Chương
14
KHÔNG
VÀ SẮC
Thế
giới quan cơ giới cổ điển đặt cơ sở trên khái niệm
của những hạt cứng chắc, không thể vận động hoặc chỉ
có thể vận động trong chân không. Vật lý hiện đại đã
mang lại cho hình ảnh này một sự điều chỉnh triệt để.
Không những nó nêu ra một khái niệm mới về hạt mà nó
còn chuyển hóa khái niệm cổ điển “ không” trống rỗng
một cách sâu sắc. Sự biến đổi này bắt đầu từ lý thuyết
trường. Nó bắt đầu khi Einstein thiết lập mối quan hệ
giữa trường trọng lực và hình học không gian, và trở nên
rõ nét khi người ta phối hợp thuyết lượng tử với thuyết
tương đối để mô tả các lực trường nằm quanh các hạt
hạ nguyên tử. Trong thuyết trường lượng tử này thì biên
giới giữa hạt và không gian bao quanh nó đã mất sự rõ nét
ban đầu và không gian trống rỗng được thừa nhận như một
đại lượng động có vai trò vượt trội.
Khái
niệm trường được Faraday và Maxwell đề xuất vào thế kỷ
19 để mô tả các lực giữa các điện tích và dòng điện.
Một điện trường là một điều kiện của không gian xung
quanh một vật thể mang điện tích, điều kiện đó tạo ra
một lực trong một vật thể có điện khác. Như thế điện
trường là được vật thể mang điện tích sản sinh và tác
dụng của nó chỉ được một vật mang điện khác nhận ra.
Từ trường được sinh ra bởi sự vận động của vật thể
mang điện, tức là bởi dòng điện và lực từ tính của
nó cũng chỉ được nhận ra bởi các vật mang điện đang
vận động. Trong khoa học điện từ cổ điển của Faraday
và Maxwell thì các trường là các đại lượng lý tính tự
nó, nó có thể được nghiên cứu mà không cần phải qui kết
lên vật thể vật chất. Những trường điện và từ rung
động có thể chuyển động trong không gian dưới dạng sóng
radio, sóng ánh sáng và những tia bức xạ điện từ khác.
Thuyết
tương đối ra đời và cho ngành điện động một nét đẹp
quí phái, bằng cách thống nhất các khái niệm điện tích,
dòng điện, điện trường và từ trường thành một mối.
Vì tất cả vận động đều tương đối, nên mỗi điện
tích cũng là dòng điện- trong một hệ qui chiếu mà nó vận
động so với quan sát viên - và cũng thế mà điện trường
của nó cũng là từ trường. Trong sự phát biểu có tính tương
đối của điện động thì hai trường này được thống nhất
vào một điện trường duy nhất.
Khái
niệm trường không phải chỉ áp dụng cho các lực điện
từ mà còn trong trọng lực. Trường trọng lực được tất
cả các vật thể có khối lượng sinh ra và ghi nhận, và lực
tương ứng luôn luôn là lực hút; ngược lại với trường
điện từ, tùy theo điện tích của vật thể mà sinh ra lực
hút hay đẩy. Lý thuyết đúng đắn về trường đối với
các trường trọng lực là thuyết tương đối tổng quát và
trong lý thuyết này thì ảnh hưởng của một vật thể mang
khối lượng lan tỏa trong không gian, xa hơn ảnh hưởng của
một vật thể mang điện tích trong điện từ. Lại một lần
nữa, không gian xung quanh một vật thể bị điều kiện hóa,
trong đó một vật thể bị một lực tác dụng, nhưng lần
này thì điều kiện đó ảnh hưởng lên hình học và cấu
trúc của không gian.
Vật
chất và không gian trống rỗng - cái đầy và cái không - là
hai khái niệm căn bản khác nhau, trên đó quan niệm nguyên
tử của Demokritus và Newton được xây dựng. Trong thuyết tương
đối tổng quát, hai khái niệm này không thể tách rời được
nữa. Chỗ nào có khối lượng, chỗ đó có trọng trường,
và trường này biểu hiện ra bằng cách làm cong không gian
bọc quanh vật thể đó. Thế nhưng cần hiểu rõ rằng, không
phải trường xâm nhập vào không gian và làm cong nó, mà là
hai cái chính là một, có nghĩa trường chính là không gian
cong. Trong thuyết tương đối tổng quát thì trọng trường
và cấu trúc hay hình thể không gian chính là một với nhau.
Chúng được diễn tả trong phương trình trường của Einstein
bằng một biểu thức toán học duy nhất. Theo thuyết của
Einstein thì không thể tách rời vật chất ra khỏi trọng trường,
trọng trường ra khỏi không gian cong. Vật chất và không gian
như vậy là thành phần liên hệ với nhau, không tách rời
được của một cái nhất thể duy nhất.
