PHẦN
III
CÁC
TƯƠNG ĐỒNG
Chương
10
Tính
Nhất Thể Của Vạn Sự
Mặc
dù các truyền thống đạo học được mô tả trong năm chương
trước có khác nhau về chi tiết, nhưng thế giới quan của
họ chủ yếu chỉ là một. Đó là quan niệm xuất phát từ
sự chứng thực tâm linh. Sự chứng thực trực tiếp, phi lý
luận này về thực tại có nhiều nét giống nhau, chúng độc
lập với đặc điểm địa lý, lịch sử hay nền tảng văn
hóa.
Một
nhà Ấn Độ giáo hay Lão giáo có thể nhấn mạnh những khía
cạnh khác nhau về sự chứng thực; có thể một Phật tử
Nhật Bản biểu hiện kinh nghiệm của mình khác hẳn với
Phật tử ấn Độ, thế nhưng những yếu tố cơ bản của
thế giới quan trong mọi truyền thống này là giống nhau. Những
yếu tố này dường như cũng là cơ sở của thế giới quan
xuất phát từ vật lý hiện đại.
Đặc
điểm quan trọng nhất của thế giới quan phương Đông là
- ta có thể nói cốt tuỷ của nó - ý thức về tính nhất
thể và mối tương quan của mọi sự vật và mọi biến cố,
nhận thức rằng mọi hiện tượng trong thế giới đều là
biểu hiện của một thực thể cơ bản duy nhất. Tất cả
mọi sự vật đều được xem như có liên quan với nhau và
là thành phần bất khả phân của một cái toàn thể trong
vũ trụ, là những hiện thân khác nhau của một thực tại
cuối cùng. Các truyền thống phương Đông đều căn cứ trên
thực tại cuối cùng này, một thực tại không thể phân chia,
nó xuất hiện trong mọi thứ, và tất cả mọi vật đều
là thành phần của nó. Trong ấn Độ giáo, thực tại đó
được gọi là Brahman, trong Phật giáo là Pháp thân, trong Lão
giáo là Đạo. Vì nó đứng ngoài mọi khái niệm và phân loại
nên Phật giáo gọi nó là Chân Như hay Cái là như thế:
Tâm
chân như là tâm tánh bất sinh bất diệt. Thể và tướng của
nó to lớn bao trùm tất cả các pháp.
Trong
đời sống hàng ngày ta không thấy tính nhất thể của sự
vật mà chia thế giới ra thành vật thể và biến cố riêng
lẻ. Sự chia chẻ này hiển nhiên là có ích và cần thiết
để có thể giải quyết công việc hàng ngày, nhưng nó không
đúng với tính chất cơ bản của thực tại. Đó là một
quá trình trừu tượng hóa của đầu óc phân biệt và xếp
loại của ta, một ảo giác. Ấn Độ giáo và Phật giáo cho
rằng ảo giác này là do vô minh mà ra, thứ vô minh làm óc
ta bị huyễn thuật chi phối. Do đó, mục đích đầu tiên
của truyền thống đạo học phương Đông là sửa lại đầu
óc cho đúng, bằng cách thiền quán và tĩnh lặng. Từ Sanskrit
của thiền quán là Samadhi, có nghĩa sự thăng bằng tâm linh.
Nó nói đến trạng thái, trong đó con người chứng thực được
sự nhất thể với vũ trụ:
Khi
thể nhập được tâm thanh tịnh thì Bồ Tát đạt tri kiến
viên mãn và chứng được nhất thể của Pháp giới.
Tính
nhất thể căn bản này cũng là một trong những phát hiện
quan trọng nhất của nền vật lý hiện đại. Nó hiện rõ
trong lĩnh vực nguyên tử và biểu hiện càng rõ hơn nữa khi
ta nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh vực vật chất, đi xuống
tầng lớp của hạt hạ nguyên tử. Tính nhất thể của mọi
sự và của mọi biến cố luôn luôn xuất hiện khi ta so sánh
vật lý hiện đại và đạo học phương đông. Khi nghiên cứu
những mô hình của vật lý hạ nguyên tử, ta thấy chúng luôn
luôn phát biểu bằng nhiều cách khác nhau, dẫn đến một
kiến giải duy nhất: đó là các thành phần vật chất và
những hiện tượng tham gia, tất cả đều nằm trong một mối
liên hệ với nhau và phụ thuộc lẫn nhau; chúng không thể
được xem là đơn vị độc lập, mà là thành phần bất khả
phân của một cái toàn thể.
