Tri
kiến về tính phân cực của mọi đối lập, rằng ánh sáng
và bóng tối, được và thua, tốt và xấu chỉ là khía cạnh
khác nhau của một hiện tượng, là một trong những nguyên
lý nền tảng của triết lý sống phương Đông...
CHƯƠNG
11
VƯỢT
TRÊN THẾ GIỚI NHỊ NGUYÊN
Khi
nhà đạo học phương Đông nói họ chứng mọi sự và biến
cố là hiện thân của một nhất thể cơ bản, điều đó
không có nghĩa là họ xem mọi sự vật như nhau. Họ thừa
nhận tính cá thể của mọi sự, nhưng đồng thời cũng ý
thức rằng, trong tính toàn thể bao trùm thì mọi khác biệt
và đối lập đều tương đối cả. Đối với ý thức thông
thường của chúng ta, thật khó chấp nhận tính thống nhất
của mọi khác biệt - nhất là tính thống nhất của mọi
đối lập. Đối với thế giới quan phương Đông, nó là nền
tảng, đồng thời nó cũng là một trong những nét làm ta hoang
mang nhất.
Cặp
đối lập là những khái niệm trừu tượng, chúng thuộc về
lĩnh vực của tư tưởng và vì thế chúng chỉ là tương đối.
Chỉ việc tập trung chú ý lên bất kỳ một khái niệm nào
là chúng ta đã tạo ra cái đối lập với nó rồi. Lão Tử
nói: “Thiên hạ đều biết tốt là tốt, thì đã có xấu
rồi; đều biết lành là lành, thì đã có cái chẳng lành
rồi”. Vì thế mà nhà đạo học vượt qua lĩnh vực của
khái niệm suy luận và nhờ đó mà nhận biết cái tương đối
và mối liên hệ hai cực của mọi đối lập. Họ nhận thức
rằng, tốt và xấu, sướng và khổ, sống và chết không phải
là những kinh nghiệm có tính tuyệt đối, thuộc về các loại
hình khác nhau, mà chỉ là hai mặt của một thực tại duy
nhất; chúng là hai cực của một cái toàn thể. Đạt được
tâm thức nhận ra rằng mọi đối lập chỉ là hai cực và
tất cả là một thể thống nhất, đạt đến như thế được
xem là một trong những mục đích cao cả nhất của con người
trong truyền thống tâm linh phương Đông. “Hãy an trụ mãi
mãi trong thực tại, đứng ngoài mọi mâu thuẫn thế gian!”,
đó là lời khuyên của Krishna trong Chí tôn ca (Bhagavad Gita)
và lời khuyên này cũng được truyền cho Phật tử. D.T.Suzuki
viết như sau:
Ý
niệm cơ bản của Phật giáo là, vượt khỏi thế giới của
những đối lập, thế giới của sự phân biệt do óc suy luận
dựng lên, thế giới của ô nhiễm do cảm thọ gây ra, và
nhận ra thế giới huyền vi của trí vô phân biệt, thế giới
đó chứa đựng sự chứng đạt tri kiến tuyệt đối 2.
Toàn
bộ giáo lý Phật giáo, hay cả toàn thể đạo học phương
Đông nói về tri kiến tuyệt đối này, tri kiến chỉ đạt
được trong thế giới vô niệm, trong đó sự thông nhất toàn
thể mọi nhị nguyên đối lập là sự chứng thực sinh động.
Sau
đây là lời một thiền sư:
Buổi
tối nghe gà gáy sáng
Nửa đêm thấy mặt trời soi.
Tri
kiến về tính phân cực của mọi đối lập, rằng ánh sáng
và bóng tối, được và thua, tốt và xấu chỉ là khía cạnh
khác nhau của một hiện tượng, là một trong những nguyên
lý nền tảng của triết lý sống phương Đông. Vì mọi mặt
đối lập phụ thuộc lẫn nhau, nên mối mâu thuẫn của chúng
không bao giờ được giải quyết bằng sự thắng lợi hoàn
toàn của một bên mà luôn luôn phải là biểu hiện của sự
tương tác của hai bên. Do đó, tại phương Đông, người đúng
lý không phải là người làm việc bất khả thi, là chỉ hướng
về cái tốt, trừ diệt cái xấu, mà là người giữ được
cân bằng giữa cái xấu và tốt.
Khái
niệm về sự cân bằng động là quan trọng để hiểu được
tính thống nhất giữa các mặt đối lập trong đạo học
phương Đông. Tính đó không hề tĩnh tại, nó là một sự
tương tác năng động của hai cực. Khía cạnh này được
nhấn mạnh rõ nhất thông qua đồ hình âm - dương của thánh
nhân Trung Quốc. Họ xem cái nhất thể đứng sau âm - dương
là Đạo và xem Đạo là gốc của sự tương tác:
Cái
đã sinh ra sáng ra tối, cái đó là Đạo.
