
trúc của hadron, các lực tương tác giữa chúng, và một số
cấu trúc của chúng được xem là một phần không thể tách
rời của một mạng lưới đầy những phản ứng, trong một
cách nhìn động. Thách thức chính yếu đặt ra cho thuyết
ma trận S là sử dụng cách mô tả động này mà lý giải
được tính đối xứng, là tính chất đã dẫn đến các cấu
trúc hadron và luật bảo toàn đã nói trong chương trước.
Trong thuyết như thế, tính chất đối xứng của hadron sẽ
phản ánh lại trong cơ cấu toán học của ma trận S dưới
dạng là ma trận đó chỉ chứa những yếu tố liên quan đến
những phản ứng mà luật bảo toàn cho phép. Các luật bảo
toàn này sẽ không còn có tính chất thực nghiệm nữa mà
là hệ quả của cơ cấu ma trận S và đó là một hệ quả
của tính chất động của hadron.
Để
đạt được mục đích đầy tham vọng này, nhà vật lý phải
giả định nhiều nguyên lý chung, nhằm hạn chế bớt các
khả năng xây dựng yếu tố của ma trận S và nhờ đó mà
cho ma trận S một cấu trúc xác định. Tới nay thì có ba nguyên
lý chung đã được hình thành.
Nguyên
lý chung thứ nhất bắt nguồn từ thuyết tương đối và với
kinh nghiệm thuộc về thế giới vĩ mô không gian - thời gian.
Nguyên lý đó nói rằng xác suất phản ứng (tức là các yếu
tố của ma trận S) phải độc lập với sự xếp đặt thiết
bị thí nghiệm trong không gian - thời gian, độc lập với
hướng của chúng trong không gian, và độc lập với trạng
thái di chuyển của người quan sát. Như đã nói trong chương
trước, sự độc lập của phản ứng hạt đối với chiều
hướng cũng như đối với sự xếp đặt trong không gian -
thời gian đã sinh ra luật bảo toàn về độ quay, xung lượng
và năng lượng chứa trong phản ứng. Những đối xứng này
là then chốt trong công trình khoa học của chúng ta. Nếu kết
quả các thí nghiệm mà thay đổi tùy theo không gian và thời
gian thực hiện thì không thể có khoa học dưới hình thức
như hiện nay. Sau hết, đòi hỏi cuối là kết quả thí nghiệm
không được tùy thuộc nơi trạng thái vận động của người
quan sát, đó là nguyên lý tương đối, là cơ sở của thuyết
tương đối.
Nguyên
lý chung thứ hai được đề xuất từ thuyết lượng tử.
Nó cho rằng, kết quả của một phản ứng hạt chỉ có thể
tiên đoán bằng xác suất, và hơn thế nữa, tổng số xác
suất của tất cả mọi khả năng, kể cả khả năng không
có sự tương tác nào giữa các hạt, tổng số đó phải bằng
một. Nói cách khác, chúng ta chắc chắn một điều rằng,
các hạt hoặc sẽ phản ứng với nhau, hoặc không phản ứng
với nhau. Câu nói nghe qua tầm thường này thật ra là một
nguyên lý đầy uy lực, mang tên Unitarity (đơn nhất), nó là
tác nhân hạn chế một cách nghiêm khắc những khả năng hình
thành các yếu tố của ma trận S.
Nguyên
lý chung thứ ba và cuối cùng là liên hệ đến khái niệm
nguyên nhân kết quả và được gọi là nguyên lý nhân quả.
Nó chỉ định rằng, năng lượng và xung lượng chỉ được
chuyển hóa trong không gian thông qua hạt, rằng sự chuyển
dịch này xảy ra trong cách mà một hạt có thể được hình
thành trong một phản ứng và phân hủy trong một phản ứng
khác, nếu phản ứng sau xảy ra sau phản ứng đầu. Biểu
thức toán học của nguyên lý nhân quả làm cho ma trận S phụ
thuộc một cách liên tục vào năng lượng và xung lượng của
hạt tham gia trong phản ứng, chỉ trừ khi các trị số đó
(của năng lượng và xung lượng) đạt đến khả năng hình
thành hạt mới. Tại những trị số này thì cấu trúc toán
học của S thay đổi thình lình; nó tạo nên những điểm
mà nhà toán học gọi là Singularity (điểm kỳ dị). Mỗi kênh
phản ứng đều chứa nhiều điểm kỳ dị, đó chính là nơi
có nhiều trị số của năng lượng và xung lượng trong kênh,
nơi đó hạt mới có thể hình thành. Những năng lượng cộng
hưởng đã nói trên là thí dụ cho những trị số này.