Trong
chương này tôi sẽ dựa trên phân tích và quan sát thuyết
lượng tử để trình bày mối tương quan trong thiên nhiên.
Trước
hết tôi xin trở lại sự phân biệt giữa cơ cấu toán học
của một lý thuyết và cách lý giải bằng ngôn từ của nó.
Cơ cấu toán học của thuyết lượng tử đã được nhiều
thí nghiệm khẳng định và được thừa nhận là nhất quán
và chính xác để mô tả tất cả các hiện tượng nguyên
tử. Thế nhưng cách lý giải bằng ngôn từ của nó, tức
là ý - nghĩa triết học của thuyết lượng tử lại chưa
có một cơ sở vững chắc. Thực tế là nhà vật lý suốt
hơn bốn mươi năm qua chưa đưa ra được một mô hình triết
lý rõ rệt về nó.
Các
thảo luận sau đây dựa trên phép lý giải của trường phái
Copenhagen về thuyết lượng tử, trường phái do Bohr và Heisenberg
triển khai trong cuối những năm hai mươi mà vẫn còn được
xem là mô hình được thừa nhận nhất. Sau đây tôi dựa vào
báo cáo của Henry Stapp của đại học California. Báo cáo đã
đề cập đến một số khía cạnh của lý thuyết này, đến
một loại thí nghiệm nhất định mà ta thường gặp trong
vật lý hạ nguyên tử. Bản báo cáo của Stapp chỉ rõ, thuyết
lượng tử cho thấy một mối liên hệ then chốt trong thiên
nhiên và nó cũng đặt thuyết này vào một khuôn khổ có thể
mở rộng cho mô hình tương đối của hạ nguyên tử mà ta
sẽ thảo luận sau.
Điểm
xuất phát của trường phái Copenhagen là sự phân chia thế
giới cơ lý ra hai hệ thống: một hệ thống được quan sát
và hệ thống quan sát. Hệ thống được quan sát có thể là
một nguyên tử, một hạt hạ nguyên tử, một quá trình trong
thế giới nguyên tử v.v… Hệ thống quan sát gồm có các
máy móc quan sát, gồm một hay nhiều quan sát viên. Điều này
dẫn đến cái khó cơ bản là hai hệ thống này được “đối
xử” khác nhau. Hệ thống quan sát thì được mô tả bằng
ngôn từ của vật lý cổ điển, thế nhưng các ngôn từ này
lại không phù hợp để mô tả hệ thống được quan sát.
Chúng ta biết rằng khái niệm của vật lý cổ điển là không
đủ nhất quán để mô tả bình diện nguyên tử, thế nhưng
ta phải dùng nó để trình bày thí nghiệm và xử lý kết
quả. Mối mâu thuẫn này không có lời giải. Ngôn ngữ kỹ
thuật của vật lý cổ điển chỉ là ngôn ngữ bình thường
có thêm chút tinh tế, và nó là ngôn ngữ duy nhất mà ta có
thể dùng để lý giải, trình bày kết quả thí nghiệm.