Sự
nhất thể năng động của hai cực nhị nguyên có thể được
biểu diẽn bằng một thí dụ đơn giản với một chuyển
động vòng tròn và hình chiếu của nó. Hãy cho một trái bóng
quay vòng tròn. Nếu vận động này được chiếu lên màn thì
ta thấy nó như chuyển động tuần hoàn giữa hai cực. Để
làm sáng tỏ sự tương tự với tư tưởng Trung Quốc, tôi
gọi vòng tròn là “Đạo” và hai cực là “Âm” và “Dương”.
Trái bóng quay với vận tốc đều, nhưng trên hình chiếu thì
nó đi chậm lại khi đến các biên, quay đầu, đi nhanh hẳn
rồi lại đi chậm lại và cứ thế ở trong một sự tuần
hoàn vô tận.
Trong
hình chiếu thì vận động vòng tròn hiện ra như một vận
động tuần hoàn giữa hai cực đối lập nhau, nhưng trong sự
vận động thực sự thì chúng thống nhất liên lạc với
nhau. Hình ảnh này của một sự thống nhất động đã được
các nhà tư tưởng Trung Quốc nói đến, thí dụ Trang
Tử.
Một
trong những cặp đối lập căn bản trong cuộc sống là dương
tính và âm tính của tính chất con người. Như cặp tốt -
xấu và sống - chết chúng ta dễ thiên lệch với cặp đối
lập âm - dương trong chính ta và thường được nghiêng về
một trong hai bên.
Xã
hội phương Tây có truyền thống coi trọng dương tính hơn
âm tính. Thay vì nhận thức rằng tính cách của mỗi người
đàn ông hay đàn bà là kết quả của sự tương tác của
hai yếu tố âm dương thì xã hội lại đặt ra một quan niệm
tĩnh tại là tất cả đàn ông phải là dương tính và tất
cả đàn bà là âm tính và cho người đàn ông một vai trò
lãnh đạo cũng như phần lớn những đặc quyền xã hội.
Quan niệm này sinh ra một sự nhấn mạnh quá mức tất cả
khía cạnh dương tính của tính chất con người: chủ động,
tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến v.v… Dạng
âm tính của ý thức, xuất hiện trong trực giác, tôn giáo,
huyền bí, tâm linh, tâm lý… luôn luôn bị thua thiệt trong
xã hội thiên về dương tính.
Trong
nền đạo học phương Đông thì mặt âm tính được phát
triển hơn và người ta tìm kiếm sự thống nhất giữa hai
khía cạnh của tính chất con người. Một người phát triển
toàn diện theo Lão Tử phải là: “Tri kỳ hùng; Thủ kỳ thư
(Biết như con trống; Giữ như con mái)”. Trong nhiều trường
phái đạo học phương Đông, giữ sự cân bằng năng động
giữa dạng âm dương của ý thức là mục đích chính của
thiền định và thường được trình bày trong các tác phẩm
nghệ thuật. Một bức tượng tuyệt vời của thần Shiva trong
đền thờ Ấn Độ giáo ở Elephanta cho thấy ba khuôn mặt
của đấng sáng tạo: phía mặt diễn tả khía cạnh dương
tính đầy sức mạnh và ý chí, phía trái mặt âm tính mềm
dịu, hấp dẫn, quyến rũ và ở giữa là sự thống nhất
hoàn toàn ở hai khía cạnh trong tượng bán thân của Shiva
Mahesvara, vị đại thiên tràn đầy tĩnh lặng và sự cao quí.
Trong đền này người ta cũng thấy Shiva được biểu diễn
bằng hai dạng, nửa nam, nửa nữ, và dáng điệu mềm mại
của một thân thể thần tiên và khuôn mặt rực sáng thanh
thoát biểu diễn sự thống nhất năng động của hai yếu
tố âm dương.
Trong
Phật giáo Tantra, hai cực âm dương thường được biểu diễn
bằng hình tượng nhục tính. Tuệ giác được xem là yếu
tố âm, thụ động của tự tính con người. Từ bi là dương
tính và sự thống nhất hai yếu tố này trên tiến trình giác
ngộ được diễn tả bằng sự giao phối nhục dục của nam
thần và nữ thần. Nhà đạo học phương Đông cho rằng sự
thống nhất hai mặt âm dương chỉ được chứng thực trên
bình diện ý thức cao cấp, nơi mà lĩnh vực của ngôn ngữ
và tư tưởng được chuyển hóa và trong đó mọi tính chất
nhị nguyên đối lập hiện ra thành nhất thể năng động.