Vật
thể vật chất không những xác định cấu trúc của không
gian xung quanh, ngược lại nó cũng bị môi trường quanh nó
ảnh hưởng đáng kể. Theo nhà vật lý và triết gia Ernst Mach
thì khối lượng, quán tính của một vật thể không phải
là tính chất tự thân của vật chất mà là đại lượng
biểu thị mối tương quan giữa nó và vũ trụ ngoài nó. Theo
quan điểm của Mach thì vật chất sở dĩ có quán tính chỉ
vì trong vũ trụ có vật chất khác. Khi một vật quay tròn
thì quán tính của nó tạo ra một lực ly tâm (thí dụ máy
giặt quay tròn để vắt nước ra khỏi áo quần), nhưng lực
này sinh ra, chỉ vì vật thể vây quanh tương đối với các
định tính. Giả định các vì sao này thình lình biến mất
thì lực quán tính lẫn lực ly tâm cũng mất theo.
Quan
điểm này về lực quán tính của vật thể mà ta gọi là
nguyên lý Mach có một ảnh hưởng mạnh mẽ lên Albert Einstein
và đó là động lực đầu tiên làm ông xây dựng thuyết
tương đối tổng quát. Vì về mặt toán học, lý thuyết của
Einstein hết sức phức tạp nên các nhà vật lý đến nay vẫn
chưa nhất trí được liệu nó thực sự bao gồm luôn cả
nguyên lý Mach hay không. Tuy thế, phần lớn các nhà vật lý
cho rằng nguyên lý Mach phải được chứa đựng trong một
lý thuyết hoàn chỉnh về trọng trường.
Như
thế nền vật lý hiện đại lại cho ta thấy một lần nữa,
và trong trường hợp này trên bình diện vĩ mô, rằng vật
thể vật thể vật chất không phải là một đơn vị độc
lập, mà nó kết nối một cách bất khả phân với vật thể
xung quanh của nó; rằng tính chất của chúng chỉ được hiểu
trong mối liên hệ giữa nó và thế giới còn lại. Theo nguyên
lý Mach thì mối liên hệ này vươn xa trong vũ trụ, cho đến
những vì sao xa xôi, những đám mây quay hình trôn ốc. Tính
chất nhất thể cơ bản của vũ trụ hiện hình không những
trong thế giới cực tiểu mà cả trong thế giới cực đại.
Thực tế này luôn luôn được thừa nhận trong ngành thiên
văn và vũ trụ hiện đại, mà nhà thiên văn Fred Hoyle xác
nhận:
Ngày
nay sự phát triển trong vũ trụ học đã chứng tỏ một cách
sắt đá rằng, những điều kiện hàng ngày không thể tiếp
tục tồn tại nếu không có những thành phần xa xôi của
vũ trụ, rằng hình dung của ta về không gian và hình thể
sẽ không còn chút giá trị nào, nếu những thành phần xa
xôi của vũ trụ biến mất. Những kinh nghiệm hàng ngày của
chúng ta, cho đến những chi tiết nhỏ nhặt nhất, dường
như chúng tổng hòa trong vũ trụ một cách chặt chẽ hầu
như tới mức không thể xét chúng một cách riêng lẻ được.
Sự
thống nhất và mối quan hệ giữa vật thể và môi trường
quanh nó, đều đã hiện rõ trong kích thước vĩ mô trong thuyết
tương đối tổng quát, điều đó còn nổi bật hơn nữa trong
phạm vi hạ nguyên tử.
Nơi
đây người ta phối hợp hai hình dung của lý thuyết trường
cổ điển và của thuyết lượng tử để mô tả sự tương
tác giữa các hạt. Vì dạng toán học phức tạp của thuyết
trọng trường của Einstein, người ta chưa phối hợp được
tác động của trọng lực, nhưng các lý thuyết trường cổ
điển khác, động điện học, đã được hòa lẫn với thuyết
lượng tử để sinh ra động điện lượng tử, nó mô tả
mọi tác động điện từ qua lại của hạt hạ nguyên tử.
Lý thuyết này bao gồm cả thuyết lượng tử và thuyết tương
đối. Đó là mô hình đầu tiên của lượng tử-tương đối
của ngành vật lý hiện đại và cũng là mô hình thành công
nhất.
