Chương
4
Nền
Vật Lý Mới
Thực
tế là mọi sự vật của tự nhiên và mọi hiện tượng bắt
đầu thay đổi; toàn bộ kinh nghiệm của chúng ta về thế
giới đã khác hẳn... Có một phương thế mới, vĩ đại và
sâu xa để ngộ về mọi sự, để thấy, để biết và tiếp
xúc chúng...
Đạo
học phương Đông cho rằng sự chứng thực tâm linh trực tiếp
về thực tại là một biến cố chớp nhoáng, nó lung lay tận
gốc rễ thế giới quan con người. D.T.Suzuki gọi nó là “biến
cố sửng sốt nhất có thể xảy ra trong ý thức con người...
Nó vứt bỏ mọi dạng kinh nghiệm thông thường”1 , ông giả
thích tính chất đáng sợ của kinh nghiệm này bằng lời một
thiền sư đã mô tả “như một bình nước vỡ đáy”.
Đầu
thế kỷ này, nhà vật lý cũng bị tình trạng tương tự,
họ mô tả kinh nghiệm này giống như cách nói của vị thiền
sư nọ. Suzuki. Heisenberg viết:
Người
ta chỉ có thể hiểu những phản ứng dữ dội về các phát
triển gần đây của nền vật lý hiện đại khi ta nhận thức
rằng, nơi đây toàn bộ cơ sở của vật lý đang chuyển dịch
và sự chuyển dịch này gây ra một cảm giác là nền tảng
đó đang bị cắt rời ra khỏi khoa học 2 .
Einstein
cũng hoảng sợ như thế khi ông tiếp xúc lần đầu với thực
tại của vật lý nguyên tử. Ông viết trong hồi ký của mình:
Tất
cả mọi cố gắng của tôi để thích hợp với cơ sở của
lý thuyết vật lý của loại nhận thức mới mẻ này, hoàn
toàn thất bại. Hầu như đất dưới chân tôi bị sụt lở,
không ở đâu còn thấy một nền tảng vững chắc nữa, mà
trên đó người ta có thể xây dựng một điều gì 3 .
Sự
khám phá nền vật lý hiện đại đòi hỏi một sự đổi
thay các khái niệm về không gian, thời gian, vật chất, khách
thể, nguyên nhân và hậu quả... và vì những khái niệm này
quá căn bản đối với chúng ta, nên chẳng có gì ngạc nhiên
khi nhà vật lý buộc phải thay đổi chúng, người đó hoảng
sợ cũng phải. Từ sự đổi thay này mà xuất phát một thế
giới quan mới, hoàn toàn khác trước, nó vẫn còn tiếp tục
phải thay đổi theo tiến trình của các nghiên cứu khoa học
đang xảy ra.
Hai
đoạn văn sau đây là của Niels Bohr(*) của nhà đạo
học ấn Độ Sri Aurobindo, nói về chiều sâu và tính chất
quyết liệt của kinh nghiệm này:
Trong
thời gian qua, kinh nghiệm của ta đã được mở rộng ra, nó
được phơi bày dưới ánh sáng, cho thấy tính bất toàn của
những khái niệm đơn giản mang tính máy móc và hệ quả của
nó là nền tảng của nó bị lung lay tận gốc rễ, nền tảng
mà ta dùng để lý giải mọi quan sát 4 .
Niels
Bohr
Thực
tế là mọi sự vật của tự nhiên và mọi hiện tượng bắt
đầu thay đổi; toàn bộ kinh nghiệm của chúng ta về thế
giới đã khác hẳn... Có một phương thế mới, vĩ đại và
sâu xa để ngộ về mọi sự, để thấy, để biết và tiếp
xúc chúng 5 .
Phần
sau sẽ phác họa hình ảnh sơ lược của thế giới quan mới,
cho thấy thế giới quan cơ giới cổ điển vào đầu thế
kỷ này phải nhường chỗ cho thuyết lượng tử và thuyết
tương đối, dẫn đến một quan niệm tinh tế, toàn bộ và
hữu cơ hơn nhiều của thế giới tự nhiên (*)
Vật
Lý Cổ Điển
Thế
giới quan ngày nay đang bị vật lý hiện đại thay đổi vốn
đặt cơ sở trên mô hình của Newton về vũ trụ. Mô hình
này tạo nên một cái khung chắc chắn cho vật lý cổ điển.
