Chương
13:
VŨ
TRỤ ĐỘNG
Trong
nền đạo học phương Đông, có một thực tại được xem
là thực thể của vũ trụ, nó là nguồn gốc của muôn hình
vạn trạng sự vật và biến cố. Ấn Độ giáo gọi nó là
“Brahman”, Phật giáo gọi là “Pháp thân” (thân của mọi
hiện hữu) hay “Chân Như” (Cái - như - thế) và Lão giáo
gọi là “Đạo”. Tất cả đều quả quyết thực tại cao
nhất đó vượt trên những khái niệm suy luận của chúng
ta và không thể mô tả được. Thế nhưng thực tại đó lại
không tách rời khỏi những biến hiện vô cùng của nó. Tự
tính của nó là luôn luôn hiện thành hàng tỉ sắc hình, chúng
sinh thành và biến hoại, chúng chuyển hóa từ cái này qua
cái khác một cách vô tận. Trong khía cạnh hiện tượng thì
nhất thể vũ trụ đó tự nó là động, và tiếp cận với
tự tính đó là cơ sở của mọi nền đạo học phương Đông.
D.T.Suzuki viết về tông Hoa Nghiêm của Đại thừa Phật giáo
như sau:
Ý
niệm cơ bản của Hoa Nghiêm là nắm bắt về trụ động mà
tính chất của nó là luôn luôn biến hoại, trong dòng của
vận động, đó là đời sống.
Sự
nhấn mạnh vận động, dòng chảy và thay đổi không phải
chỉ có nơi đạo học phương Đông mà cũng là khía cạnh
chủ yếu của mọi thế giới quan tâm linh trong các thời đại.
Trong thời cổ đại Hy Lạp, Heraclitus đã chỉ rằng mọi sự
đều trôi chảy và so sánh thế giới như một ngọn lửa bất
diệt. Tại Mexico nhà đạo học Yaqui Don Juan cũng nói về một
thế giới thoáng hiện và xác nhận muốn thành minh triết
tự thân là ánh sáng hay dòng chảy.
Những
khái niệm then chốt của Ấn Độ giáo và Phật giáo lấy
từ triết học Ấn Độ tính vận động. Từ “Brahman” xuất
phát từ gốc Sanskrit Brih và nói về một thực tại sinh động,
luôn luôn vận động. Theo S.Radhakrishnan, từ Brahman có nghĩa
là lớn mạnh và đầu mối của đời sống, vận hành và
tiến triển. Các bài thuyết giảng (Upanishad) gọi Brahman là
vô sắc, bất tử,vận hành và gắn cho nó một sự vận động
tự thân, mặc dù nó đứng trên mọi sắc thể.
Lê
- câu Vệ - đà diễn tả tính vận động của thế giới với
một khái niệm khác, khái niệm “Rita”. Từ này xuất phát
từ gốc ri (tự thân vận động). Nghĩa của nó là sự vận
hành của mọi sự hay trật tự của tự nhiên. Từ này đóng
một vai trò quan trọng trong mọi huyền thoại của Vệ - đà
và liên hệ với mọi thần thánh của Vệ - đà. Các nhà đạo
sĩ Vệ - đà không xem trật tự của tự nhiên là một qui
luật tĩnh tại của Thượng đế bày ra mà là một nguyên
lý động nằm sẵn trong vũ trụ. Ý niệm này cũng là khái
niệm đạo của Trung Quốc, xem nó là các thể vận hành của
vũ trụ, là trật tự của vũ trụ. Như các nhà thấu hiểu
Vệ - đà, các chân nhân Trung quốc xem thế giới là dòng chảy
và sự biến dịch và vì vậy mà gẵn cho hình dung về vũ
trụ một khái niệm động. Hai khái niệm Rita và Đạo về
sau được mang từ bình diện vũ trụ đưa xuống cho con người
và sau đó mang một khái niệm đạo lý; Rita là qui luật vũ
trụ mà trời, người đều phải tuân thủ, và Đạo là đường
đi đúng đắn phải theo.
Khái
niệm Vệ - đà Rita dung chứa luôn Karma (Nghiệp), về sau nghiệp
mới trở thành ý niệm để bày tỏ tính tác động qua lại
giữa sự vật và biến cố. Từ Nghiệp có nghĩa là hành động
và diễn tả sự quan hệ động giữa các hiện tượng. Trong
chí tôn ca (Bhagavad-Gita) ta đọc: tất cả hành động xảy
ra trong thời gian thông qua sự nối kết lẫn nhau của các
năng lực tự nhiên. Đức Phật là từ bỏ khái niệm truyền
thống của nghiệp và cho nó một ý nghĩa mới, trong đó Ngài
mở rộng ra xem nó là mối liên hệ động lực trong bình diện
con người. Do đó mà về sau nghiệp là chuỗi xích vô tận
giữa nguyên nhân và kết quả trong đời con người, và cùng
chuỗi xích đó bị Phật phá vỡ bằng cách đạt tới tình
trạng của sự giác ngộ.