Như
đã nói, nền vật lý hiện đại đã đạt tới một bình
diện tương tự. Sự nghiên cứu thế giới hạ nguyên tử
đã phát hiện ra một thực tế, thực tế đó luôn luôn vượt
trên ngôn ngữ và lý luận logic và sự thống nhất những
khái niệm vốn từ xưa đến nay đối nghịch nhau, loại trừ
lẫn nhau, sự thống nhất đó đã tự chứng tỏ là một trong
những nét xuất sắc nhất của thực tế mới mẻ này.
Ta
có thể tìm thấy nhiều thí dụ trong vật lý hiện đại về
tính nhất thể của những khái niệm đối lập ở bình diện
hạ nguyên tử, trong đó hạt vừa huỷ diệt được vừa không
huỷ diệt được, vật chất vừa liên tục vừa phi liên tục,
năng lượng và vật chất chỉ là hai khía cạnh khác nhau của
cùng một hiện tượng. Trong tất cả những thí dụ đó mà
về sau ta còn tiếp tục xét đến, thì khuôn khổ của những
khái niệm đối lập, do kinh nghiệm hàng ngày phát sinh ra,
đối diện với bình diện của hạt hạ nguyên tử, khuôn
khổ đó quá chật hẹp. Thuyết tương đối là then chốt để
mô tả thế giới đó và trong hệ thống tương đối thì các
khái niệm cổ điển đã bị chuyển hóa, trong đó người
ta thêm một chiều mới, tiến tới một hệ thống bốn chiều
không - thời gian. Bản thân không gian - thời gian tưởng chừng
như hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, nhưng trong thuyết tương
đối, chúng đã được thống nhất. Tính nhất thể cơ bản
này chính là sự thống nhất các mặt đối lập đã nói ở
trên. Như sự chứng thực của các nhà đạo học về sự
thống nhất tính nhị nguyên, sự nhất thể cũng chỉ xảy
ra trên một bình diện cao hơn, ở đây tức là thêm một chiều
mới, và cũng như chứng thực tâm linh, sự nhất thể cũng
có tính động, vì thực tại đã bị tương đối hóa trong
không - thời gian là một thực tại luôn luôn hoạt động,
trong đó vật thể bản thân nó là một tiến trình và tất
cả mọi dạng hình đều là cấu trúc động.
Để
minh chứng sự nhất thể của các đại lượng tưởng chừng
tách biệt ,ta không cần thuyết tương đối. Người ta cũng
có thể nhận ra nó khi ta đi từ một lên hai chiều, hay từ
hai lên ba chiều. Trong thí dụ kể trên về sự vận động
vòng tròn và hình chiếu của nó, ta thấy chuyển động tuần
hoàn với hai cực là chuyển động một chiều (dọc theo hình
chiếu) đã được thống nhất trong chuyển động xoay tròn
hai chiều (trong một mặt phẳng). Hình sau đây đưa ra một
thí dụ, đi từ hai chiều lên ba chiều.
Hình
vẽ này vẽ một ống tròn (như ruột bánh xe), được cắt
bởi một mặt phẳng nằm ngang. Trong mặt phẳng hai chiều,
hai miếng bị cắt đó xuất hiện như hai đĩa tròn hoàn toàn
độc lập, nhưng trong cơ cấu ba chiều ta thấy chúng là thành
phần của một vật thể duy nhất.
Một
sự thống nhất tương tự của những đơn vị tưởng chừng
độc lập và không thể phù hợp với nhau cũng đạt được
khi đi từ ba chiều qua bốn chiều trong lý thuyết tương đối.
Trong thế giới bốn chiều của vật lý tương đối thì khối
lượng và lực đã được thống nhất, tại đó khối lượng
có thể xuất hiện dưới dạng hạt có tính phi liên tục
hay trường có tính liên tục. Thế nhưng, trong những trường
hợp vừa kể thì ta hết tưởng tượng được tính thống
nhất của chúng nữa. Nhà vật lý có thể biết không
gian bốn chiều bằng toán học trừu tượng, nhưng khả năng
tưởng tượng ra hình ảnh của họ cũng như mọi người khác,
bị giới hạn trong không gian ba chiều. Ngôn ngữ cũng như
cấu trúc tư duy của chúng ta cũng được phát triển trong
thế giới ba chiều này và do đó ta làm việc với thực tại
bốn chiều của nền vật lý tương đối hế sức khó khăn.