Việc
ma trận S có những điểm kỳ dị là một hệ quả của nguyên
lý nhân quả, nhưng nó không xác định được vị trí của
các điểm kỳ dị. Trị số của năng lượng xung lượng,
nơi đó hạt được hình thành, là khác nhau trong các kênh
khác nhau và phụ thuộc nơi khối lượng và các tính chất
khác của hạt được hình thành. Thế nên vị trí các điểm
kỳ dị phản ánh tính chất của những hạt đó và vì tất
cả hadron đều có thể sinh ra trong các phản ứng hạt, các
điểm kỳ dị trong ma trận S phản ánh lại tất cả cấu
trúc và tính đối xứng của hadron.
Thành
thử, mục đích trung tâm của thuyết ma trận S là suy ra một
cơ cấu kỳ dị của ma trận S từ những nguyên lý chung. Tới
nay người ta chưa thiết lập được mô hình toán học thỏa
ứng được tất cả ba nguyên lý đó, và rất có thể là
ba nguyên lý đó đủ để xác định một cách rõ rệt tất
cả tính chất của ma trận S - tức là tất cả tính chất
của hadron (giả định này được gọi là giả thiết Boostrap
sẽ được bàn tới trong chương 18). Nếu đúng như vậy thì
hệ quả triết học của một lý thuyết như thế sẽ rất
sâu sắc. Tất cả ba nguyên lý chung nói trên đều liên hệ
với phương pháp của ta về việc quan sát và đo lường, tức
là liên hệ với khuôn khổ của khoa học. Nếu chúng đầy
đủ để xác định cơ cấu của hadron thì có nghĩa là cơ
cấu cơ bản của thế giới vật lý cuối cùng đã được
xác định bằng cách chúng ta nhìn thế giới đó như thế
nào. Mỗi một sự thay đổi cơ bản của ta trong cách quan
sát sẽ dẫn đến sự thay đổi trong các nguyên lý chung đó
và nó lại đưa đến sự thay đổi trong cơ cấu ma trận S
và như thế sẽ dẫn đến một cơ cấu khác của hadron.
Một
lý thuyết như thế về các hạt hạ nguyên tử phản ánh việc
không thể tách rời nhà quan sát khoa học với hiện tượng
bị quan sát, điều này đã được bàn tới trong thuyết lượng
tử, nhưng ở đây nói một cách khẳng định nhất. Cuối
cùng, nó dẫn đến điều là, cơ cấu và hiện tượng mà
ta quan sát trong thiên nhiên không gì khác hơn chính là biểu
hiện của tư duy đo lường và phân loại của chúng ta.
Đây
chính là một trong những pháp môn cơ bản nhất của triết
học phương Đông. Nền đạo học phương Đông luôn luôn chỉ
cho ta thấy rằng, sự vật và biến cố mà ta cảm nhận chính
là sự sáng tạo của tâm, chúng xuất phát từ một dạng
ý thức đặc biệt rồi lại tan đi một khi tâm đó biến
đổi. Ấn Độ giáo quả quyết rằng tất cả sắc thể và
cấu trúc quanh ta đều được hình thành bởi một tâm thức
đang chịu sự tác động của ảo giác và khuynh hướng cho
chúng một tầm quan trọng sâu xa chính là ảo giác căn bản
của con người. Phật giáo gọi sự ảo giác này là vô minh
và xem đó là một dạng của tâm ô nhiễm. Hãy nghe lời của
Mã Minh:
Khi
không nhận rõ sự nhất thể (Chân Như) thì vô minh và phân
biệt liền hiện, và tất cả mọi dạng của tâm ô nhiễm
liền phát…Tất cả mọi hiện tượng trong thế gian đều
do vô minh vọng tâm của chúng sinh mà tồn tại, nên tất cả
các pháp đều không có thật thể.
Đó
cũng là quan niệm luôn luôn được nêu lên của Duy Thức tông
Phật giáo, trong đó mọi sắc thể mà ta cảm nhận chỉ là
thức; là phản chiếu, hay bóng dáng của tâm:
Vô
số sự vật xuất phát từ tâm, do trí phân biệt qui định…Người
ta xem sự vật này là thế gian bên ngoài… Mọi điều xuất
hiện bên ngoài không hề hiện hữu thật có, đó chỉ là
tâm hiện ra muôn ngàn sai khác; thành thân thành vật sở
hữu và mọi thứ - tất cả những thứ đó, ta nói, không
gì khác hơn là thức.