Tính
chất nổi bật của ngành động điện lượng tử được
sinh ra từ sự phối hợp của hai khái niệm: khái niệm của
điện từ trường và khái niệm photon, xem như khía cạnh hạt
của sóng điện từ.Vì photon cũng là sóng điện từ và sóng
này là trường đang rung động, nên photon là hiện thân của
trường điện từ. Vì thế mà sinh ra khái niệm truờng lượng
tử, tức là một trường mà ở đó, nó có thể xuất hiện
ở dạng của lượng tử hay hạt. Đây quả thật là một
khái niệm hoàn toàn mới, nó được mở rộng để mô tả
mọi hạt hạ nguyên tử và tương tác của chúng. Cứ mỗi
hạt ta có một trường riêng. Trong lý thuyết trường lượng
tử này thì có mối đối nghịch cổ điển giữa hạt cứng
chắc và không gian xung quanh nó, mối đối nghịch này hoàn
toàn đã bị vượt qua. Trường lượng tử được xem chính
là đơn vị vật lý cơ bản, đó là một thể liên tục, hiện
khắp nơi trong không gian; hạt chỉ là chỗ tập trung địa
phương của trường, một nơi hội tụ của năng lượng, năng
lượng đến rồi đi, vì thế mà hạt không mang đặc tính
riêng biệt nào, và hòa vào trường cơ bản của mình. Albert
Einstein nói:
Vì
thế ta có thể xem vật chất là khu vực của không gian, nơi
đó hết sức dày khít lại với nhau… trong nền vật lý này
thì không có chỗ cho cả hai, trương và vật chất, vì chỉ
trường mới là thực tại duy nhất .
Hình
dung này về vật chất và hiện tượng, xem chúng là hiện
thân vô thường của một đơn vị cơ bản, cũng là thế giới
quan phương Đông. Cũng như Einstein, các nhà đạo học phương
Đông xem đơn vị cơ bản đó là thực tại duy nhất; trong
lúc tất cả mọi dạng xuất hiện của nó đều tạm thời
và là ảo ảnh. Thực tại này của đạo học phương Đông
không thể xem là một với trường lượng tử của nhà vật
lý được, vì họ xem nó là thể tính của tất cả mọi hiện
tượng thế giới và vì vậy nằm ngoài mọi khái niệm và
hình dung. Ngược lại trường lượng tử là một khái niệm
có thể định nghĩa, nó chỉ sản sinh một phần của hiện
tượng vật lý thôi. Tuy thế trực giác của nhà đạo học
phương Đông, người cũng lý giải mọi hiện tượng của
thế giới giác quan xuất phát từ một thực tại cuối cùng,
cũng cho thấy lý giải của nhà vật lý về thế giới hạ
nguyên tử trên cơ sở trường lượng tử, hai nhận định
đó rất gần nhau. Sau khi khái niệm trường được sinh ra,
các nhà vật lý cố công tìm cách thống nhất mọi trường
khác nhau vào trong một trường cơ bản duy nhất, trường đó
bao gồm tất cả mọi hiện tượng vật lý. Đặc biệt trong
những năm cuối cùng của đời mình, Einstein đã ra sức đi
tìm một trường thống nhất đó. Cái Brahman của Ấn Độ
giáo, cũng như Pháp thân trong Phật giáo hay Đạo trong Lão
giáo có lẽ được xem là trường thống nhất, chung quyết,
trong đó không chỉ các hiện tượng vật lý được sản sinh
mà tất cả các hiện tượng khác cũng thế.
Theo
quan điểm phương Đông thì thực tại làm nền tảng cho mọi
hiện tượng nằm ngoài mọi sắc hình, không thể mô tả hay
định nghĩa. Thường người ta nói nó vô sắc hay trống rỗng.
Nhưng sự trống rỗng này không được hiểu là không có gì.
Ngược lại nó là tự tính của tất cả mọi sắc hình và
suối nguồn tất cả đời sống, như các bài thuyết giảng
Với
từ không chỉ thực tại cao nhất, Phật giáo cũng có hình
dung như vậy và nói về một tính không sinh động, từ đó
mà phát sinh mọi hiện tượng thế gian. Lão giáo cũng thấy
trong Đạo một sự sáng tạo vô tận như thế cũng gọi nó
là trống không. Tuân Tử nói “Đạo của trời là trống
rỗng và vô sắc”, và Lão Tử dùng nhiều hình tượng để
giảng giải cái trống không đó. Ngài thường ví Đạo như
hang sâu, như bình trống, nhờ thế mà dung chứa vô tận sự
vật.
Mặc
dù dùng từ “Không”, các nhà đạo học phương Đông chỉ
rõ, khi nói Brahman, Không hay Đạo, họ không hề nói đến
cái “không” thông thường, mà ngược lại, tính Không với
khả năng sáng tạo vô tận. Thế nên Không của đạo học
phương Đông dễ dàng được so sánh với trường lượng tử
của vật lý hạ nguyên tử. Cũng như trường lượng tử,
Không có thể sản sinh thiên hình vạn trạng sắc thể, Không
giữ vững chúng và có khi thu hồi chúng lại. Trong các bài
thuyết giảng (Upanishad) ta nghe:
Trong tĩnh lặng, hãy cầu khẩn Nó,
Nó là tất cả, suối nguồn xuất phát,
Nó là tất cả, nơi chốn trở về,
Nó là tất cả, trong đó ta thở.