Hệ
thống được quan sát được mô tả trong thuyết lượng tử
dưới dạng xác suất. Điều đó là có nghĩa là ta không bao
giờ nói được một cách chắc chắn vị trí của một hạt
đang ở đâu, cũng không nói được một tiến trình nguyên
tử sẽ xảy ra thế nào. Thí dụ, những hạt hạ nguyên tử
mà ta biết hiện nay, phần lớn chúng không ổn định, có
nghĩa là sau một thời gian chúng sẽ tự phân hủy thành những
hạt khác. Thế nhưng ta không tiên đoán được thời gian này
là bao lâu. Ta chỉ có thể nói về xác suất phân hủy sau
một thời gian nhất định, cụ thể hơn, ta chỉ biết được
thời gian sống trung bình của một số lớn hạt đó là bao
nhiêu. Tương tự như thế ta chỉ nói về xác suất của tiến
trình phân hủy của chúng. Nhìn chung, một hạt thiếu ổn
định có thể phân hủy biến thành nhiều cách phối hợp
khác nhau của những hạt khác, và ta lại không biết hạt
đó sẽ mang hình dáng phối hợp nào. Chúng ta chỉ có thể
tiên đoán, trong một số lượng lớn các hạt thì khoảng
60% của chúng sẽ chuyển ra thế này, 30% sẽ chuyển ra thế
khác và 10% sẽ chuyển theo kiểu thứ ba. Rõ ràng là người
ta phải đo lường rất nhiều mới có một bảng thống kê
nhằm xác định kết quả. Và trong các cuộc thí nghiệm của
các hạt va chạm nhau với tốc độ cao, thì thực tế có hàng
chục ngàn hạt va chạm nhau được ghi nhận và phân tích để
xác định xác suất của một tiến trình nhất định.
Thế
nhưng điều quan trọng cần biết là, sự phát biểu có tính
thống kê về qui luật của vật lý nguyên tử và hạ nguyên
tử không hề nói lên sự mơ hồ của ta về tiến trình cơ
lý này, như sự dự đoán xác suất của các hãng xưởng chuyên
ngành bảo hiểm hay trò chơi may rủi. Trong thuyết lượng tử,
ta đã thừa nhận tính xác suất là tính chất căn bản trong
vật thể của thế giới nguyên tử, nó điều hành mọi tiến
trình, thậm chí nó quyết định vật chất có tồn tại hay
không. Trong thế giới nguyên tử, hạt không hiện hữu một
cách chắc chắn nơi một vị rí nhất định, mà nó chỉ có
khả năng hiện hữu và tiến trình nguyên tử cũng không nhất
thiết phải xảy ra trong một thời điểm hay một cách thế
nhất định, nó chỉ có khả năng xảy ra.
Thí
dụ, không thể nói chắc chắn rằng liệu một eletron nằm
ở đâu trong nguyên tử tại một thời điểm nhất định.
Vị trí của nó tùy thuộc vào lực hút của nhân và vào ảnh
hưởng của electron khác của nguyên tử. Điều kiện này quyết
định cấu trúc của xác suất lưu trú của nó trong những
không gian khác nhau của nguyên tử.
Hình
trên nói lên vài mô hình về cơ cấu của xác suất lưu trú
electron. Xác suất đó lớn nơi các vùng sáng, nhỏ nơi các
vùng tối. Cần để ý là, toàn bộ hình này diễn tả electron
trong một thời điểm cho sẵn. Trong một hình, ta không chỉ
rõ được electron ở nơi nào, chỉ nói lên khả năng nó có
thể ở đâu. Trong dạng toán học của thuyết lượng tử
khả năng hay xác suất đó được trình bày bằng các hàm
số xác suất, nó cho biết khả năng tìm thấy một electron
trong một thời điểm hay một chỗ nhất định là bao nhiêu.
Mối
mâu thuẫn giữa hai cách mô tả - một bên là khái niệm cổ
điển về việc xếp đặt máy móc thí nghiệm, bên kia là
hàm số xác suất cho vật muốn quan sát - dẫn đến một vấn
đề triết học mà đến nay cũng chưa giải quyết được.
Trong
thực tế để né tránh vấn đề này khi nói về hệ thống
quan sát, người ta cho những chỉ dẫn, giúp nhà khoa học thiết
kế máy móc thí nghiệm khỏi bị mô tả là một đơn vị
có tính cô lập.