Thật sự nó là một nền tảng vĩ đại, trên tảng đá vững
chắc đó, ta đã xây dựng toàn bộ khoa học và triết lý
về giới tự nhiên cho khoảng ba trăm năm.
Sân
khấu của vũ trụ Newton, trong đó tất cả hiện tượng cơ
lý xảy ra, là không gian ba chiều của hình học cổ điển
Euclid. Đó là một không gian tuyệt đối, luôn luôn tĩnh tại
và không thay đổi. Hãy dùng chính ngôn từ của Newton: “Tự
tính của không gian tuyệt đối là luôn luôn như nhau, bất
động, không hề phụ thuộc gì vào sự vật nằm trong đó”6
.Tất cả mọi biến dịch của sự vật trong cơ thế giới
cơ lý được mô tả với khái niệm của một kích thước
khác, gọi là thời gian, mà thời gian bản thân nó lại là
tuyệt đối, có nghĩa là không liên hệ gì với thế giới
vật chất và trôi đều đặn từ quá khứ, qua hiện tại
đến tương lai. Newton nói: “Thời gian tuyệt đối, đích
thực, có tính toán học, tự chảy, theo tự tính của nó là
đều đặn và không liên quan gì đến bất cứ vật nào”.
Những
vật thể của thế giới Newton, chúng vận động trong không
gian và thời gian tuyệt đối là những hạt vật chất. Trong
các đẳng thức toán học, chúng được xem là hạt khối lượng
(**) .Newton xem chúng là những hạt nhỏ, cứng chắc và là
vật thể không huỷ, chúng là thành phần cấu tạo mọi vật
chất. Mô hình này khá giống với mô hình của các nhà nguyên
tử học Hy Lạp. Cả hai đều dựa trên sự phân biệt giữa
đầy đặc và trống rỗng, giữa vật chất và không gian,
và trong cả hai mô hình thì các hạt đều luôn luôn có khối
lượng và hình dạng không thay đổi. Do đó vật chất luôn
luôn được bảo toàn. Sự khác biệt lớn giữa Democrit và
Newton trong quan niệm nguyên tử là, Newton là người gắn thêm
một lực tác động giữa các hạt với nhau. Lực này rất
đơn giản và chỉ tuỳ thuộc vào khối lượng và khoảng
cách của chúng. Đó là trọng lực hay lực hút lẫn nhau của
các khối lượng và Newton xem lực đó gắn chặt với vật
thể, chúng tác động tức thì trong khoảng cách rất xa. Mặc
dù đây là một giả thuyết kỳ dị, nó không được ai tìm
hiểu thêm. Các khối lượng và lực tác động được xem
như do Chúa tạo thành và do đó không phải là đối tượng
để xem xét. Trong tác phẩm Optics, Newton cho ta thấy hình dung
của ông về việc Chúa tạo dựng thế giới vật chất:
"Tôi
cho rằng có lẽ mới đầu Chúa tạo vật chất bằng những
hạt cững chắc, đầy đắc, không thể xuyên qua, di động,
với dạng hình, với kích thước, với tính chất và tương
quan nhất định với không gian, phù hợp nhất với mục đích
mà ngài muốn tạo ra; và những hạt đơn giản này là thể
rắn, cứng hơn bất kỳ vật thể xốp nào khác, chúng cứng
đến độ không bao giờ hao mòn, không vỡ. Không có một lực
nào có thể chia cắt nó, vật mà trong ngày đầu tiên Chúa
đã sáng tạo"
Tất
cả mọi hiện tượng cơ lý trong cơ học Newton đều có thể
qui về sự vận động của hạt khối lượng trong không gian,
sự vận động đó do lực hấp dẫn giữa chúng với nhau:
lực trọng trường, gây ra. Nhằm phát biểu tác dụng của
lực đó trên hạt khối lượng bằng tính chính xác của toán
học, Newton phải sử dụng khái niệm và kỹ thuật toán học
hoàn toàn mới, đó là phép tính vi phân. Vào thời điểm đó,
đây là một thành tựu tri thức vĩ đại và được Einstein
tôn thờ là “có lẽ đó là bước tiến lớn nhất trong tư
duy mà một cá nhân xưa nay làm được”.