Ấn
Độ giáo cũng tìm ra nhiều cách để trình bày tính chất
động của vũ trụ trong ngôn ngữ huyền thoại. Trong Chí tôn
ca, Krishna, hiện thân của thần Vishnu, nói: Nếu ta không hành
động, thì những thế giới này sẽ suy tận, và Shiva, vũ
công vũ trụ có lẽ là sự hiện thân hoàn toàn nhất của
vũ trụ đang vận hành. Nhờ sự nhảy múa của mình mà Shiva
giữ được tính muôn vẻ của hiện tượng trong thế gian,
Ngài thống nhất mọi sự bằng cách đưa chúng vào nhịp điệu
của mình và cho chúng cùng nhảy múa - một hình ảnh vĩ đại
về tính nhất thể đầy động lực của vũ trụ.
Ấn
Độ giáo nhìn vũ trụ như một sinh cơ, đang lớn dần và
vận hành tuần hoàn có nhịp điệu, trong đó mọi thứ đều
trôi chảy và tất cả những dạng hình tĩnh tại đều là
Maya (ảo giác), có nghĩa là chúng chỉ tồn tại trong cái nhìn
huyễn giác. Ý niệm cuối cùng này - tính vô thường của
mọi sự - cũng là điểm xuất phát của đạo Phật. Đức
Phật cho rằng mọi pháp hữu vi đều vô thường và mọi Khổ
trên thế gian đều xuất phát từ sự bám giữ nơi sắc thể
- nơi sự vật, con người hay ý niệm - thay vì chấp nhận
một thế giới đang vận hành và thay đổi. Thế nên thế
giới động cũng là gốc rễ của giáo pháp Phật giáo. Sau
đây là lời của Radhakrishnan:
Một
triết lý động tuyệt diệu được Phật phát biểu cách đây
2500 năm… Cảm xúc trước sự vật đang chuyển hóa, biến
đổi và phối hợp không lúc nào dừng, Phật nói về một
triết íy vô thường. Ngài xem vật thể, âm thanh, hạt, chất
liệu trở thành lực, vận hành, hệ quả và tiến trình và
thừa nhận một thực tại động.
Phật
giáo gọi thế giới của sự đổi thay liên tục này là Ta
- bà, nguyên nghĩa lang thang, trôi nổi và nói rõ rằng trong
đó không có gì đáng để bám giữ cả. Đối với người
theo Phật giáo thì người đạt đạo là người không chống
lại dòng chảy của cuộc sống mà cùng vận động theo nó.
Khi thiền sư Vân Môn được hỏi: Đạo là gì, ông đáp Cứ
đi. Cũng thế mà Phật tử gọi đức Phật là Như Lai, có
nghĩa là người đã đến như thế. Trong triết học Trung quốc,
thực tại cứ đổi thay liên tục này được gọi là Đạo
và là tiến trình của vũ trụ, trong đó mọi vật đều tham
gia. Cũng như Phật giáo, Lão giáo cho rằng ta không nên cưỡng
lại dòng chảy mà cần phải thích nghi với nó. Lại một
lần nữa đây là đặc trưng của thánh nhân, của người
giác ngộ. Nếu Phật là người đến như thế thì thánh nhân
đạo Lão là người thuận lẽ trời và nói như Hoài
Nam Tử là theo dòng đạo.
Càng
học hỏi kinh sách tôn giáo và triết lý của Ấn Độ giáo,
Phật giáo và Lão giáo, người ta càng rõ họ nhận thức tự
thân thế giới là vận động, trôi chảy và biến dịch. Tấm
lưới vũ trụ đang sống, đang vận hành, đang lớn lên, đang
thay đổi.
Cũng
thế, nền vật lý hiện đại cũng nhìn vũ trụ như một tấm
lưới đầy mối liên hệ và nhận thức cũng như đạo học
phương Đông, rằng thể nội tại của nó là động. Thuyết
lượng tử cho thấy khía cạnh động của vật chất trong
thể tính sóng của các hạt hạ nguyên tử. Khía cạnh này,
như ta sẽ thấy, sẽ trở nên quan trọng hơn trong thuyết tương
đối, trong đó sự thống nhất không gian và thời gian chứng
minh sự hiện hữu của vật chất không thể tách rời ra khỏi
hoạt động của nó.