Để
trình bày thêm về việc quan sát thế giới nguyên tử, ta hãy
lấy một thí dụ giản đơn nhất, một đơn vị cơ lý, là
xét một electron. Khi muốn quan sát và đo lường một hạt
như thế, chúng ta phải bằng cách nào đó tìm cách cô lập
nó, trong một tiến trình gọi là tiến trình chuẩn bị. Một
khi hạt đã được chuẩn bị để quan sát rồi, ta đo lường
tính chất của nó, đó là tiến trình đo lường. Ta có thể
diễn tả tượng trưng tiến trình này như sau: một hạt được
chuẩn bị trong không gian A, nó chuyển động từ A đến B
và được đo trong không gian B. Trong thực tế thì sự chuẩn
bị cũng như sự đo lường thường gồm một loạt tiến trình
phức tạp. Thí dụ ở thí nghiệm va chạm nhau trong vật lý
cao năng lượng, các hạt được gia tốc trong những ống tròn,
di chuyển ngày càng nhanh cho đến lúc đầy đủ năng lượng.
Tiến trình này xảy ra trong thiết bị gia tốc hạt. Sau khi
đủ năng lượng, nó được rời máy gia tốc (A) để được
chuyển tới không gian đích (B), nơi đó lại va chạm các hạt
khác. Sự va chạm này xảy ra trong phòng đo và các hạt để
lại vết của chúng có thể được ghi lên hình. Sau đó dựa
trên sự phân tích toán học các vết đó mà người ta suy
ra tính chất của hạt. Những phép phân tích đó có thể rất
phức tạp và thường được thực hiện bằng máy vi tính.
Đó là tiến trình đo lường.
Điều
cần ghi nhớ trong phép phân tích các quan sát này là, hạt
là một hệ thống trung gian, nó nối kết hai tiến trình tại
A và B với nhau. Chỉ trong mối liên hệ này nó mới hiện
hữu và có nghĩa; hạt không phải là một đơn vị độc lập
mà bản thân nó là mối liên hệ giữa tiến trình chuẩn bị
và
đo lường. Tính chất của hạt không thể xem là độc lập
khỏi những tiến trình đó. Nếu sự chuẩn bị hay sự đo
lường thay đổi thì tính chất của hạt cũng thay đổi theo.
Mặt
khác một sự thực là, khi nói về một hạt hay bất cứ một
hệ thống nào khác, chúng ta cứ đinh ninh nó là một đơn
vị cơ lý độc lập, nó được chuẩn bị, nó được đo
lường. Vấn đề then chốt trong việc quan sát trong vật lý
nguyên tử là - dùng chữ của Henry Stapp - “phải cô lập
hệ thống được quan sát mới định nghĩa được nó; nhưng
muốn quan sát được nó thì nó phải chịu sự tương tác”.
Vấn đề này được thuyết lượng tử giải quyết một cách
thực tiễn, đó là sự đòi hỏi hệ thống được quan sát
không bị các yếu tố bên ngoài tác động bởi các yếu tố
sinh ra trong lúc quan sát, kéo dài từ lúc chuẩn bị đến lúc
đo lường. Điều kiện này có thể thỏa ứng nếu máy móc
chuẩn bị và thiết bị đo lường đặt xa nhau, để cho vật
được quan sát có thể đi từ chỗ chuẩn bị đến máy đo
được.