Trong
vật lý hạt, việc suy ra được một cấu trúc hadron từ những
nguyên lý chung của thuyết ma trận S là một bài toán lâu
dài và khó khăn và đến nay cũng mới chỉ đi được từng
bước nhỏ cho thành tựu đó.
Cũng
không phải vì thế mà ta coi nhẹ khả năng một ngày kia, tính
chất của các hạt hạ nguyên tử sẽ được suy ra từ những
nguyên lý chung, tức là chúng sẽ được xem là phụ thuộc
vào khuôn khổ khoa học của chúng ta. Thật là thú vị khi
cho rằng nó có thể trở thành tính chất chung của nền vật
lý hạt, nó sẽ xuất hiện trong các lý thuyết tương lai nói
về tương tác điện từ, tương tác yếu và tương tác trọng
trường. Nếu điều này được xác định là đúng thì vật
lý hiện đại phải đi con đường hướng tới sự nhất trí
với minh triết phương Đông cho rằng, thế giới lý tính chẳng
qua là ảo giác, chỉ là thức.
Thuyết
ma trận S đến rất gần với tư tưởng phương Đông không
phải chỉ trong kết luận cuối cùng của nó, mà cũng trong
quan điểm chung về sự vật. Nó mô tả thế giới của những
hạt hạ nguyên tử như một mạng lưới động gồm toàn biến
cố và nhấn mạnh đến sự thay đổi và chuyển hóa hơn là
đến cấu trúc cơ bản hay những đơn vị nào đó. Tại phương
Đông, sự nhấn mạnh này đặc biệt rõ nét trong tư tưởng
Phật giáo, trong đó mọi vật được đều xem là động, vô
thường và chỉ là ảo giác. Thế nên S.Radhakrishnan viết :
Sao
ta lại nghĩ về sự vật, thay vì nghĩ về tiến trình trong
dòng chảy tuyệt đối này được? Bằng cách nhắm mắt lại
trước những biến cố nối tiếp lẫn nhau. Đó là một thái
độ giả tạo nhằm cắt dòng chảy của sự biến đổi ra
từng miếng và gọi chúng là sự vật… Khi đã biết sự
thật của vật thể, ta sẽ thấy rằng thật vô lý khi tôn
thờ các sản phẩm cô lập của dòng chảy không ngừng nghỉ
của sự biến hóa, làm như chúng là vĩnh cửu và đích thực.
Đời sống không phải là vật thể hay là dạng của vật
thể mà là một sự vận động liên tục hay chuyển hóa.
Cả
hai, nền vật lý hiện đại và đạo học phương Đông đều
nhìn nhận tất cả mọi hiện tượng của thế giới đầy
đổi thay và biến hóa này đều tương quan lẫn nhau trong nguyên
lý động. Ấn Độ giáo và Phật giáo xem sự tương quan này
là qui luật vũ trụ, luật của Nghiệp, nhìn chung họ không
mấy quan tâm đến cấu trúc đặc trưng nào của mạng lưới
hiện tượng vĩ mô. Mặt khác, triết lý Trung Quốc cũng nhấn
mạnh đến tính vận động và thay đổi, đã đề ra một
khái niệm của cấu trúc vận hành, chúng liên tục sinh thành
và lại hoại diệt trong dòng chảy vũ trụ, của Đạo. Trong
Kinh Dịch (xem chương 8), những cấu trúc này được xếp đặt
trong một hệ thống của mẫu hình tượng trưng, được gọi
là Bát quái.
Nguyên
lý cơ bản của cấu trúc trong Kinh Dịch là sự tương tác
giữa hai cực Âm Dương. Dương được biểu thị bằng một
vạch liền (-), âm bằng một vạch đứt (- -) và toàn bộ
hệ thống bát quái được xây dựng trên hai vạch này. Khi
xếp chúng trong từng cặp thì ta có bốn loại hình sau đây
(ảnh trong sách) và nếu thêm một vạch thứ ba nữa thì ta
có tám “quẻ” như sau: (ảnh minh hoạ trong sách).
Trong
thời cổ đại Trung quốc thì tam quẻ được xem là đại
diện cho tất cả mọi tình hình trong vũ trụ hay nhân sinh.