Mọi
dạng hình của tính Không huyền bí đó cũng như các hạt
nhân, chúng không tĩnh lặng và bền vững, mà luôn luôn động
và biến dịch; chúng sinh thành và hoại diệt trong một trò
nhảy múa không nghỉ của vận hành và năng lượng. Cũng như
thế giới hạ nguyên tử của nhà vật lý, thế giới sắc
thể của đạo học phương Đông là một thế giới của lang
thang luân hồi, gồm liên tục những sống chết nối tiếp
nhau. Là sắc thể vô thường của Không, sự vật của thế
gian này không hề có tự tính căn bản gì cả. Điều này
được nêu rõ đặc biệt trong triết lý Phật giáo, lý thuyết
này phủ nhận sự hiện hữu của một chất liệu vật chất;
và nhấn mạnh rằng, hình dung về một cái Ta (ngã) bất biến,
cái ta đó là kẻ thu lượm những kinh nghiệm khác nhau, hình
dung đó chỉ là ảo giác. Phật giáo hay so sánh ảo giác về
một tự thể vật chất và một cái ngã cá thể như những
đợt sóng, trong dó sự vận động lên xuống của những hạt
nước làm ta nghĩ rằng có một khối nước di chuyển trên
bề mặt, đi từ chỗ này đến chỗ kia. Thật thú vị khi
thấy rằng nhà vật lý cũng dùng ẩn dụ tương tự để nói
về ảo giác tưởng rằng có một chất liệu do hạt di chuyển
sinh ra. Hermann Weyl viết như sau:
Theo
lý thuyết trường của vật chất thì một hạt khối lượng
- như một electron chẳng hạn - chỉ là một phạm vi nhỏ của
điện trường, trong đó đại lượng trường mang một trị
số cực cao, xem như năng lượng rất lớn của trường tập
trung vào một không gian rất nhỏ. Một điểm nút năng luợng
như thế, nó không hề tách biệt với trường bọc xung quanh,
lan rộng ra ngoài xuyên qua không gian trống rỗng cũng như một
đợt sóng lan ra trên mặt hồ. Cho nên cái tưởng như là chất
liệu duy nhất mà electron luôn luôn được cấu tạo nên, cái
đó không hề có.
Trong
triết học Trung quốc, ý niệm về trường không những được
hàm chứa trong Không và vô sắc mà cả trong khái niệm Khí
. Khái niệm này đóng một vai trò quan trọng trong từng trường
phái của khoa học tự nhiên Trung quốc và trong trường phái
Tân Khổng giáo.
Khí
có nguyên nghĩa là hơi hay ête, vào thời cổ đại Trung quốc
nó có nghĩa là hơi thở hay năng lực sống động của vũ
trụ. Trong thân người, khí mạch là cơ sở của nền y học
Trung quốc. Mục đích của phép châm cứu là k?ch th?ch dòng
chảy của khí thông qua những huyệt đạo đó. Dòng chảy
của khí cũng là cơ sở của phép vận động Thái cực quyền,
của phép múa quyền đạo sĩ.
Phái
Tân Khổng giáo phát triển một hình dung về Khí, hình dung
đó có một sự tương tự nổi bật với khái niệm trường
lượng tử, khí được xem như một thể mỏng nhẹ, không
nhận biết được, nó tràn ngập khắp không gian và kết tụ
lại với nhau thành vật thể vật chất. Trương Tái viết
như sau:
Khi
khí ngưng tụ thì nó thấy được, khi đó nó có dạng hình
của vật thể riêng lẻ. Khi nó loãng đi, mắt không thấy
được nó , và nó không có hình dạng. Khi nó ngưng tụ lại,
người ta còn có thể nói gì khác ngoài việc cho đó chỉ
là sự tạm thời? Và khi nó tan rã, liệu ta có thể vội nói
rằng, nó không có?
Khí
ngưng tụ và loãng ra như thế một cách tuần hoàn và hình
thành ở tất cả các trạng thái, trạng thái đó có khi lại
tan biến trong Không. Trương Tái viết tiếp:
Không
to lớn chỉ có thể do khí mà thành; khí này phải tụ lại
để sinh thành vật thể; và vật thể này lại hoại diệt
để sinh thành không to lớn.