Các
phương trình vận động của Newton là nền tảng của cơ học
cổ điển. Chúng được xem là qui luật cố định, theo đó
các hạt khối lượng chỉ việc vận hành và thời đó người
ta cho rằng nó mô tả được tất cả mọi biến dịch có
thể quan sát được trong thế giới cơ lý. Theo cách nhìn của
Newton thì trước hết Chúa sáng tạo ra vật chất, lực tác
dụng giữa chúng và định luật của sự vận động. Theo
cách đó thì vũ trụ được đưa vào vận hành và từ đó
chạy như một cái máy, được hướng dẫn bằng qui luật
bất di bất dịch.
Thế
giới quan cơ giới như vậy liên hệ chặt chẽ với tư tưởng
quyết định luận. Bộ máy vũ trụ khổng lồ được xem là
có thứ tự trước sau và cái sau được xác định bởi cái
trước một cách chắc chắn. Tất cả điều gì xảy ra đều
có một lý do, sẽ gây một hiệu ứng rõ rệt, tương lai của
mỗi một thành phần trong hệ thống đều được quyết đoán
một cách chắc chắn; nói trên nguyên tắc, nếu mọi điều
kiện trong một thời gian nhất định được biết rõ. Niềm
tin này được nói rõ nhất trong câu nói nổi tiếng của nhà
toán học Pháp Pierre Simon Laplace(*):
Một
đầu óc, nếu trong một thời điểm nhất định, nó biết
mọi lực tác động, và tình trạng của sự vật tạo nên
thế giới- giả định đầu óc đó đủ lớn để phân tích
mọi thông tin này- thì đầu óc đó chỉ với một công thức
mà biết hết mọi vận động, từ vận động lớn nhất trong
vũ trụ đến vận động của những nguyên tử; đối với
đầu óc đó thì không gì là bất định và tương lai cũng
như quá khứ trước mắt nó là rõ rệt, như hiện tại.
Nền
tảng của thuyết quyết định luận này là sự cách ly cơ
bản giữa cái tôi và thế giới còn lại, sự cách ly này
do Descartes đem vào triết học.
Sự
cách ly này làm người ta tin rằng, thế giới có thể được
mô tả một cách khách quan , nghĩa là không cần quan tâm gì
đến người quan sát và tính khách quan trong việc mô tả thế
giới được xem là cứu cánh của mọi khoa học.
Thế
kỷ 18 và 19 là nhân chứng cho thành tựu vĩ đại của cơ
học Newton. Bản thân Newton áp dụng thuyết của ông vào vận
động của thiên thể và nhờ đó mà giải thích được tính
chất căn bản của hệ thống thái dương hệ...
Thế
nhưng mô hình các hành tinh của ông được đơn giản hóa
rất nhiều, thí dụ lực hút giữa các hành tinh với nhau được
bỏ qua và vì thế mà ông gặp phải nhiều điều không hợp
lý, không giải thích được. Ông giải quyết vấn đề này
bằng cách cho rằng Chúa hiện diện thường hằng trong vũ
trụ để sửa đổi những điều không hợp lý nọ.
Laplace,
nhà toán học lớn, tự đặt cho mình trách nhiệm lớn lao,
viết một tác phẩm bổ sung thêm các bài tính của Newton,
để “mang lại một lời giải toàn triệt cho vấn đề cơ
học lớn của thái dương hệ và đưa lý thuyết sát gần
với mọi quan sát, để các phương trình xuất phát từ kinh
nghiệm không còn chỗ đứng trong ngành thiên văn”. Kết quả
là một tác phẩm đồ sộ với năm cuốn, mang nhan đề Mecanique
Cðleste (Cơ học thiên thể), trong đó Laplace thành công, lý
giải mọi vận động của các hành tinh, các mặt trăng, sao
chổi, đến những chi tiết nhỏ như sự lên xuống của thủy
triều và các thứ khác, các hiện tượng liên quan đến sức
hút trọng trường. Ông chứng minh qui luật vận động của
Newton bảo đảm tính ổn định của thái dương hệ và xem
vũ trụ như một cỗ máy tự điều hành một cách toàn hảo.