Theo
thuyết lượng tử thì hạt cũng vừa là sóng và từ đó mà
có nó một tính chất kỳ lạ. Khi một hạt bị giam giữ trong
một không gian nhỏ thì nó phản ứng lại sự hạn chế này
bằng sự vận động. Không gian càng nhỏ thì hạt càng quay
nhanh. Tính chất này là một hiệu ứng lượng tử đặc biệt
và không hề có sự tương tự trong vũ trụ vĩ mô. Muốn hiểu
rõ hơn hiệu ứng này, ta hãy nhớ rằng, trong thuyết lượng
tử, hạt được biểu thị bởi một bó sóng, độ dài của
bó sóng đó là độ bất định vị trí của hạt. Như hình
dưới đây cho thấy, hạt nằm đâu đó trong khoảng X, ta không
biết chắc chắn. Nếu muốn siết hạt này, ta ép X phải nhỏ
hơn. Thế nhưng điều này sẽ làm độ dài sóng ngắn lại
và vận tốc hạt tăng lên. Ta có thể hình dung khá rõ, hạt
càng bị giam giữ, nó càng vận động mãnh liệt.
Khuynh
hướng dùng vận động để phản ứng lại sự hạn chế
làm ta nghĩ đến vật chất hẳn phải có một sự bất an
cơ bản, nó là đặc trưng trong thế giới hạ nguyên tử.
Trong thế giới này thì phần lớn các hạt vật chất đều
mang cơ cấu phân tử, nguyên tử hay hạt và vì thế mà không
đứng yên, mà theo tính chất nội tại của nó là vận động
không ngừng.
Theo
thuyết lượng tử, vật chất luôn luôn ở dạng vận động.
Trong thế giới vĩ mô, sự vật xung quanh chúng ta xuất hiện
một cách thụ động và vắng mặt sự sống, nhưng nếu chúng
ta phóng lớn lên một hòn đá hay miếng kim loại chết đó
thì ta sẽ thấy trong đó đầy những hoạt động. Càng nhìn
sát nó, nó xuất hiện càng sống động. Tất cả mọi vật
xung quanh ta đều gồm những nguyên tử, chúng liên hệ với
nhau bằng nhiều cách khác nhau và tạo thành muôn ngàn dạng
khác nhau của phân tử, chúng rung động theo nhiệt độ của
chúng, cùng hoà nhịp với nhiệt độ xung quanh. Trong những
nguyên tử đang rung động đó thì các electron bị điện lực
trì kéo vào nhân và chúng phản ứng chống lại sự tù hãm
đó bằng cách quay tròn thật nhanh. Sau đó trong bản thân các
nhân, các proton và neutron bị trói chặt trong một không gian
cực nhỏ, chúng đua nhau chạy với một vận tốc không tưởng
tượng nổi.
Một
đoạn văn của Lão giáo nói lên sự thăng bằng trong vận
động này như sau:
An
bằng trong tĩnh tại không phải là sự an bằng đích thực.
Chỉ khi có sự an bằng trong vận động thì nhịp điệu tâm
linh mới sinh thành, nhịp điệu đó thâm nhập cả trời đất.
Trong
vật lý, ta nhận thức tính động của vũ trụ không những
trong kích thước vĩ mô-thế giới của nguyên tử và nhân
nguyên tử-mà trong kích thước lớn, của thiên thể và thiên
hà. Nhờ những viễn vọng kính lớn ta quan sát được một
vũ trụ đang vận hành không nghỉ. Những đám mây khinh khí
quay vòng, kéo lại với nhau và hình thành thiên thể. Qua đó
chúng nóng lên và biến thành lửa cháy rực trong bầu trời.
Khi đã đạt giai đoạn này rồi, chúng vẫn còn quay và có
thiên thể bắn tạt các khối lượng vật chất ra ngoài. Những
khối này bị bắn ra xa, mới đầu quay theo dạng trôn ốc
và cứng dần thành các hành tinh chạy vòng theo các vì sao.
Sau hàng triệu năm khi phần lớn khí đốt đã hết, các thiên
thể phình ra và cuối cùng co lại trong sự sụp đổ trọng
trường. Sự sụp đổ này có thể kéo theo nhiều vụ nổ
khủng khiếp và có thể biến thiên thể thành lỗ đen. Tất
cả những biến cố này-sự hình thành các vì sao từ những
đám mây, sự co lại, sự phình ra và cuối cùng là sự sụp
đổ-tất cả đều có thể quan sát được thật sự trong
bầu trời.