Như
thế thì khoảng cách bao xa mới được? Theo nguyên tắc thì
nó phải xa vô tận. Trong khuôn khổ của thuyết lượng tử
thì khái niệm về một đơn vị cơ lý riêng biệt chỉ thật
sự chính xác khi đơn vị này xa máy đo với khoảng cách vô
tận. Trên thực tế thì điều đó dĩ nhiên không thể có,
và cũng không cần thiết. Chúng ta hãy nhớ đến nguyên tắc
cơ bản của khoa học hiện đại là, tất cả khái niệm và
lý thuyết đều mang tính gần đúng. Trong trường hợp này
thì đối với khái niệm của một đơn vị riêng biệt, ta
cứ lấy một định nghĩa gần đúng là đủ, một định nghĩa
chính xác là không cần thiết. Ta làm điều đó như sau:
Vật
được quan sát là một biểu hiện của sự tương tác giữa
tiến trình chuẩn bị và tiến trình đo lường. Sự tác động
này thường phức tạp và mang nhiều hiệu ứng khác nhau, có
khoảng cách khác nhau. Trong vật lý ta nói chúng có biên độ
khác nhau. Nếu thành phần chính của tác động này có biên
độ lớn thì biểu hiện của hiệu ứng theo biên độ của
nó mà đi ra xa. Trong trường hợp này thì sự biểu hiện được
xem như độc lập với sự nhiễu loạn bên ngoài và có thể
xem là đơn vị vật lý riêng biệt được. Trong khung cảnh
của thuyết lượng tử thì các đơn vị vật lý riêng biệt
chỉ là sự lý tưởng hóa và chúng chỉ có ý nghĩa khi thành
phần chủ yếu của sự tương tác có một biên độ đáng
kể. Người ta có thể dùng biểu thức toán học để định
nghĩa chính xác một trạng thái như vậy được. Về mặt
vật lý thì điều này có nghĩa là các máy đo phải nằm xa
nhau để cho tương tác của chúng xảy ra thông qua sự hoán
chuyển của một hạt, hoặc trong trường hợp phức tạp hơn
là một nhóm hạt. Luôn luôn ta thấy có thêm những hiệu ứng
phụ, khi nào các máy đo nằm xa nhau thì ta có thể bỏ qua
những hiệu ứng phụ đó. Chỉ khi các máy đo nằm gần nhau
quá, những hiệu ứng phụ vốn có biên độ nhỏ bây giờ
mới đáng kể. Trong trường hợp này thì cả hệ thống vĩ
mô (đo và bị đo) trở thành một khối toàn thể và khái
niệm của một vật bị quan sát sẽ không đứng vững nữa.
Thuyết
lượng tử đã trình bày rõ ràng mối liên hệ nội tại chủ
yếu của vụ trụ. Nó chỉ ra rằng, chúng ta không thể chia
thế giới ra từng hạt nhỏ độc lập với nhau. Khi nghiên
cứu sâu về vật chất ta thấy chúng do nhiều hạt kết lại,
nhưng chúng không phải là những viên đá cơ bản theo nghĩa
của Demokritus và Newton.
Chúng
chỉ là sự lý tưởng hóa; trên thực tiễn thì nó có ích,
nhưng không có ý nghĩa đích thực. Niels Bohr nói: “Các
hạt vật chất độc lập chỉ có trong sự trừu tượng, tính
chất của chúng chỉ có thể định nghĩa và quan sát trong
tương tác với các hệ thống khác”.
Cách
lý giải của trường phái Copenhagen về thuyết lượng tử
không được tất cả mọi người thừa nhận. Có nhiều ý
niệm khác và những vấn đề triết học liên hệ chưa giải
quyết được. Thế nhưng mối tương quan chung giữa mọi sự
vật và biến cố dường như là một tính chất căn bản của
thực thể nguyên tử, nó không liên hệ gì với sự giải
thích của một mô hình toán học nhất định. Những câu sau
đây của David Bohm, một trong những người chống lại trường
phái Copenhagen, khẳng định hùng hồn thực tế này:
Ta
phải tiến đến khái niệm của một cái toàn thể bất khả
phân, nó phủ nhận ý niệm cổ điển chuyên nghiệp phân tích
thế giới ra những thành phần độc lập và cách ly… Ta quá
bảo vệ quan điểm cũ về những hạt cơ bản, cho nó là thực
tại đích thực của thế giới, và mọi hệ thống chỉ là
dạng hình khác nhau chứa đựng những hạt đó. Đúng hơn,
thực tại cơ bản là mối liên hệ lượng tử, không cách
ly được của một cái toàn thể, và những thành phần tương
đối độc lập chỉ là những dạng đặc biệt nằm trong
thể chung đó.
Trên
bình diện nguyên tử, vật thể cứng chắc của vật lý cổ
điển đã chuyển thành những cấu trúc có tính xác suất.