Mặt
khác, hình như các nhà đạo học phương Đông có cách chứng
đạt một cách cụ thể và trực tiếp một thực tại nhiều
chiều. Trong dạng thiền quán sâu xa, họ có thể vượt qua
thế giới hàng ngày ba chiều và chứng thực tại hoàn toàn
khác, trong đó mọi mâu thuẫn nhị nguyên được thống nhất
trong một sinh cơ toàn thể. Khi tìm cách dùng ngôn từ để
diễn tả kinh nghiệm của họ, họ cũng gặp khó khăn y như
nhà vật lý tìm cách nói về thực tại bốn chiều trong vật
lý tương đối. Lama Govinda nói:
Nhờ
sự tổng hoà các chứng đạt trong những trung tâm ý thức
khác nhau mà một chứng thực của tầng cao hơn được thực
hiện. Do đó không mô tả được chứng thực nhất định
của thiền quán trên bình diện của tư duy ba chiều, trong
một logic bị hạn chế vì phải ép mình theo bình diện
đó.
Hình
ảnh của một sóng, chúng lan rộng mãi trong không gian; nó
phải khác hẳn với hình ảnh của một hạt có vị trí chính
xác. Nhà vật lý phải cần thời gian dài mới chấp nhận
được thực tế là, vật chất biểu hiện dưới hai cách,
dường như loại trừ lẫn nhau, đó là hạt vừa là sóng và
sóng vừa là hạt...
Trong
vật lý hiện đại, thế giới bốn chiều của thuyết tương
đối không phải là thí dụ duy nhất, trong đó những khái
niệm mâu thuẫn lẫn nhau, tưởng không thống nhất với nhau,
cuối cùng chỉ được xem là những khía cạnh của một thực
thể. Trường hợp tiêu biểu nhất của sự thống nhất những
khái niệm mâu thuẫn có lẽ là khái niệm sóng và hạt trong
vật lý hiện đại.
Trên
bình diện nguyên tử thì vật chất có hai khía cạnh: nó xuất
hiện dưới dạng hạt và dạng sóng. Tuỳ theo trạng thái
mà nó cho thấy dạng nào, có khi khía cạnh hạt rõ nét hơn;
trong trạng thái khác, các hạt đó có tính chất như sóng.
Tính chất hai mặt đó cũng là tính chất của ánh sáng và
tất cả các tia điện từ khác. Thí dụ ánh sáng được phát
ra và hấp thụ dưới dạng lượng tử (quanta) hay quang tử
(photon), nhưng khi những hạt này di chuyển trong không gian,
chúng xuất hiện như những trường điện, trường từ rung
động có tất cả đặc trưng của sóng. Các hạt electron thường
được xem là hạt, thế nhưng cho chúng chạy lọt qua một
khe nhỏ thì chúng lại có hiện tượng khúc xạ ánh sáng,
nói cách khác: electron có tính chất sóng.
Tính
chất hai mặt lạ lùng này của vật chất và tia bức xạ
làm nảy sinh ra nhiều công án lượng tử, nhờ thế mà ngành
vật lý có được thuyết lượng tử. Hình ảnh của một
sóng, chúng lan rộng mãi trong không gian; nó phải khác hẳn
với hình ảnh của một hạt có vị trí chính xác. Nhà vật
lý phải cần thời gian dài mới chấp nhận được thực tế
là, vật chất biểu hiện dưới hai cách, dường như loại
trừ lẫn nhau, đó là hạt vừa là sóng và sóng vừa là hạt.
Khi
nhìn hai hình trên, người ngoài ngành có thể cho rằng, mâu
thuẫn này có thể giải quyết được bằng cách nói rằng
hạt đã di chuyển không phải bằng đường thẳng mà bằng
đường gợn sóng! Nói như thế là không hiểu đúng tính chất
của sóng. Trong thiên nhiên không có hiện tượng hạt di chuyển
theo hình gợn sóng. Thí dụ trong nước, các hạt nước không
chạy theo sóng, nó chỉ quay tròn khi sóng chạy ngang (xem hình
dưới). Tương tự như thế, trong sóng âm thanh các phần tử
không khí chỉ rung động tại chỗ, chứ không chạy theo sóng
âm thanh đi đâu cả. Hiện tượng sóng chỉ tạo nhiễu, sóng
mang nhiễu chứ không mang hạt khối lượng. Do đó trong thuyết
lượng tử, khi nói hạt là sóng, ta không hề ám chỉ đường
đi của hạt có dạng sóng. Điều ta muốn nói là, toàn bộ
cơ cấu sóng là một biểu hiện của hạt.
Hình
ảnh của một sóng di động như thế rất khác với một hạt
di động, chúng khác nhau như “sóng trên mặt biển với đàn
cá bơi cùng chiều trong dó” (V.Webkopf).
Hiện
tượng sóng được tìm thấy khắp nơi trong vật lý, trong
nhiều mối liên hệ khác nhau, nó được mô tả bằng những
công thức toán học như nhau, bất kỳ nó xảy ra ở đâu.