Những
vì sao quay vòng, co lại, phình ra và bùng nổ đó biến thành
thiên hà với những dạng khác nhau, dạng đĩa mỏng, dạng
hình cầu, hình xoáy trôn ốc v.v… Rồi bản thân chúng cũng
không phải bất động, mà lại quay tròn. Thiên hà của chúng
ta, dãy Ngân hà, là một đĩa vĩ đại gồm thiên thể và khí,
nó quay trong không gian như một bánh xe khổng lồ; thế nên
tất cả những vì sao của nó-kể cả mặt trời và hành tinh-quay
quanh trung tâm của ngân hà. Vũ trụ gồm toàn cả những ngân
hà, chúng nằm rải rác trong không gian thấy được và cũng
quay vòng như ngân hà của chúng ta. Khi tìm hiểu vũ trụ với
hàng triệu ngân hà như toàn thể cấu trúc của nó, chúng
ta đã đạt đến mức xa nhất của không gian và thời gian.
Và cả trên bình diện này của vũ trụ, ta phát hiện rằng
vũ trụ không hề tĩnh tại, nó đang giãn nở ! Đó là một
trong những khám phá quan trọng nhất của ngành thiên văn hiện
đại. Một sự phân tích chi tiết ánh sáng mà ta nhận được
từ những thiên hà xa cho thấy rằng toàn bộ những thiên
hà đang bành trướng. Vận tốc mà một thiên hà rời xa chúng
ta là tỉ lệ với khoảng cách của chúng đến chúng ta. Chúng
càng xa ta thì chúng càng chạy nhanh. Khoảng cách gấp đôi
thì vận tốc cũng gấp đôi. Điều này không những chỉ có
giá trị khi lấy thiên hà của ta làm gốc, mà cũng như thế
với bất cứ điểm gốc nào. Nghĩa là dù đang ở bất kỳ
trong thiên hà nào, chúng ta sẽ thấy các thiên hà khác ngày
càng đi xa, các thiên hà gần thì với vận tốc vài ngàn ki
- lô - mét mỗi giây; các nhóm xa hơn thì vận tốc lớn hơn
và vận tốc của các thiên hà xa nhất tiến gần tới vận
tốc ánh sáng. ánh sáng của các thiên hà xa nữa thì không
bao giờ tới với ta vì chúng bỏ đi xa nhanh hơn cả vận tốc
ánh sáng. Anh sáng của chúng, nói như Sir Arthur Stanley Eddington,
như
một lực sĩ chạy trên một đường băng ngày càng dài ra,
điểm đích chạy xa ra, nhanh hơn cả vận tốc của
anh
ta.
Khi
nói về một vũ trụ giãn nở trong khung cảnh của thuyết
tương đối tổng quát, ta phải nói sự giãn nở trong một
kích thước cao hơn. Ta chỉ có thể hình dung một khái niệm
như thế, như khi nói về không gian cong với sự tương tự
hai chiều.
Muốn
thế ta hãy tưởng tượng một quả bóng với nhiều chấm
trên bề mặt. Quả bóng là tượng trưng cho vũ trụ, mặt
cong hai chiều của nó giả dụ cho không gian cong ba chiều và
những chấm đen là các thiên hà trong không gian đó. Khi quả
bóng bị bơm phình ra thì những khoảng cách giữa các chấm
cũng lớn hơn. Dù ta lấy chấm nào làm chỗ đứng, ta cũng
thấy mọi chấm khác đều xa dần mình. Vũ trụ cũng giãn
nở theo cách đó, dù quan sát viên có mặt trên bất kỳ thiên
hà nào, tất cả những thiên hà còn lại đều xa dần người
đó.
Câu
hỏi dễ đặt ra về việc vũ trụ giãn nở là tất cả mọi
sự đó bắt đầu như thế nào? Từ mối liên hệ giữa khoảng
cách của một thiên hà với ta và tốc độ đi xa của nó
(định luật Hubble) ta có thể tính thời điểm lúc bắt đầu
bùng nổ, nói cách khác tính được tuổi thọ của vũ trụ.
Cứ thừa nhận rằng vận tốc bùng nổ đó không thay đổi
(đó là điều không hề chắc chắn) thì người ta tính ra
một số tuổi vũ trụ khoảng chừng 10.000 triệu năm. Phần
lớn các nhà vũ trụ học ngày nay tin rằng, vũ trụ phát sinh
cách đây khoảng 10.000 triệu năm thông qua một biến cố vĩ
đại, khi toàn bộ khối lượng của nó phát nổ từ một
trái cầu lửa nguyên thủy. Sự giãn nở ngày nay của vũ trụ
được xem là sức đẩy còn sót lại của một vụ nổ ban
đầu. Theo mô hình vụ nổ ban đầu này thì thời điểm phát
nổ là ngày sinh của vũ trụ và của không gian thời gian.