Như
trong lý thuyết trường lượng tử thì trường - hay Khí -
không phải chỉ là tự tính của mọi vật thể vật chất,
mà trường cũng là nơi mang truyền mọi liên hệ hỗ tương,
thông qua dạng sóng. Sự mô tả sau đây về khái niệm trường
của vật lý hiện đại của Walter Thirring và quan điểm Trung
quốc về thế giới vật lý của Joseph Needham cho thấy sự
giống nhau rõ rệt:
Nền
vật lý lý thuyết hiện đại…đã hướng suy nghĩ của ta
về tự tính của vật chất theo một hướng khác. Nó đã
đưa cái nhìn từ vật thấy được - các hạt - đến với
cái nằm đằng sau, đến trường. Sự hiện hữu của hạt
chỉ là một sự nhiễu loạn tình trạng hoàn toàn cân bằng
của trường tại chỗ đó, một thứ ngẫu hứng, thậm chí
ta có thể gọi nó là một “ ô nhiễm”. Thế nên không thể
có những qui luật đơn giản để mô tả các lực giữa các
hạt… Điều cần tìm là trật tự và đối xứng trong trường
làm cơ sở cho chúng.
Trong
thời Cổ đại và thời Trung cổ thì vũ trụ vật lý Trung
quốc là một thể thống nhất, toàn hảo, liên tục. Lúc đó
thì Khí ngưng tụ thành vật chất sờ được vẫn chưa mang
ý nghĩa nào về hạt, thế nhưng các vật thể riêng lẻ tác
động và phản ứng với mọi vật thể khác trong thế giới
thông qua dạng sóng hay dao động, dạng đó đều phụ thuộc
vào sự biến dích tuần hoàn của hai lực cơ bản âm dương
trên mọi mức độ. Thế nên các vật riêng lẻ hòa nhập
trong sự hòa điệu chung của thế giới.
Với
khái niệm trường lượng tử, nên vật lý hiện đại tìm
ra được một câu trả lời bất ngờ cho câu hỏi xưa nay
là, liệu vật chất do những hạt nguyên tử bất phân cấu
thành hay từ một thể lên tục sinh ra. Trường là một thể
có mặt cùng lúc khắp nơi trong không gian, thế nhưng ở khía
cạnh hạt của nó có một cơ cấu hạt phi liên tục. Hai khái
niệm tưởng chừng như mâu thuẫn đó được thống nhất
với nhau và được xem như hai khía cạnh của một thực tại
duy nhất. Như mọi lần khác trong thuyết tương đối, sự
thống nhất này cũng thực hiện theo cách động: hai khía này
của vật chất chuyển hóa lẫn nhau liên tục không nghỉ.
Nhà đạo học phương Đông nhấn mạnh đến tính nhất thể
động giữa Không và Sắc, Sắc do Không tạo ra. Lama Govinda
nói:
Mối
liên hệ giữa Sắc và Không không thể được xem là hai tình
trạng loại bỏ lẫn nhau, mà chỉ là hai khía cạnh của một
thực tại duy nhất, nó cùng hiện hữu và liên tục kết nối
với nhau.
Sự
trộn lẫn những khái niệm đối nghịch này trong một cái
nhất thể được một kinh sách Phật giáo diễn tả trong những
câu nổi tiếng:
Sắc
chính là Không, Không chính là Sắc. Sắc chẳng khác Không,
Không chẳng khác Sắc. Cái gì là Sắc, cái đó là Không. Cái
gì là Không, cái đó là Sắc.
Lý
thuyết trường của vật lý hiện đại không những đem lại
một cách nhìn mới về hạt hạ nguyên tử, nó còn thay đổi
một cách quyết định hình dung của chúng ta về các lực
giữa các hạt đó. Khái niệm trường vốn liên hệ với khái
niệm lực và cả trong thuyết trường lượng tử thì khái
niệm đó vẫn còn liên quan đến lực giữa các hạt. Thí
dụ trường điện từ có thể xem như trường tự do, chứa
sóng hay photon đang di động hay nó cũng có thể được quan
niệm như một trường đầy những lực giữa các hạt mang
điện tích. Trong cách nhìn thứ hai thì lực hiện thân thành
những hạt photon chạy giữa hạt mang điện tích. Thí dụ
sự đẩy nhau giữa electron cũng có thể xem được gây ra bởi
sự trao đổi photon.
Quan
niệm mới mẻ này về lực xem ra khó hiểu, nhưng nó sẽ rõ
hơn nếu sự trao đổi một photon được trình bày trong biểu
đồ không gian -thời gian. Biểu đồ trang sau vẽ hai electron
đang tiến gần nhau. Một trong hai điện tử đó phóng thích
tại A một photon (mang biểu tượng g), electron kia hấp thụ
photon tại B. Khi phóng thích photon thì electron đầu tiên đổi
hướng đi và thay đổi vận tốc(xem hướng và độ nghiêng
của vạch vũ trụ trong biểu đồ), electron thứ hai cũng phản
ứng tương tự khi hấp thụ. Cuối cùng hai electron bay ra xa,
chúng đã thông qua sự trao đổi photon mà đẩy lẫn nhau.