Những công thức này được sử dụng để mô tả sóng ánh
sáng, sự rung động của một sợi dây đàn, sóng âm thanh
hay sóng trên nước. Trong thuyết lượng tử, chúng được
dùng để mô tả tính chất sóng của hạt. Thế nhưng ở đây
thì sóng trừu tượng hơn nhiều. Chúng liên hệ trực tiếp
với tính chất thống kê của thuyết lượng tử, tức là
mọi hiện tượng nguyên tử chỉ có thể diễn tả bằng xác
suất. Những thông tin về xác suất của một hạt được
chứa đựng trong một đại lượng gọi là hàm số xác suất
và dạng toán học cho đại lượng này là dạng của một
sóng, tức là nó giống như những dạng dùng để mô tả các
loại sóng khác. Thế nhưng những sóng liên hệ với hạt này
không phải là những sóng “thật” ba chiều như sóng trên
nước, sóng âm thanh mà là “sóng xác suất”, là những đại
lượng toán học trừu tượng. Hàm xác suất chỉ ra một hạt
tại những vị trí khác nhau, với những tính chất khác nhau.
Trong
một nghĩa nhất định, việc sử dụng sóng xác suất giải
quyết được sự nghịch lý do tính chất của hạt sinh ra,
bằng cách đặt sự mâu thuẫn đó trong một khuôn khổ hoàn
toàn mới. Khuôn khổ này dẫn đến một cặp khái niệm đối
lập khác, khái niệm này còn cơ bản hơn nữa, đó là hiện
hữu - phi hiện hữu.
Cặp
đối lập này cũng được chuyển hóa trong thực tại của
nguyên tử. Không bao giờ ta có thể nói một hạt cơ bản
hiện hữu tại một chỗ nhất định, ta cũng không thể nói
nó không hiện hữu. Vì là một cấu trúc xác suất, hạt có
khả năng hiện hữu tại nhiều nơi, và vì thế nó biểu hiện
một thực tại lý tính kỳ lạ giữa hiện hữu - phi hiện
hữu, giữa có - không. Do đó ta không thể mô tả trạng thái
của hạt trong khái niệm dứt khoát có - không được. Tại
một điểm nhất định thì nó vừa không có mặt, vừa không
vắng mặt. Nó không di động, nó cũng không yên nghỉ. Điều
thay đổi chỉ là cấu trúc xác suất và khả năng của hạt
có mặt hay không có mặt tại một chỗ nhất định:
Thí
dụ khi ta hỏi, liệu electron vẫn giữ nguyên vị trí hay không,
ta phải trả lời “không”, khi ta hỏi, liệu vị trí electron
có thay đổi theo thời gian không, ta phải trả lời “không”;
khi ta hỏi, liệu electron nằm yên, ta phải trả lời “không”,
khi ta hỏi, liệu nó đang vận động, ta phải trả lời “không”
(J.R.Oppenheimer).
Thực
tại của nhà vật lý cũng như nhà đạo học phương Đông
đã vượt qua khung nhỏ hẹp của những khái niệm đối lập.
Lời của Oppenheimer vang lên như tiếng dội của những dòng
Các bài thuyết giảng (Upanishad):
Nó
vận động. Nó không vận động
Nó ở xa và nó ở gần
Nó nằm trong tất cả những thứ ấy,
và nằm ngoài tất cả những thứ ấy.
Vật
chất và lực, sóng và hạt, vận động và tĩnh tại, có và
không, đó là vài khái niệm đối lập nhau hay mâu thuẫn nhau,
chúng đã được vật lý hiện đại chuyển hóa. Trong tất
cả những cặp đối lập này thì cặp cuối cùng (có - không)
xem ra là cái cơ bản nhất; thế nhưng trong vật lý nguyên
tử, chúng ta còn phải vượt xa lên khái niệm có - không nữa.
Trong thuyết lượng tử thì điều này khó chấp nhận nhất
và đó là nguyên nhân tại sao những thảo luận hiện nay vẫn
còn nặng nề về cách lý giải thuyết này. Song song, sự chuyển
hóa khái niệm có - không cũng là một trong những khía cạnh
bí ẩn của đạo học phương Đông. Cũng như nhà vật lý,
nhà đạo học tới với một thực tại nằm bên kia có - không
và họ nhấn mạnh đến thực tại quan trọng này. Mã Minh
nói:
Chân
Nhi phi tướng “có”, phi tướng “không”; phi tướng “chẳng
phải có”, phi tướng “chẳng phải không”; phi tướng “cũng
có và cũng không”.