Nếu muốn biết trước đó là gì, ta sẽ va vào ngay cái khó
khăn về tư duy và ngôn ngữ. Sir Bernard Lowell nói:
Đó
là nơi mà ta sẽ gặp giới hạn về tư tưởng, vì ta cứ
tiếp tục sử dụng các khái niệm không gian-thời gian, tại
lúc chúng chưa xuất hiện trong đời sống hàng ngày. Đối
với tôi, hầu như tôi lạc vào một vùng đầy sương mù,
thế giới quen thuộc đã biến mất.
Về
tương lai của vũ trụ giãn nở, những phương trình của Einstein
cũng không cho lời giải rõ ràng. Chúng chấp nhận nhiều lời
giải khác nhau, tùy theo những mô hình khác nhau về vũ trụ.
Vài mô hình tiên đoán rằng, vũ trụ cứ giãn nở mãi, theo
mô hình khác thì nó cứ chậm lại và sẽ quay ngược, co rút
lại. Những mô hình này xem vũ trụ có tính chu kỳ, cứ trương
nở vài tỉ năm, rồi co lại cho đến khi toàn bộ khối lượng
chỉ còn một khối vật chất nhỏ rồi sau đó lại giãn nở,
cứ thế bất tận.
Hình
dung về một vũ trụ giãn nở và co rút tuần hoàn trong một
tầm cỡ không gian và thời gian khủng khiếp không chỉ có
trong vũ trụ hiện đại, mà còn hiện diện trong huyền thoại
cổ Ấn Độ. Với sự chứng nghiệm vũ trụ như một thể
sinh cơ và vận động tuần hoàn, trong Ấn Độ giáo phát sinh
một quan niệm vũ trụ sống, nó rất gần với các mô hình
khoa học hiện đại. Một trong những vũ trụ luận này đặt
nền tảng trên huyền thoại “Lila”, trò chơi của thiên
nhân, trong đó Brahman tự biến mình thành thế giới. Lila là
một trò chơi có nhịp điệu kéo dài tuần hoàn vô tận, cái
Một biến thành cái Nhiều và cái Nhiều trở thành cái Một.
Trong Chí tôn ca (Bhagavad Gita) thần Krishna mô tả trò chơi sáng
tạo tuần hoàn này bằng những lời:
Cuối
thời kỳ tăm tối thì mọi sự lại trở về với tự tính
của ta; và khi thời kỳ mới bắt đầu, ta đem chúng ra ánh
sáng.
Thế
nên ta dùng tự tính của mình mà sáng tạo ra mọi thứ và
những thứ này lăn theo bánh xe của thời gian. Thế nhưng ta
không bị ràng buộc vào công trình sáng tạo to lớn này. Ta
là ta và ta nhìn tác phẩm vui buồn diễn ra.
Ta
ngắm nhìn và tromg tác phẩm sáng tạo đó, tự tính sản sinh
tất cả, những gì vận động, những gì nằm yên; và cứ
thế mà thế giới vận động tuần hoàn.
Ấn
Độ giáo nhận trò chơi tuần hoàn thần thánh này là sự
phát triển của toàn vũ trụ. Họ xem vũ trụ giãn nở và
co rút tuần hoàn và đặt tên cho thời gian không tưởng tượng
nổi giữa lúc bắt đầu và chấm dứt một sự sáng tạo
là thời kiếp. Kích thước huyền thoại cổ xưa thật đáng
kinh ngạc, còn tư duy con người cần hơn hai ngàn năm để
tới với một tư tưởng tương tự như huyền thoại đó.
Từ
thế giới cực lớn, từ vũ trụ đang giãn nở, hãy trở lại
thế giới cực nhỏ. Đặc trưng của vật lý thế kỷ 20 là
đi ngày càng sâu vào một thế giới của kính hiển vi, của
nguyên tử, của hạt nhân và các hạt tạo thành nhân. Sự
tìm hiểu thế giới vi mô này được thúc đẩy bởi một
câu hỏi căn bản đã làm loài người trăn trở từ xưa: vật
chất được cấu tạo như thế nào? Kể từ ngày đầu của
triết lý về tự nhiên, con người đã nghĩ ngợi về câu
hỏi này và cố tìm ra một chất liệu căn bản, chất liệu
xây dựng mọi vật chất, nhưng chỉ trong thế kỷ này ta mới
có thể đi tìm câu trả lời bằng phương pháp thực nghiệm.
Nhờ kỹ thuật phức tạp mà nhà vật lý bước đầu tìm
hiểu được cấu trúc của nguyên tử và nhận ra rằng, nó
gồm có nhân và electron. Sau đó người ta ghi nhận nhân gồm
có những hạt nucleon, đó là proton và neutron. Trong hai thập
niên vừa qua người ta đi thêm một bước và bắt đầu tìm
hiểu cấu trúc của nucleon, thành phần của nhân nguyên tử,
chúng xem ra không phải là nững hạt cuối cùng mà lại là
từ những đơn vị khác cấu thành.