Sự
tương tác trọn vẹn giữa electron gồm một loạt những trao
đổi giữa các photon và do đó mà ta thấy dường như chúng
tránh nhau qua một đường cong linh
động.
Trong
vật lý cổ điển người ta sẽ nói các electron đã sinh ra
một lực đẩy lẫn nhau. Bây giờ, ta thấy rằng cách nói
đó chỉ là một sự mô tả mơ hồ. Không electron nào cảm
thấy một lực đẩy mình đi cả, khi chúng tiến gần với
nhau.
Chúng
chỉ tác động thông qua sự trao đổi photon. Lực không khác
gì hơn là tổng số của những tác dụng trao đổi photon này
trên mặt vĩ mô. Vì thế mà khái niệm lực không còn được
sử dụng trong vật lý hạ nguyên tử nữa. Đó là một khái
niệm cổ điển mà ta ( dù có khi vô thức) luôn liên hệ với
hình dung của Newton về lực, thứ lực tác động xuyên qua
một khoảng cách xa. Trong thế giới hạ nguyên tử không có
thứ lực đó mà chỉ là tương tác giữa các hạt, sinh ra
bởi trường, tức là thông qua những hạt khác. Do đó mà
nhà vật lý hay nói tương tác, chứ không nói lực.
Theo
lý thuyết trường lượng tử thì tất cả tương tác được
sinh ra vì có sự trao đổi hạt. Trong trường hợp trường
điện tử thì hạt đó là photon; còn các nucleon thì tác động
thông qua một lực mạnh hơn nhiều, lực hạt nhân hay tương
tác mạnh nó được sinh ra bởi sự trao đổi của một hạt
loại mới, có tên là menson. Có nhiều loại menson khác nhau,
chúng được trao đổi giữa proton và neutron. Các nucleon càng
tiến gần nhau thì menson càng xuất hiện nhiều, càng nặng,
vì thế dễ trao đổi. Như thế, sự tương tác giữa nucleon
được gắn chặt với sự trao đổi menson,và bản thân menson
có bị trao đổi cũng thông qua việc trao đổi với những
hạt khác. Vì lý do đó mà ta sẽ không hiểu gì về lực hạt
nhân nếu không hiểu toàn bộ các hạt hạ nguyên tử.
Trong
lý thuyết trường lượng tử thì tất cả tương tác giữa
hạt được biểu diễn trong biểu đồ không gian - thời gian
và mỗi biểu đồ được gắn liền với một công thức toán
học, công thức đó phát biểu độ xác suất xảy ra của
một tiến trình. Mối liên hệ chính xác giữa biểu đồ và
công thức toán học được Richard Feyman đề xuất năm 1949
và kể từ đó ta gọi những biểu đồ này là biểu đồ
Feyman. Một tính chất then chốt của thuyết này là sự tạo
thành và phân hủy của hạt. Thí dụ photon trong trường hợp
trên được phóng thích ra tại A (tạo thành) và bị hấp thụ
tại B (phân hủy). Một tiến trình như thế chỉ được hiểu
trong thuyết tương đối, nơi đó hạt không còn la vật thể
không thể phân hủy nữa mà là được quan niệm như một
cấu trúc động chứa năng luợng, năng lượng đó có thể
phân bố cách khác khi cấu trúc mới xuất hiện.
Sự
sinh ra một hạt khối lượng chỉ có thể xảy ra khi năng
lượng liên quan với nó được sẵn sàng và đầy đủ, thí
dụ như trong một tiến trình va chạm. Trong trường hợp của
tương tác mạnh, thí dụ hai nucleon tác động lên nhau trong
nhân nguyên tử, thì năng lượng này thường không sẵn có.
Do đó, trường hợp này thì lẽ ra sự trao đổi giữa các
menson mang khối lượng (vì khối lượng cần mang năng lượng
cao) không thể xảy ra. Thế nhưng nó lại xảy ra. Thí dụ
hai proton có thể trao đổi nhau một pi-menson (hay pion), mà khối
lượng của pion bằng khoảng một phần bảy của khối lượng
proton.
Tại
sao tiến trình vẫn có thể xảy ra mặc dù năng lượng để
sinh ra một menson rõ ràng không đủ? Đó là nhờ hiệu ứng
lượng tủ, hiệu ứng này liên hệ chặt chẽ với nguyên
lý bất định. Các tiến trình hạt vốn diễn ra ngắn ngủi,
nhanh chóng, chúng có một tính chất bất định về năng lượng.