Trước
một thực tại nằm ngoài những khái niệm đối lập, nhà
vật lý và nhà đạo học phải làm quen với một cách tư
duy đặc biệt, trong đó óc suy luận không bị gò bó nguyên
tắc trong cơ cấu của logic cổ điển mà nó phải thay đổi
cách nhìn một cách liên tục. Thí dụ, trong vật lý nguyên
tử ta đã làm quen với mô tả vật chất vừa bằng khái niệm
hạt, vừa bằng khái niệm sóng. Chúng ta đã học cách phải
chấp nhận cả hai hình ảnh này, chuyển đổi qua lại để
có thể hiểu được thực thể nguyên tử. Đây cũng chính
là cách các nhà đạo học phương Đông nghĩ ra khi họ cố
gắng trình bày về một thực tại nằm bên kia của đối
lập. Hãy nghe Lama Govinda nói: “Cách tư duy phương Đông
giống như đi vòng xung quanh sự vật mà nhìn… nó sinh ra một
ấn tượng nhiều mặt, nhiều chiều, nó là sự chồng lên
nhau của nhiều ấn tượng do nhiều cách nhìn khác nhau sinh
ra”.
Để
thấy người ta chuyển đổi qua lại hình ảnh của sóng và
hạt thế nào trong vật lý nguyên tử, chúng ta hãy xét kỹ
hơn khái niệm sóng và hạt. Sóng là một cấu trúc dao động
trong không gian và thời gian. Trong một thời điểm nhất định,
ta có thể xét nó và thấy đó là một dạng tuần hoàn như
hình sau đây.
Cấu
trúc này có đặc điểm là biên độ A, chiều cao của sóng
và độ dài sóng L, khoảng cách giữa hai đỉnh sóng. Trong
một cách nhìn khác, ta có thể xét sự vận động của một
điểm nhất định của sóng, ta sẽ thấy một dao động với
một tần số nhất định, tần số đó cho biết trong một
giây, điểm đó dao động lui tới bao nhiêu lần. Bây giờ
ta hãy xét tới hạt. Theo hình dung cổ điển thì cứ mỗi
thời điểm hạt ở một chỗ nhất định và trạng thái vận
động của nó. Hạt càng có vận tốc cao thì càng chứa nhiều
động năng. Trong thực tế thì nhà vật lý ít dùng vận tốc
để diễn tả tình trạng vận động mà dùng “xung lực”,
đó là tích số của khối lượng và vận tốc của hạt.
Thuyết
lượng tử nối tính chất của một sóng xác suất với tính
chất của hạt liên hệ bằng cách xem biên độ của một
sóng tại một chỗ nhất định tỉ lệ với xác suất sẽ
tìm thấy hạt tại chỗ đó. Biên độ của sóng càng lớn
thì càng dễ thấy hạt tại đó, biên độ càng nhỏ thì càng
khó tìm thấy nó. Thí dụ theo hình trên, biên độ như nhau
và do đó xác suất có thể tìm thấy hạt là bằng nhau suốt
trong sóng.
Thông
tin về tình trạng vận động của một hạt được chứa
trong độ dài sóng và tần số. Độ dài sóng tỉ lệ nghịch
với xung lượng của một hạt, tức là, một sóng có độ
dài sóng ngắn (tức là tần số cao) ứng với một hạt có
xung lượng lớn (tức vận tốc lớn). Như thế, tần số sóng
tỉ lệ thuận với năng lượng của hạt, một sóng có tần
số cao có nghĩa là hạt liên hệ có năng lượng lớn. Thí
dụ tia cực tím có tần số cao, độ dài sóng ngắn và do
đó chứa những photon có năng lượng cao, xung lượng lớn;
ngược lại photon của ánh sáng đỏ với tần số thấp và
độ dài sóng lớn chỉ chứa năng lượng ít, xung lượng thấp.
Trong
thí dụ này, một sóng khi truyền đi không cho ta biết rõ về
vị trí của hạt. Dọc theo sóng với xác suất bằng nhau thì
ở đâu cũng có khả năng như nhau để tìm thấy nó. Thế
nhưng chúng ta hay gặp tình trạng có những hạt mà ta biết
khá rõ chúng ở đâu, thí dụ khi mô tả electron trong một
nguyên tử. Trong trường hợp đó thì xác suất tìm ra một
hạt một chỗ nào đó chỉ giới hạn trong một không gian
nhất định. Ngoài không gian này thì xác suất của nó phải
bằng không. Trường hợp này xảy ra, như hình sau đây mô
tả, đó là dạng sóng chỉ nằm trong một khoảng X. Dạng
này được gọi là bó sóng. Bó sóng bao gồm nhiều sóng khác
nhau với độ dài sóng cũng khác nhau, chúng giao thoa và triệt
tiêu lẫn nhau bên ngoài X, tức là tổng số biên độ của
chúng - chính là độ xác suất tìm ra hạt - triệt tiêu bằng
không, trong lúc trong X thì có dạng sóng. Dạng này chứng tỏ
rằng, hạt nằm đâu đó trong X, thế thôi, không cho biết
rõ thêm. Đối với những điểm trong X ta chỉ có thể nói
lên độ xác suất của sự hiện diện của hạt (hạt có
lẽ hiện diện ở trung tâm, nơi đó xác suất cao nhất, đó
là nơi biên độ lớn nhất, càng ra xa càng nhỏ). Do đó, độ
dài X của bó sóng chỉ độ bất định của vị trí hạt.