Bước
đầu tìm hiểu nguyên tử đã dẫn đến những thay đổi căn
bản về cách nhìn của ta về vật chất, chúng đã được
nói trong chương trước. Bước thứ hai, bước đi sâu vào
nhân nguyên tử và thành phần của nó, kéo theo một sự thay
đổi không kém phần quan trọng. Trong thế giới hạt nhân
này ta phải đo lường những loại kích thước nguyên tử
và những hạt trong nhân này, vì bị giam trong không gian quá
bé, cũng vận động với vận tốc nhanh đến nỗi chỉ có
thể dùng thuyết tương đối đặc biệt để mô tả chúng.
Tính chất và tương tác của hạt hạ nguyên tử chỉ có thể
dùng thuyết lượng tử và thuyết tương đối mà nắm được
chúng, và những điều này buộc chúng ta có một sự thay đổi
về quan niệm vật chất là gì.
Điều
đặc trưng của thuyết tương đối là nó thống nhất những
khái niệm căn bản mà ngày trước chúng hoàn toàn độc lập
với nhau. Một trong những thí dụ quan trọng nhất là coi khối
lượng và năng lượng như nhau, điều này được phát biểu
bằng công thức toán học nổi tiếng của Einstein E=mc2. Và
muốn hiểu ý nghĩa sâu sắc của mối liên hệ này, trước
hết chúng ta phải xét ý nghĩa của năng lượng và khối lượng.
Năng
lượng là một trong những khái niệm quan trọng nhất để
mô tả các hiện tượng tự nhiên. Như trong đời sống hàng
ngày ta nói, một vật thể chứa năng lượng khi nó có thể
thực hiện một công. Năng lượng này có thể xuất hiện
dưới nhiều dạng khác nhau.
Nó
có thể là động năng, nhiệt năng, thế năng, điện năng,
năng lượng hóa học v.v…Mỗi dạng đó đều có thể dùng
để sinh công. Thí dụ người ta cho một viên đá có thế
năng bằng cách nâng nó lên cao. Khi thả nó từ trên cao xuống
thì thế năng của nó biến thành động năng và khi viên đá
đến đất thì nó sinh công, thí dụ đập vỡ một vật gì
đó. Một thí dụ khác: điện năng và hóa năng có thể biến
thành nhiệt năng để phục vụ đời sống trong gia đình.
Trong vật lý thì năng lượng luôn luôn được gắn liền với
một tiến trình nhất định, một dạng hoạt động nào đó
và sự quan trọng căn bản là tổng số năng lượng tham gia
vào trong một tiến trình luôn luôn không đổi. Sự bảo toàn
năng lượng là một trong những qui luật căn bản quan trọng
nhất của vật lý. Nó có giá trị cho tất cả mọi hiện
tượng thiên nhiên được biết tới nay, người ta chưa thấy
qui luật này bị vi phạm bao giờ.
Khối
lượng của một vật lại là một thuộc tính để đo lường
trọng lượng của nó, tức là sức hút của trọng lực lên
vật thể đó. Ngoài ra khối lượng cũng là quán tính của
một vật, tức là sức đề kháng của nó chống lại gia tốc.
Vật thể càng nặng thì càng khó gia tốc nó hơn một vật
nhẹ, điều này ai cũng biết khi phải đẩy một chiếc xe.
Trong vật lý cổ điển thì khối lượng luôn luôn được
gắn liền với một dạng vật chất không thể phá hủy, tức
là từ chất liệu mà người ta cho là nguồn gốc của mọi
vật. Cũng như với năng lượng, người ta cho rằng chất liệu
này cũng được bảo toàn, một khối lượng không bao giờ
bị hủy diệt.
Bây
giờ thuyết tương đối đã chứng minh rằng, khối lượng
không gì khác hơn là một dạng của năng lượng. Năng lượng
không những có thể mang nhiều dạng khác nhau như trong vật
lý cổ điển đã biết, mà còn được chứa trong khối lượng
của một vật. Năng lượng chứa trong một hạt, tích số
của khối lượng hạt đó với bình phương vận tốc ánh
sáng, tức là:
E=mc2
Nếu
khối lượng được xem là dạng năng lượng thì không những
nó không thể phân hủy mà còn có thể được chuyển hóa
qua những dạng năng lượng khác. Điều này xảy ra khi các
hạt hạ nguyên tử va chạm nhau. Trong quá trình va chạm đó
thì các hạt có thể bị tiêu hủy và năng lượng chứa trong
chúng sẽ biến thành động năng, động năng đó sẽ phân
bố lên các hạt khác tham dự trong cuộc va chạm. Ngược lại
thì động năng của hạt di chuyển với những vận tốc rất
cao cũng có thể được dùng để hình thành khối lượng của
những hạt mới. Hình sau đây cho thấy một thí dụ rất lạ
của một sự va chạm như vậy: một photon (từ bên trái) đi
vào một phòng quang phổ, bắn một electron ra khỏi một nguyên
tử (vết hình xoắn), va vào một photon khác và sinh ra mười
sáu hạt mới trong cuộc va chạm này.