Những cơ cấu này không nói lên xác suất hiện hữu của
vật chất, mà nó nói lên xác suất của tương tác. Thuyết
lượng tử buộc chúng ta phải nhìn vũ trụ không phải là
một tập hợp của vật thể lý tính mà một tấm lưới phức
tạp, chằng chịt những liên hệ của những thành phần, thống
nhất trong một tổng thể. Đó chính là cách thế mà đạo
học phương Đông đã chứng thực về thế giới và vài người
trong đó đã nói về sự chứng thực này hầu như với cùng
ngôn từ với nhà vật lý nguyên tử. Sau đây là vài thí dụ:
Vật
thể vật chất… bây giờ đã khác với những gì chúng ta
thấy, không phải là một vật thể độc lập với môi trường
chung quanh của thiên nhiên, mà là một phần không thể tách
rời và thậm chí nó là phát biểu một cách tinh tế của
cái nhất thể, cái nhất thể đó bao trùm mọi cái ta thấy.
S.Aurobindo
Tính
chất và sự hữu hiện của sự vật xuất phát từ những
mối tương quan mà ra, tự nó không có gì cả.
Long
thụ (Nagarjuna)
Một
khi những lời trên có thể xem là sự mô tả thiên nhiên trong
vật lý nguyên tử thì hai phát biểu sau đây của nhà vật
lý nguyên tử lại có thể xem như sự mô tả về chứng thực
của đạo học:
Một
hạt cơ bản không phải là một đơn vị tồn tại độc lập,
có thể phân tích được. Nó không gì hơn là một loạt những
mối liên hệ, chúng vươn mình ra ngoài, với tới những vật
khác.
H.P.Stapp
Theo
cách thế này thì thế giới hiện ra như một mạng lưới
gồm toàn những tiến trình, trong đó hiện diện rất nhiều
cách liên hệ kỳ lạ cứ tạo ra nhau, tác động lẫn nhau
và với cách đó mà chúng quyết định cơ cấu của toàn bộ
mạng lưới.
W.Heisenberg
Hình
ảnh sự móc nối này của mạng lưới vũ trụ trong vật lý
hiện đại đã được phương Đông sử dụng nhiều nhằm
trao truyền kinh nghiệm của họ về thế giới tự nhiên. Trong
Ấn Độ giáo thì Brahman là sợi dây nối kết của tấm lưới
vũ trụ, là nguyên nhân cuối cùng của mọi hữu hiện:
Trên
trời dưới đất, trong khí quyển, tát cả đều dệt, và
ngọn gió cũng như hơi thở. Chỉ mình ngươi biết, cái đó
chỉ là một linh hồn duy nhất.
Trong
Phật giáo, hình ảnh của một tấm lưới vũ trụ đóng một
vai trò quan trọng hơn nữa. Nội dung trung tâm của Kinh Hoa
Nghiêm, một trong những kinh quan trọng của Phật giáo Đại
thừa, xem thế giới là một tấm lưới toàn hảo về mối
tương quan, trong đó mọi sự vật và biến cố tác động
lên nhau, trùng trùng duyên khởi vô tận. Phật giáo Đại thừa
đã tìm nhiều ẩn dụ để diễn bày mối liên hệ nội tại
này của vũ trụ, một số đó sẽ được nói đến sau trong
quan điểm tương đối của thuyết dung thông (boot-strap theory)
của vật lý hiện đại. Cuối cùng, quan điểm mạng lưới
vũ trụ cũng đóng vai trò trung tâm trong Phật giáo Tantra (Mật
giáo), một nhánh của Đại thừa xuất phát từ Ấn Độ vào
thế kỷ thứ ba trước Công nguyên và ngày nay là trường
phái chính của Phật giáo Tây Tạng. Kinh sách trường phái
này được gọi là “Tantra”, một từ gốc Sanskrit mang nghĩa
“lưới dệt” và ám chỉ sự liên hệ và tương tác của
mọi sự vật và biến cố.