Sự trao đổi menson, tức là hình thành và tiêu hủy menson,
là một tiến trình của loại bất định này. Chúng diễn
ra quá ngắn ngủi và nhờ sự bất định này mà năng lượng
lại trở nên đầy đủ để sinh sản menson. Những menson này
được gọi là hạt giả. Nó khác với những menson thật (real)
được sinh ra trong quá trình va chạm, vì những hạt giả này
chỉ hiện hữu trong khoảng thời gian mà nguyên lý bất định
cho phép. Menson càng nặng (tức càng cần nhiều năng lượng
để sinh ra) thì càng ít thời gian được dành cho chúng để
trao đổi. Đó là lý do tại sao các nucleon chỉ có thể trao
đổi các menson nặng khi chúng thật sát gần nhau. Ngược lại,
sự trao đổi các photon giả có thể thực hiện trong khoảng
cách bất kỳ vì những photon phi khối lượng có thể tạo
thành từ những đại lượng có năng lượng nhỏ mấy cũng
được. Phép phân tích này về các lực điện từ và lực
hạt nhân đã giúp Hideki Yukawa năm 1935, không những tiên đoán
sự hiện hữu của các pion mười hai năm trước khi người
ta phát hiện ra chúng, mà còn dự đoán cả khối lượng của
chúng chỉ nhờ vào biên độ của các lực trong nhân.
Thế
nên, trong lý thuyết trường lượng tử, tất cả các tương
tác đều được lý giải bằng sự trao đổi của các hạt
giả. Tương tác càng lớn, tức là lực giữa các hạt càng
lớn, thì xác suất của một tiến trình trao đổi đó càng
lớn, tức là các hạt giả trao đổi với nhau càng nhiều.
Hơn thế nữa, vai trò của các hạt giả không chỉ dừng lại
ở tương tác. Thí dụ, một nucleon tự nó một mình có thể
phóng thích một hạt giả ra rồi sau đó hấp thụ lại. Giả
định rằng một menson được hình thành rồi được phân
hủy trong khoảng thời gian mà nguyên lý ats định cho phép
thì không có gì ngăn cấm một tiến trình như vậy xảy ra.
Trong trường hợp đó thì biểu đồ Feyman của neutron, nó
phóng thích ra pion rồi lại hấp thụ nó, được vẽ như dưới
đây.
Xác suất của một tương tác tự thân như thế là rất
lớn đối với các nucleon, vì tầm tương tác mạnh của chúng.
Điều đó có nghĩa là trong thực tế các nucleon luôn luôn
phun hạt giả ra và nuốt chúng trở lại. Theo lý thuyết trường,
người ta phải xem nó như tâm điểm của một hoạt động
liên tục, được bọc xung quanh bởi một đám mây chỉ toàn
hạt giả. Các hạt menson giả phải biến mất rất sớm sau
khi được tạo thành, vì thế chúng không thể rời nucleon
đi đâu xa được. Thế nên đám mây menson cũng phải rất
nhỏ. Vùng biên của chúng chứa đầy menson hạng nhẹ (thường
là pion), các menson hạng nặng nằm ở phần trong của đám
mây, vì chúng lại bị hấp thụ sau một thời gian ngắn hơn.
Mỗi
nucleon được một đám mây của menson giả bọc quanh, các
menson giả đó có đời sống hết sức ngắn ngủi. Trong một
số điều kiện đặc biệt thì menson giả có thể biến thành
menson thật. Khi nucleon bị một hạt khác có vận tốc cao va
chạm thì một phần của động năng hạt đó có thể truyền
lên một menson giả và giải thoát nó ra khỏi đám mây. Với
cách thế này mà menson được sinh ra thật trong các va chạm
cao năng lượng. Mặt khác khi hai nucleon tiến gần nhau đến
mức mà đám mây của chúng hoà lên nhau thì có thể vài hạt
giả, thay vì trở về nơi sinh của chúng là nucleon mẹ, nhảy
qua nucleon kia và bị cái kia hấp thụ. Đó chính là tiến trình
trao đổi, chúng diễn tả tương tác mạnh.
Hình
ảnh này chỉ rõ, tương tác giữa các hạt, tức các lực
giữa chúng, như thế đã được qui định bởi thành phần
của các đám mây giả. Cự ly của tương tác, tức là khoảng
cách giữa hai hạt mà tác động đó bắt đầu có hiệu quả,
tùy thuộc vào kích thước của đám mây giả và dạng cụ
thể của sự tác động cũng dựa trên tính chất của các
hạt trong đám mây. Thế nên các lực điện từ là do sự
hiện diện của các photon giả trong hạt có điện tích mà
thành, trong lúc sự tương tác mạnh của các nucleon là do sự
hiện diện của các pion và các menson khác trong các nucleon
mà thành. Trong lý thuyết trường thì lực giữa các hạt trở
thành tính chất nội tại của các hạt. Lực và vật chất,
hai khái niệm mà trong quan điểm nguyên tử của Hy Lạp và
của Newton bị tách rời nghiêm nhặt, theo cách nhìn ngày nay,
chúng có một nguồn gốc chung trong những cấu trúc động
mà ta gọi là hạt.