Chúng được mang những tên phản ánh những tính chất cơ
bản đó, như Càn (tính mạnh),, Khôn (tính thuận), Chấn (tính
động)…và chúng cũng được liên hệ với nhiều hình tượng
xuất phát từ thiên nhiên hay từ đời sống xã hội. Thí
dụ chúng tượng trưng cho trời (Càn), đất (Khôn), tiếng
sấm (Chấn), nước (Khảm)… cũng như trong gia đình gồm có
cha (Càn), mẹ (Khôn), ba con trai (Cấn, Khảm, Chấn), ba con gái
(Đoài, Ly, Tốn). Hơn thế nữa chúng liên hệ với phương
hướng trời đất và bốn mùa trong năm và được xếp như
sau: (hình trong sách).
Trong
cách xếp đặt này, tám quẻ được xếp quanh một vòng trong
trong trật tự tự nhiên, trong đó chúng đã được hình thành,
bắt đầu từ đỉnh (là nơi người Trung Quốc luôn luôn xem
là hướng nam) và sau đó đặt bốn quẻ đầu lên phía bên
trái vòng tròn, rồi bốn quẻ sau phía bên phải. Cách xếp
đặt này cho thấy một mức độ đối xứng cao, các quẻ
đối diện trên vòng tròn có sự hoán chuyển của hai vạch
âm dương.
Nhằm
tăng thêm số lượng khả năng phối hợp, tám quẻ lại được
liên kết với nhau từng cặp bằng cách chồng lên lẫn nhau.
Theo cách này sáu mươi bốn quẻ được sinh ra, mỗi quẻ gồm
sáu vạch liền hay đứt. Những quẻ này cũng được xếp
trong những cấu trúc khác nhau, trong đó thì hai cách xếp đặt
dưới đây là phổ biến nhất; đó là một hình vuông với
tám quẻ trong mỗi cạnh, hay một hình tròn cho thấy tính đối
xứng như tám quẻ bát quái nói trên.
Sáu
mươi bốn quẻ là những mẫu hình nguyên thủy vũ trụ, trên
đó người ta sử dụng Kinh Dịch như một cuốn sách bói toán.
Về
ý nghĩa của mỗi quẻ, người ta lấy hai quẻ nhỏ làm cơ
sở để tính toán. Thí dụ, khi quẻ Chấn (vận động) nằm
trên quẻ Khôn (tính thuận) thì được hiểu là vận động
gặp sự thuận hòa và sinh ra quẻ Dự, tượng trưng sự hòa
vui.
Quẻ
Tấn cho ta một thí dụ khác, gồm có quẻ Ly phía trên, quẻ
Khôn phía dưới được diễn tả là mặt trời mọc ở trên
đất, dấu hiệu của Tấn, “sáng tỏ thịnh lớn”.
Trong
Kinh Dịch, các quẻ ba vạch hay sáu vạch đại diện cho cấu
trúc của Đạo, chúng được sinh ra thông qua sự tương tác
động của âm - dương, chúng được phản ánh trong mọi tình
huống của vũ trụ và con người. Tuy thế những tình huống
này không được xem là tĩnh, mà là một giai đoạn trong dòng
chảy liên tục và biến động. Đó là tư tưởng cơ bản
của Kinh Dịch. Tất cả mọi sự vật và tình huống trong
thế giới đều đang thay đổi biến hóa, các biểu tượng
của chúng là các quẻ cũng thế. Chúng đang vận động liên
tục; cái này biến hóa thành cái kia, vạch liền bị kéo dãn
ra và vỡ thành hai vạch đứt, vạch đứt tiến lại gần
nhau và kết dính với nhau.
Vì
nội dung của các cấu trúc động, được hình thành do thay
đổi và biến hóa, trong tư tưởng phương Đông, Kinh Dịch
có lẽ là sự tương đồng gần nhất với thuyết ma trận
S. Trong cả hai hệ thống, người ta nhấn mạnh tính chất
tiến trình hơn tính chất vật thể. Trong thuyết ma trận S,
tiến trình này là phản ứng hạt lý giải mọi hiện tượng
thế giới hadron. Trong Kinh Dịch, tiến trình cơ bản là biến
dịch và được xem là then chốt để hiểu mọi hiện tượng
thiên nhiên:
Biến
dịch là điều làm thánh nhân đạt tới mọi điều sâu thẳm
và nắm được hạt nhân của mọi sự.