Trong
đạo học phương Đông thì mạng lưới vũ trụ đó luôn luôn
chứa đựng cả người quan sát và ý thức của nó, và điều
đó cũng đúng trong vật lý nguyên tử. Trong bình diện nguyên
tử thì vật thể chỉ được hiểu trong mối quan hệ giữa
tiến trình chuẩn bị và đo lường. Đoạn cuối của tiến
trình này luôn luôn nằm trong ý thức của người quan sát.
Sự đo lường là một tiến trình, nó gây trong ý thức ta
sự cảm thọ, thí dụ sự thấy một tia sáng chớp hay một
vệt đen trên chế bản, và qui luật của vật lý nguyên tử
cho ta biết rằng, với một xác suất nào một vật thể hạt
nhân sẽ gây nên một cảm thọ nhất định nếu ta chịu tương
tác với nó. Heisenberg viết: Khoa học tự nhiên không mô
tả và lý giải về tự nhiên đúng như nó - là - như - thế.
Đúng hơn, khoa học tự nhiên là một phần của tiến trình
tương tác động qua lại giữa tự nhiên và chính chúng
ta”.
Nguyên
lý then chốt của vật lý nguyên tử là người quan sát không
chỉ cần thiết để quan sát tính chất sự vật, mà còn cần
thiết để định nghĩa tính chất đó. Trong vật lý nguyên
tử, ta không thể nói tính chất sự vật tự nó được nữa.
Chúng chỉ có nghĩa trong mối quan hệ giữa vật được quan
sát và người quan sát.
Heisenberg
viết: “Điều mà ta quan sát được, không phải là thế giới
tự nhiên tự nó, mà là thế giới đã bị câu hỏi của ta
tác động lên”. Quan sát viên là người quyết định muốn
đo lường điều gì và chính sự tổ chức đo lường này
quyết định một phần tính chất của vật được quan sát.
Khi phép đo bị thay đổi, thì tính chất của vật được
quan sát cũng thay đổi theo.
Điều
này có thể giải thích trong trường hợp đơn giản nhất
của một hạt hạ nguyên tử. Khi quan sát một hạt như thế
người ta có thể đo vị trí và xung lực. Trong chương tới
chúng ta sẽ thấy một định luật quan trọng của thuyết
lượng tử - định luật bất định của Heisenberg, nó nói
rằng ta không bao giờ cùng lúc đo được chính xác hai đại
lượng này. Hoặc chúng ta có thể xác định được vị trí
của hạt và không hề biết gì về xung lực (tức là về
vận tốc), hoặc là ngược lại, hoặc ta chỉ biết không
chính xác về hai trị số đó.
Sự
giới hạn này không liên quan gì với việc máy đo có tốt
hay không, nó là một giới hạn có tính nguyên tắc, có sẵn
trong thực thể của thế giới nguyên tử. Nếu ta đo vị trí
của hạt thì hạt không có một xung lực có thể định nghĩa
được và khi ta đo chính xác xung lực thì nó không có vị
trí có thể định nghĩa được.
Trong
vật lý nguyên tử, nhà khoa học không thể đóng một vai trò
của một quan sát viên khách quan, không tham dự được, mà
anh ta bị lôi vào trong thế giới bị quan sát và gây ảnh
hưởng lên tính chất của vật bị quan sát. Tính chất mà
quan sát viên bị đưa vào tiến trình của thí nghiệm được
nhà khoa học Jonhn Wheeler xem là nét quan trọng nhất của thuyết
lượng tử. Do đó ông khuyên ta nên thay chữ quan sát viên
bằng từ tham dự viên. Ông viết:
Về
thuyết lượng tử thì không gì quan trọng hơn điều này,
nó phá hủy quan niệm về thế giới “tự nó”, phá hủy
một tấm kính an toàn dày 20 cm cách ly thế giới với quan
sát viên. Kể cả việc chỉ quan sát một vật tí hon như electron,
quan sát viên cũng phải đập vớ tấm kính. Anh ta phải tới
với nó, phải đặt để thiết bị quan sát. Tùy nơi anh, muốn
đo vị trí hay xung lực. Khi thiết kế thiết bị nhằm đo
cái này thì cái kia không thể đo được. Hơn thế nữa, duy
việc đo lường đã thay đổi trạng thái của electron. Sau
đó thì thế giới không còn như trước nữa. Muốn mô tả
điều gì đã xảy ra, người ta phải gạch bỏ từ cũ “quan
sát viên” mà thay vào đó chữ mới “tham dự viên”. Trong
một ý nghĩa kỳ lạ nào đó thì vũ trụ là một vũ trụ
đang tham gia.