Tính
chất quan trọng của một bó sóng là độ dài sóng của nó
không được định nghĩa rõ, tức là khoảng cách giữa hai
đỉnh sóng không bằng nhau trong toàn bộ cấu trúc. Độ dài
sóng tại hai biên (của X) lớn hơn độ dài sóng ở giữa,
sự khác biệt đó phụ thuộc vào X, sự khác biệt càng lớn
nếu X càng nhỏ. Điều này chưa lên hệ gì tới thuyết lượng
tử, nó chỉ là tính chất của sóng nói chung. Thuyết lượng
tử chỉ nhập cuộc khi người ta xem độ dài sóng và xung
lượng (hay vận tốc) của hạt đó có liên hệ mật thiết
với nhau. Cụ thể là khi không định nghĩa được độ dài
sóng, người ta cũng không định nghĩa được xung lượng của
hạt. Điều đó có nghĩa là không những chỉ có một sự
bất định về vị trí của hạt, như độ dài X của bó sóng
nói rõ, mà còn có một sự bất định của xung lượng gây
ra từ sự khác biệt độ dài sóng ở giữa và hai biên của
bó sóng. Hai sự bất định này phụ thuộc lẫn nhau, vì X
càng nhỏ (bất định vị trí) thì sự khác biệt của độ
dài sóng (bất định vận tốc) càng lớn. Nếu ta ép hạt
vào một vị trí thật chính xác, tức là bó sóng sẽ rất
ngắn thì độ dài sóng rất khác nhau giữa trung tâm và biên
độ, thì ta có sự bất định về xung lượng (hay vận tốc)
của hạt.
Định
luật toán học về mối liên hệ giữa hai sự bất định
về vị trí và xung lượng chính là định luật bất định
của Heisenberg, hay nguyên lý bất định. Điều đó có nghĩa
là trong vật lý hạ nguyên tử không bao giờ ta biết được
vị trí và xung lượng của một hạt, với độ chính xác
cao.
Vị
trí của hạt càng rõ thì ta càng mơ hồ về xung lượng của
nó, và ngược lại. Ta có thể quyết định đo lường chính
xác trị số nào trong hai, nhưng trị số kia sẽ bị che kín.
Sự hạn chế này, như đã nói trong chương trước, không phải
do máy móc đo lường kém hiện đại, mà đó là một sự hạn
chế có tính nguyên tắc. Nếu ta muốn đo lường chính xác
vị trí của hạt thì nó không có một cái gọi là xung lượng
chính xác để đo, và ngược lại.
Mối
liên hệ giữa sự bất định vị trí và xung lượng của
hạt không phải là dạng duy nhất của nguyên lý bất định.
Có những liên hệ tương tự giữa các trị số khác, thí
dụ giữa thời gian mà một tiến trình nguyên tử cần đến
và năng lượng. Điều này cũng dễ hiểu nếu ta xem bó sóng
bây giờ không phải là dao động trong không gian nữa mà theo
thời gian, khoảng cách X bây giờ trở thành thời gian T. Khi
một hạt đi ngang qua một điểm đo lường nhất định, thì
cơ cấu sóng bắt đầu dao động (tại T=0) với biên độ
nhỏ, sau đó biên độ lớn dần và cuối cùng giảm lại và
chấm dứt (T=T). Thời gian T mà hạt cần để thực hiện xong
tiến trình này là thời gian nó đi ngang qua điểm đo của
chúng ta. Chúng ta có thể nói quá trình đó xảy ra trong khoảng
thời gian T đó, nhưng ta không thể nói chính xác lúc nào.
Khoảng thời gian T là sự bất định về thời gia của tiến
trình này.