Sự
hình thành và phá hủy hạt vật chất là một trong những
hệ quả ấn tượng nhất của đẳng thức giữa khối lượng
và năng lượng. Trong các cuộc va chạm trong vật lý cao năng
lượng thì khối lượng không còn được bảo toàn. Các hạt
va chạm nhau bị phá hủy, khối lượng của chúng một phần
biến thành khối lượng, phần khác biến thành động năng
của các khối lượng mới sinh ra. Chỉ tổng số tất cả
năng lượng tham dự trong tiến trình đó, tức là tổng số
động năng cộng với năng lượng nằm trong dạng khối lượng,
tổng số đó phải được bảo toàn. Tiến trình va chạm các
hạt hạ nguyên tử là công cụ quan trọng nhất của ta để
nghiên cứu tính chất của chúng, và mối liên hệ giữa khối
lượng và năng lượng là chủ yếu nhằm mô tả chúng. Mối
liên hệ này đã được xác minh vô số lần và nhà vật lý
hạt nhân đã làm quen với tính tương đương giữa khối lượng
- năng lượng, đến nỗi họ đo khối lượng hạt nhân bằng
đơn vị tương ứng của năng lượng.
Trong
vật lý hiện đại, khối lượng không còn có một chất liệu
vật chất nữa và do đó mà người ta không còn nghĩ hạt
phải có một chất liệu căn bản nữa, mà nó là một chùm
năng lượng. Thế nhưng vì năng lượng luôn luôn liên hệ
với hoạt động, với tiến trình nên hạt hạ nguyên tử
phải có một thuộc tính động. Như đã thấy, chúng không
thể xem là những vật thể ba chiều tĩnh như trái banh bi-da
hay một hạt cát, mà chúng là một cấu trúc bốn chiều không-
thời gian. Dạng của chúng phải hiểu là động trong không
gian - thời gian. Hạt hạ nguyên tử là những cấu trúc động,
nó có khía cạnh không gian và khía cạnh thời gian. Khía cạnh
không gian cho phép nó xuất hiện như vật thể có khối lượng,
khía cạnh thời gian của nó là tiến trình với năng lượng
tương ứng.
Cấu
trúc động hay bó năng lượng này tạo nên cơ cấu nhân, nguyên
tử và phân tử ổn định, chúng xây dựng nên vật chất
và làm cho vật chất có dạng tưởng như nó gồm những chất
liệu chắc thật. Trên bình diện vĩ mô, khái niệm chắc thật
đó là một sự gần đúng có ích, còn trên bình diện nguyên
tử thì nó hết giá trị. Nguyên tử gồm các hạt và những
hạt đó không được cấu thành từ một chất liệu vật
chất nào cả. khi quan sát chúng, ta không hề thấy chất liệu
nào cả, điều mà ta thấy là những cấu trúc động, chúng
liên tục chuyển hóa lẫn nhau - một vũ điệu triền miên
của vũ trụ.
Thuyết
lượng tử cho thấy, hạt không phải là những đơn vị độc
lập mà là những cấu trúc xác suất liền lạc trong một
tấm lưới bất phân của vũ trụ. Còn thuyết tương đối
phải nói là đã cho cấu trúc đó sự sống, bằng cách vén
màn cho thấy tính chất động của nó. Nó chứng tỏ rằng
chính hoạt động của vật chất là cái tự tính đích thực
của sự hiện hữu của nó. Các hạt của thế giới hạ nguyên
tử không những là năng động vì chúng vận hành nhanh chóng,
mà cong vì bản thân chúng là những tiến trình! Sự hiện
hữu của vật chất và hoạt động của chúng không thể tách
rời lẫn nhau. Chúng đều chỉ là hai khía cạnh của một
thể thực tại không gian - thời gian.