Những
biến dịch này không phải được xem là qui luật cơ bản
được áp đặt lên thế giới vật lý, mà đúng hơn - dùng
chữ của Hellmut Wihelm - là “một khuynh hướng nội tại,
dựa trên đó mà sự phát triển xuất hiện một cách tự
nhiên và hồn nhiên”. Điều đó cũng có thể nói cho sự
thay đổi trong thế giới hạt. Cũng thế, chúng phản ánh khuynh
hướng nội tại của hạt, chúng được diễn tả trong thuyết
ma trận S bằng những xác suất phản ứng.
Những
thay đổi trong thế giới của hadron cho phép xuất hiện cấu
trúc và mẫu hình đối xứng, chúng được biểu hiện bằng
các kênh phản ứng. Cấu trúc cũng như tính đối xứng không
nên được xem là tính chất cơ bản của hadron, mà cần xem
chúng là hệ quả của tính chất động của hạt, đó là
hệ quả của khuynh hướng sẵn sàng thay đổi và biến hóa
của chúng.
Trong
Kinh Dịch cũng thế, chính sự biến hóa sinh ra cấu trúc, sinh
ra các quẻ. Như những kênh phản ứng, các hình ảnh tượng
trưng này đại diện các cách thế thay đổi. Cũng như năng
lượng chạy xuyên qua kênh phản ứng thì sự biến dịch chạy
xuyên qua các vạch của quẻ:
Dịch
là một cuốn sách,
Ta
phải biết đến nó
Đạo
biến dịch vĩnh viễn
Vận
hành không ngừng nghỉ,
Chảy
qua sáu khoảng trống;
Xuống
lên không nhất định
Mềm
cứng chuyển lẫn nhau
Không
theo khuôn khổ nào,
Chỉ
“Dịch” đang vận hành.
Trong
quan điểm Trung quốc, tất cả mọi sự và hiện tượng quanh
ta xuất phát từ những mẫu hình biến dịch và được đại
diện bởi các vạch trong quẻ. Thế nên sự vật trong thế
giới vật lý không được xem là tĩnh tại, độc lập mà
chỉ là giai đoạn chuyển tiếp trong tiến trình của vũ trụ,
tiến trình đó chính là Đạo:
Đạo
biến dịch và vận động. Thế nên các vạch được gọi
là vạch thay đổi (hào). Hào có từng bậc, vì thế chúng
đại diện cho sự vật.
Nhưng
trong thế giới hạt, các cấu trúc được sinh ra bởi sự
biến dịch có thể xếp vào nhiều mô hình đối xứng khác
nhau, như dạng bát quái được tạo bởi tám quẻ, trong đó
các quẻ đối ứng gồm các vạch âm dương hoán chuyển lẫn
nhau. Cấu trúc này thậm chí hơi giống với hình bát giác
Menson được thảo luận trong chương trước, trong đó hạt
và đối hạt antiparticle nằm ở vị trí đối xứng.
Tuy
thế, điều quan trọng không phải là sự giống nhau tình cờ
này mà điều thực tế là cả vật lý hiện đại lẫn tư
tưởng cổ đại Trung quốc xem sự thay đổi và biến hóa
là khía cạnh nguyên thủy của thiên nhiên và xem cấu trúc
hay sự đối xứng được sự biến dịch sinh ra chỉ là phụ
thuộc. Khi dẫn giải về bản dịch Kinh Dịch của mình, Richard
Wilhelm xem ý niệm này là tư tưởng cơ bản của Kinh Dịch:
Tám
quẻ…đựoc xem như trong một tình trạng sẵn sàng thay đổi,
quẻ này biến hóa thành quẻ kia, biến từ một hiện tượng
này qua một hiện tượng khác, liên tục trong thế giới lý
tính. Nơi đây ta có tư tưởng cơ bản của kinh Dịch. Tám
quẻ là tám hình ảnh tượng trưng, đại diện cho giai đoạn
chuyển đổi; đó là những hình ảnh liên tục chịu sự biến
đổi. Đừng chú ý đến sự vật đang ở trong giai đoạn
đó - điều mà tại phương Tây hay xảy ra - mà hãy chú ý
sự vận động của chúngtrong lúc biến dịch. Vì thế mà
tám quẻ không đại diện cho sự vật mà chúng đại diện
cho khuynh hướng vận động [10].