Cũng
như trong sự dao động không gian, ở đây ta cũng không định
nghĩa được độ dài sóng, mà vì độ dài sóng trong thời
gian nói lên tần số, tức là không định nghĩa được tần
số. Thuyết lượng tử liên kết tần số của sóng với năng
lượng của hạt, nên không định nghĩa được tần số có
nghĩa là ta có bất định về năng lượng. Như thế mối liên
hệ giữa sự bất định về thời điểm và sự bất định
về năng lượng cũng tương tự như sự bất định giữa vị
trí và xung lượng như ở trên. Điều đó có nghĩa là không
bao giờ cùng lúc ta khẳng định được thời gian T của một
tiến trình và năng lượng tương quan với nó. Một tiến trình
mà chỉ cần một khoảng thời gian rất ngắn có nghĩa cho
một sự bất định lớn về năng lượng: tiến trình cần
một năng lượng chính xác thì chỉ có thể xác định trong
một thời gian dài hơn.
Ý
nghĩa then chốt của nguyên lý bất định là nó cho thấy những
hạn chế của khái niệm cổ điển của chúng ta, cho thấy
bằng công thức chính xác của toán học. Như trước đây
đã mô tả, thế giới hạ nguyên tử hiện ra như một mạng
lưới đầy các mối liên hệ giữa những thành phần khác
nhau của một cái toàn thể.
Những
khái niệm cổ điển của chúng ta, xuất phát từ những khái
niệm thông thường vĩ mô, chúng không phù hợp để mô tả
thế giới. Trước hết là khái niệm của một đơn vị lý
tính riêng biệt, khi áp dụng lên một hạt thì đó chỉ là
sự lý tưởng hóa, không có ý nghĩa đích thực. Hạt chỉ
có thể định nghĩa trong mối quan hệ với cái toàn thể và
những quan hệ này đều có tính chất xác suất, có tính khả
năng nhiều hơn là khẳng định. Khi ta mô tả những chất
của một đơn vị đó bằng những khái niệm cổ điển như
vị trí, năng lượng, xung lượng v.v… ta thấy xuất hiện
ra nhiều cặp khái niệm, chúng liên hệ với nhau và không
thể định nghĩa một cách chính xác cùng một lúc được.
Khi ta càng coi trọng một khái niệm của một vật thể thì
khái niệm kia sẽ càng bất định và nguyên lý bất định
chỉ rõ mối liên hệ chính xác giữa chúng với nhau.
Nhằm
làm sáng tỏ mối liên hệ của những khái niệm cổ điển,
Niels Bohr đã đưa ra khái niệm bổ sung. Ông xem hình ảnh hạt
và hình ảnh sóng là hai dạng bổ sung lẫn nhau để mô tả
một thực thể, mỗi hình ảnh đều chỉ đúng một phần
và chỉ có khả năng ứng dụng hạn chế. Để mô tả hoàn
toàn thực thể nguyên tử, cả hai hình ảnh này đều cần
thiết và cả hai đều được sử dụng trong giới hạn mà
định luật bất định đã xác định.
Khái
niệm bổ sung này đã giúp nhà vật lý một phần quan trọng
trong cái nhìn về thế giới tự nhiên và Bohs cũng thường
nói rằng, nó có thể hữu ích cho cả ngoài môn vật lý. Thực
tế là khái niệm bổ sung đã đóng một vai trò cự kỳ quan
trọng cách đây hai ngàn năm trăm năm trong thế tư tưởng
cổ đại Trung Quốc, trong đó người ta đã biết rằng những
khái niệm đối lập và phân cực - hay bổ túc - thật ra chúng
liên hệ với nhau. Các vị hiền triết Trung Quốc diễn tả
sự bổ túc lẫn nhau của các mặt đối lập bằng hình tượng
Âm - Dương và thấy mối liên hệ động của chúng nằm ngay
trong mọi hiện tượng thiên nhiên và mọi tình huống của
con người.
Chắc
chắn Niels Bohs cũng đã thấy sự tương đồng giữa khái niệm
bổ sung của ông với tư tưởng Trung Quốc. Năm 1937 khi viếng
Trung Quốc, lúc đã hình thành lý thuyết lượng tử, khái
niệm về đối cực của Trung Quốc tác động mạnh lên ông
và cũng kể từ đó ông bắt đầu quan tâm đến văn hóa phương
Đông. Mười năm sau, Bohs được phong tước, thành tựu khoa
học phi thường cũng như sự đóng góp vào nền văn hóa Đan
Mạch của ông được thừa nhận. Khi tìm một biểu hiện
phù hợp cho mình, Bohs đã lấy đồ hình Thái cực, đồ hình
diễn tả tính chất bổ túc của hai đối cực Âm - Dương.
Với sự lựa chọn biểu tượng này với dòng chữ “Contraria
sunt complementa” (Đối cực chính là bổ sung) Bohs đã nhận
ra sự hòa điệu sâu sắc giữa nền đạo học phương Đông
và nền khoa học phương Tây hiện đại.