Trong
những chương trước ta đã nói, nhận thức về sự dung thông
giữa không gian - thời gian đã đưa nền đạo học phương
Đông tới một thế giới quan động. Nghiên cứu kinh sách
của họ, ta sẽ thấy không những họ xem thế giới trong khái
niệm động,của sự trôi chảy và biến dịch, mà họ có
một tri kiến trực giác về tính chất của không gian - thời
gian của vật thể vật chất; tri kiến đó cũng là đặc trưng
của vật lý tương đối. Khi nghiên cứu thế giới hạ nguyên
tử, nhà vật lý phải thống nhất không gian - thời gian và
từ đó mà họ thấy vật thể của thế giới này, hạt không
phải tĩnh tại mà năng động, xem chúng là năng lượng, hoạt
động và tiến trình. Các nhà đạo học phương Đông, trong
tình trạng ý thức phi thường của họ, đã biết về sự
dung thông không gian - thời gian trên một bình diện vĩ mô
cũng như nhà vật lý nhìn hạt hạ nguyên tử. Một trong những
lời dạy chính yếu của Đức Phật là mọi pháp hữu vi đều
vô thường. Pháp là từ chỉ biến cố, hành động và sau
đó mới nói sự thật. Qua đó ta thấy thêm Phật giáo xem
tiến trình vận động là chủ yếu của thế giới. Hãy nghe
lời của D.T.Suzuki:
Người
theo Phật giáo quan niệm sự vật là tiến trình, không phải
là vật thể hay chất liệu…Khái niệm Phật giáo về “sự
vật” là samskara (hành), có nghĩa là “tạo tác” hay “tiên
trình”, điều đó nói rõ, Phật giáo hiểu kinh nghiệm của
chúng ta chính là thời gian và sự vận hành.
Cũng
như nhà vật lý hiện đại, Phật giáo xem mọi vật thể là
những tiến trình trong một dòng chảy rộng khắp và từ chối
sự hiện hữu của một chất liệu vật chất. Điều đó
ta cũng tìm thấy trong tư tưởng Trung quốc, trong đó có một
thế giới quan tương tự, xem sự vật là giai đoạn quá độ
trong sự trôi chảy miên viễn của đạo và họ quan tâm đến
mối liên hệ lẫn nhau giữa chúng hơn là tìm trong chúng một
chất liệu cơ bản. Joseph Needham viết: “Triết học phương
Tây tìm thực tại nơi chất liệu, triết học phương Đông
tìm thực tại nơi mối liên hệ”.
Yếu
tố cơ bản của vũ trụ trong quan điểm vật lý hiện đại
cũng như trong đạo học phương Đông là cấu trúc động;
là giai đoạn quá độ trong dòng chảy vĩnh viễn của thay
đổi và biến dịch (Trang Tử).
Theo
mức hiểu biết hiện nay thì cơ cấu cơ bản của vật chất
là những hạt hạ nguyên tử và tìm hiểu tính chất cũng
như tương tác của chúng là mục đích chính yếu của ngành
vật lý cơ bản. Ngày nay chúng ta biết đến hơn hai trăm hạt
cơ bản, phần lớn chúng là những hạt được hình thành
trong các cuộc thí nghiệm va chạm và chỉ có một thời gian
sống vô cùng ngắn, ít hơn cả một phần triệu giây đồng
hồ! Rõ ràng là những hạt sống hết sức non tuổi này chỉ
nói lên cấu trúc chuyển tiếp của những tiến trình động.
Vì thế xuất hiện câu hỏi cơ bản sau đây về cấu trúc
của những hạt đó: Đặc tính của chúng là gì để có thể
phân biệt hạt này hạt kia? Phải chăng chúng có những thành
phần nhỏ hơn, chúng bao gồm những cấu trúc gì? Chúng tác
động lên nhau như thế nào, có năng lực nào tác động giữa
chúng? Và cuối cùng, nếu bản thân chúng chỉ là tiến trình
thì đó là tiến trình gì?
Chúng
ta biết rõ tất cả những câu hỏi trên nối kết với nhau
không tách rời được trong nền vật lý hạt nhân. Vì tính
tương đối của các hạt hạ nguyên tử, chúng ta sẽ không
hiểu tính chất của chúng nếu không để ý tới mối liên
hệ giữa chúng, và vì mối liên hệ cơ bản của chúng, ta
sẽ không hiểu một hạt nào nếu không hiểu những hạt khác.
Những chương sau đây sẽ chỉ rõ chúng ta đã hiểu hạt và
mối liên hệ giữa các hạt tới đâu. Mặc dù ta chưa có
một lý thuyết hoàn chỉnh lượng tử - tương đối, thế
nhưng vẫn có nhiều lý thuyết và mô hình từng phần được
đề ra, mô tả thành công vài khía cạnh của thế giới này.
Sự giải thích về những lý thuyết và mô hình này sẽ dẫn
đến những khái niệm triết học, chúng đặc biệt phù hợp
với khái niệm của đạo học phương Đông.