Khi Laplace trình tác phẩm này cho đại đế Napoleon xem, nghe
nói nhà vua nói như sau: “Thưa ông Laplace, người ta báo với
tôi, ông viết cuốn sách qui mô này về hệ thống vũ trụ
mà không hề nhắc nhở tới đấng sáng tạo ra nó”. Laplace
trả lời ngắn gọn: “Tôi không cần đến giả thuyết này”.
Phấn
khởi trước những thành tựu rực rỡ của cơ học Newton,
nhà vật lý cơ học này quay sang xét sự vận hành liên tục
của vật thể ở trạng thái lỏng và sự rung động của
vật thể đàn hồi và đạt thành quả. Cuối cùng, thậm chí
môn nhiệt học cũng có thể qui về cơ học khi người ta biết
rằng nhiệt cũng là năng lượng, nó chỉ do chuyển động
không trật tự của phân tử mà thành. Khi nhiệt độ của
nước tăng cao thì các phân tử nước cũng tăng mức vận
động, tăng cho đến khi chúng bứt khỏi lực liên kết nội
hãm chúng và thoát đi nhiều hướng. Thế là nước ở trạng
thái lỏng chuyển sang trạng thái hơi. Ngược lại khi nhiệt
giảm dần thì các phân tử nước hợp lại, kết thành một
cấu trúc mới, cứng rắn, đó là thể rắn ở dạng băng.
Theo cách này thì nhiều hiện tượng thuộc nhiệt học có
thể hiểu bằng cách nhìn cơ học.
Thành
công to lớn của mô hình cơ học làm cho nhà vật lý của
đầu thế kỷ 19 tin rằng, quả thật vũ trụ phải là một
hệ thống cơ giới khổng lồ, vận hành theo nguyên lý vận
động của Newton đề ra. Những qui luật này được xem như
nền tảng của qui luật tự nhiên và mô hình Newton là mô
hình chung kết về thế giới hiện tượng. Thế nhưng chỉ
không đầy một trăm năm sau, người ta khám phá một thực
tại cơ lý khác, nó làm rõ giới hạn của mô hình Newton và
chỉ ra rằng mô hình đó không hề có giá trị tuyệt đối.
Những
nhận thức này không hề xuất hiện một cách bất ngờ, sự
phát triển của chúng đã bắt nguồn từ thế kỷ 19 và mở
đường chuẩn bị cho cuộc cách mạng khoa học của thời
đại chúng ta. Bước đầu tiên của quá trình phát triển
này là sự khám phá và nghiên cứu các hiện tượng điện
từ, các hiện tượng đó không được giải thích ổn thỏa
với mô hình cơ khí và trong các hiện tượng đó người ta
thấy có một loại năng lực mới tham gia. Bước quan trọng
này do Michael Faraday và Clerk Maxwell thực hiện, người đầu
là một trong những nhà thực nghiệm lớn nhất trong lịch
sử khoa học, người sau là một lý thuyết gia xuất sắc.
Khi Michael Faraday tạo ra một dòng điện bằng cách di chuyển
một thỏi nam châm trong một cuộn dây đồng và biến một
công cơ -sự di chuyển nam châm-thành điện năng, ông đã tạo
một bước ngoặt trong lịch sử khoa học và kỹ thuật. Thí
nghiệm căn bản này một mặt đã khai sinh ra ngành điện từ,
mặt kia nó làm nền tảng cho những suy luận lý thuyết của
ông và của Maxwell không những chỉ nghiên cứu hiệu ứng
của lực điện từ, ông còn nghiên cứu bản chất những
lực đó là gì. Hai ông mới thay khái niệm của lực bằng
một trường và họ trở thành người đầu tiên vượt ra
khỏi vật lý cơ giới của Newton.
Thay
vì như cơ học Newton, cho rằng hai điện tích âm và dương
hút nhau như hai khối lượng trong cơ học cổ điển, hai ông
Faraday và Maxwell thấy đúng hơn, họ cho rằng mỗi điện tích
tạo ra trong không gian một tình trạng nhiễu hay một điều
kiện, nó làm cho một điện tích khác cảm thấy một lực
tác động lên mình. Điều kiện này trong không gian, cái có
thể sinh ra lực, được gọi là trường . Chỉ một điện
tích duy nhất đã sinh ra trường, trường hiện hữu tự nó,
không cần có sự hiện diện của một điện tích khác mới
có trường và tác động của nó.