Cách
nhìn đó về lực cũng là đặc trưng của đạo học phương
Đông, họ nhìn vận hành và biến dịch là tự tính nội tại
của mọi vật. Trương Tái nói về trời “Tất cả vật quay
tròn, chúng đều có lực tự nhiên nội tại, sự vận hành
của chúng không phải từ bên ngoài tác động vào” và trong
Kinh Dịch ta đọc thấy “Nguyên lý của tự nhiên không xem
lực nằm ngoài vật, mà chúng biểu hiện sự hòa hợp của
sự vận động nội tại của chúng”.
Cách
mô tả cổ đại này của Trung quốc, xem lực là đại biểu
cho sự hòa hợp của vận hành nội tại trong sự vật hiện
ra dưới ánh sáng của lý thuyết trường lượng tử rất
phù hợp, trong đó lực giữa các hạt được xem là sự phát
biểu của những cơ cấu động (đám mây giả), những đám
mây này là tính chất nội tại của hạt.
Lý
thuyết trường của vật lý hiện đại đòi hỏi ta phải
từ bỏ sự phân biệt cổ điển giữa hạt mang khối lượng
và không gian trống rỗng. Thuyết trọng trường của Einstein
và thuyết lượng tử cả hai đều cho thấy, hạt không thể
tách rời khỏi không gian chung quanh. Một mặt chính nó quyết
định cấu trúc của không gian đó, mặt khác không thể xem
nó là một đơn vị độc lập, mà là sự kết tụ của một
trường liên tục, hiện diện khắp nơi trong không gian. Trong
thuyết trường lượng tử thì trường này là nguồn gốc
của mọi hạt và tương tác giữa các hạt với nhau.
Trường
luôn luôn hiện diện, cùng khắp; không có gì hủy diệt được
nó, nó là chất liệu của mọi tiến trình vật chất. Nó
là cái “không”, từ đó mà photon đã sản sinh ra những
p-menson (pion). Hạt sinh ra hay phân hủy chỉ là những dạng
vận động của trường.
Cuối
cùng sự phân biệt giữa vật chất và không gian trống rỗng
phải hoàn toàn được từ bỏ, khi ta phát hiện rằng những
hạt giả có thể từ Không tự nhiên sinh ra và lại hoại
diệt trong. Không mà không hề cần có sự hiện diện của
bất kỳ một nucleon nào hay một loại hạt nào của tương
tác mạnh. Biểu đồ chân không sau đây trình bày một tiến
trình như thế: ba hạt - một proton (p), một đối hạt antiproton
(`p) và một pion (p) - được sinh ra từ chân không và phân
hủy lại trong chân không. Theo thuyết trường lượng tử thì
tiến trình như thế xảy ra liên tục. Chân không không hề
trống rỗng. Ngược lại nó chứa vô lượng các hạt, chúng
sinh thành và phân huỷ vô tận.
Ở
đây, vật lý hiện đại có sự tương đồng sát sao nhất
với khái niệm Không của đạo học phương Đông. Như Tính
Không của phương Đông, chân không vật lý - được gọi như
thế trong lý thuyết trường - không phải là một tình trạng
không có gì mà hàm chứa khả năng của tất cả mọi dạng
hình của thế giơí hạt. Những dạng này không phải là những
đơn vị vật lý độc lập, mà là những dạng xuất hiện
tạm thời của cái Không cơ bản đó. Như Kinh nói: “Sắc
chính là Không, Không chính là Sắc”.
Mối
liên hệ giữa các hạt giả và chân không tự nó cũng là
một mối liên hệ động. Chân không thực tế là một “Không
sinh động”, nó cũng thở trong một nhịp điệu vô tận của
sinh thành và phân hủy. Nhiều nhà vật lý cho rằng sự phát
hiện tính động của chân không là một trong những khám phá
quan trọng nhất của vật lý hiện đại. Từ vai trò chỉ
là cái bình trống rỗng của các hiện tượng vật lý, chân
không đã trở nên một đại lượng động với ý nghĩa quan
trọng nhất. Kết quả của vật lý hiện đại dường như
đã xác định lời nói của nhà đạo học Trung quốc Trương
Tái:
Khi
đã rõ, cái Không to lớn chứa đầy Khí,
Thì
ai nấy đều biết, không có cái “không có gì”.