Ý
niệm tham dự thay vì quan sát này mới được vật lý hiện
đại khám phá gần đây, thế nhưng người nào tìm hiểu đạo
học phương Đông đều đã biết tới nó. Tri kiến tâm linh
không bao giờ nhờ quan sát mà đạt được, mà là nhờ sự
tham gia toàn vẹn với tất cả tính chất của mình. Khái niệm
tham gia do đó trở thành then chốt trong thế giới quan phương
Đông. Các nhà đạo học phương Đông còn đi xa hơn nhiều
so với các nhà vật lý phương Tây. Trong thiền định thì
họ đạt tới một điểm mà sự khác biệt giữa người quan
sát hoàn toàn tiêu tan, nơi đó chủ thể và khách thể thống
nhất làm một trong một toàn thể bất phân chia. Trong Các
bài thuyết giảng Upanishad có những câu:
Nơi
có nhị nguyên, là nơi có một cái thấy một cái khác; một
cái ngửi một cái khác, một cái nếm vị một cái khác…
Nhưng nơi mà tất cả đã trở về tự tính của nó, thì cái
gì thấy và cái gì bị thấy? Cái gì ngửi và cái gì bị
ngửi? Cái gì nếm và cái gì bị nếm?.
Đó
là sự nắm bắt cuối cùng sự nhất thể mọi sự. Theo trình
bày của các nhà đạo học thì ta đạt tới nó trong dạng
một tâm thức, trong đó cá thể con người đã tan vào một
nhất thể vô phân biệt, bỏ lại đằng sau thế giới của
cảm thọ và nội dung của “vật thể”. Trang Tử nói:
Mối
liên hệ của tôi với thân và các phần tử của thân đã
tan biến. Giác quan của tôi đã bị dẹp bỏ. Tôi cứ để
cho thân tâm đi ngao du, tôi thành một với cái đại khối
xuyên suốt. Tôi gọi nó là an tọa và quên mọi chuyện.
Tất
nhiên nền vật lý hiện đại làm việc trong khuôn khổ hoàn
toàn khác và không thể đi xa như thế trong việc chứng thực
tính nhất thể của mọi sự. Nhưng trong vật lý nguyên tử,
nó đã đi một bước dài về hướng của thế giới quan phương
Đông. Thuyết lượng tử đã dẹp bỏ khái niệm của một
khách thể độc lập, đưa khái niệm người tham gia vào thay
thế người quan sát và thậm chí thấy cần phải đưa ý thức
con người vào trong việc mô tả thế giới tự nhiên. Nền
vật lý này bây giờ đã thấy vũ trụ là một mạng lưới
với những liên quan vật chất và tâm linh chằng chịt, mà
các phần tử chỉ được định nghĩa trong mối tương quan
với cái toàn thể. Thế giới quan này của vật lý nguyên
tử được một Phật tử Tantra là Lama Anagarika Govinda tóm
tắt rất hay như sau:
Người
Phật tử không tin có sẵn một thế giới bên ngoài độc
lập và hiện hữu tách biệt mà anh ta tự gắn mình vào những
năng lực của thế giới đó. Đối với anh ta, thế giới
bên ngoài và thế giới bên trong chỉ là hai mặt của một
mạng lưới duy nhất, trong đó những sợi chỉ của các năng
lực, của các biến cố, của các dạng tâm thức, của các
dạng vật thể, chúng được dệt chằng chịt thành một mạng
lưới không sao gỡ nổi, gồm vô số những mối liên hệ
tác động lẫn nhau.