Đây
là một sự thay đổi sâu sắc trong quan niệm của chúng ta
về thực tại cơ lý. Theo cách nhìn của Newton thì lực tác
động gắn chặt lên vật thể được tác động. Bây giờ
khái niệm lực được thay thế bằng một khái niệm tinh tế
hơn của một trường, trường này có thực thể riêng của
nó, có thể được nghiên cứu mà không cần dựa trên vật
thể nào khác. Đỉnh cao của lý thuyết này, được gọi là
điện động, xuất phát từ nhận thức rằng ánh sáng không
gì khác hơn là một trường điện từ, trường đó di chuyển
trong không gian dưới dạng sóng. Ngày nay người ta biết rằng
tất cả sóng truyền thanh, sóng ánh sáng hay quang tuyến X đều
là sóng điện từ cả - tức là điện trường và từ trường
giao thoa với nhau, chúng chỉ khác nhau về tần số rung và
ánh sáng chỉ là một phần rất nhỏ của toàn bộ các trường
điện từ.
Mặc sự có thay đổi sâu xa đó, cơ học Newton vẫn tạm giữ
vị trí nền tảng của nền vật lý. Chính Maxwell cũng có
khi thử giải thích thành quả của mình bằng quan điểm cơ
học. Ông xem trường như là một dạng áp suất cơ học của
một chất liệu đầy ắp trong không gian, chất đó được
gọi là ê-te và sóng điện từ được xem như sự co giãn
đàn hồi của chất ê-te đó. Điều này nghe rất tự nhiên
vì sóng hay được hiểu là sự rung động của vật chất,
kiểu như sóng là sự rung của nước, âm thanh là sự rung
của không khí. Thế nhưng Maxwell cùng lúc sử dụng nhiều
cách cơ học để diễn dịch lý thuyết của mình nhưng không
coi trọng chúng. Có lẽ ông đã biết một cách trực giác
rằng, mặc dù không nói ra, yếu tố nền tảng của lý thuyết
của mình là trường chứ không phải là mô hình cơ học.
Rồi chính Einstein, người mà năm mươi năm sau nhận rõ điều
này khi nói không hề có ê-te và điện từ trường là những
đơn vị lý tính tự hiện hữu, nó đi xuyên suốt không gian
trống rỗng và không thể được giải thích theo quan điểm
cơ học.
Đến
đầu thế kỷ 20 thì nhà vật lý có hai lý thuyết thành công
trong tay, chúng được áp dụng cho nhiều hiện tượng khác
nhau: Nền cơ học Newton và lý thuyết điện từ trường Maxwell.
Mô hình Newton không còn là nền tảng duy nhất của ngành vật
lý nữa.
Vật
Lý Hiện đại
Ba
mươi năm đầu của thế kỷ 20 thay đổi một cách triệt
để tình hình chung của vật lý. Hai sự phát triển khác nhau,
thuyết tương đối của vật lý nguyên tử, đã phá hủy mọi
khái niệm căn bản của thế giới quan Newton, đó là hình
dung về một không gian tuyệt đối và một thời gian tuyệt
đối, một hạt khối lượng đặc cứng, tính tuyệt đối
của nhân quả trong hiện tượng thiên nhiên và cứu cánh của
sự mô tả khách quan của tự nhiên. Không khái niệm nào trong
số này đứng vững được trong lĩnh vực mà giờ đây nền
vật lý đang thâm nhập.
Trong
giai đoạn đầu của vật lý hiện đại ta phải kể đến
thành tựu tư duy to lớn của một con người, Albert Einstein.
Trong hai công trình, công bố năm 1905, Einstein trình bày hai
hướng tư duy cách mạng. Một là thuyết tương đối đặc
biệt của ông, hai là cách nhìn của ông về các bức xạ
điện từ, cách nhìn đó sẽ là đặc trưng cho thuyết lượng
tử, cái mà về sau trở thành lý thuyết của hiện tượng
trong thế giới nguyên tử. Lý thuyết lượng tử hoàn chỉnh
khoảng hai mươi năm sau mới được thiết lập do một nhóm
nhà vật lý. Ngược lại, thuyết tương đối trong dạng hoàn
chỉnh thì hầu như chỉ do Einstein xây dựng. Công trình khoa
học của Einstein trong đầu thế kỷ 20 này sừng sững như
một tòa tri thức vĩ đại - nó là kim tự tháp của văn minh
hiện đại.
Einstein
tin tưởng một cách sâu sắc nơi sự hòa điệu nội tại
của thiên nhiên và suốt trong cuộc đời khoa học thì cái
tha thiết nhất của ông là đi tìm một nền tảng chung cho
ngành vật lý. Ông bắt đầu chuyến hành trình này bằng cách
xây dựng một cơ sở chung cho điện động học và cơ học,
hai lý thuyết riêng lẻ của nền vật lý cổ điển. Cơ sở
này chính là thuyết tương đối đặc biệt. Nó thống nhất
và làm hoàn chỉnh cơ cấu của vật lý cổ điển, đồng
thời chứa đựng những sự thay đổi quyết liệt về khái
niệm truyền thống của không gian, thời gian và chôn vùi một
trong những nền tảng của thế giới quan Newton.
Theo
thuyết tương đối thì không gian không phải ba chiều và thời
gian không phải là đơn vị độc lập. Cả hai lệ thuộc lẫn
nhau và kết hợp thành một thể liên tục bốn chiều, không
- thời gian. Vì thế, trong thuyết tương đối không bao giờ
ta nói về không gian riêng lẻ mà không đưa thời gian vào,
và ngược lại. Hơn thế nữa không thể có một dòng chảy
đồng nhất của thời gian như trong mô hình của Newton. Nhiều
quan sát viên sẽ ghi nhận những biến cố xảy ra trong thời
gian khác nhau, khi họ di chuyển đến biến cố đó với vận
tốc khác nhau. Trong trường hợp này, hai biến cố có thể
với một quan sát viên là đồng thời, nhưng đối với những
người khác thì chúng xảy ra cái trước, cái sau. Tất cả
sự đo lường về không gian và thời gian đều mất tính tuyệt
đối. Với thuyết tương đối thì khái niệm không gian của
Newton, xem nó là một sân khấu cho mọi hiện tượng cơ lý
diễn ra, khái niệm đó bị từ bỏ, khái niệm thời gian tuyệt
đối cũng cùng chung số phận. Không gian và thời gian chỉ
còn là những ngôn từ mà một quan sát viên nhất định sử
dụng để mô tả hiện tượng mình nhìn thấy.
Các
khái niệm không gian - thời gian thật hết sức cơ bản để
mô tả hiện tượng tự nhiên, nên sự thay đổi của nó kéo
theo sự thay đổi của toàn bộ hệ thống mà ta sử dụng
để nói về tự nhiên. Hệ quả quan trọng nhất của sự
thay đổi này khiến ta nhận ra rằng khối lượng không gì
khác hơn là một dạng của năng lượng. Ngay cả một vật
thể đang đứng yên cũng chứa trong nó năng lượng và mối
liên hệ giữa hai mặt đó được thiết lập bằng đẳng
thức nổi tiếng E=mc2, trong đó c là vận tốc ánh sáng, E:
năng lượng, m: khối lượng của vật.
Hằng
số c, vận tốc ánh sáng, đối với thuyết tương đối, có
một tầm quan trọng cơ bản. Mỗi khi chúng ta mô tả các tiến
trình cơ lý, trong đó có vận tốc gần bằng vận tốc ánh
sáng, chúng ta phải lưu tâm đến thuyết tương đối. Điều
đó có giá trị đặc biệt cho các hiện tượng điện từ
mà ánh sáng chỉ là một thí dụ trong đó và chính hiện tượng
này đã đưa đến việc Einstein phát biểu thuyết tương đối
của ông.
Năm
1915 Einstein trình bày thuyết tương đối tổng quát, trong đó
phạm vi của thuyết tương đối đặc biệt đã được mở
rộng, bao trùm cả trường trọng lực, tức là lực hút lẫn
nhau của các khối lượng. Trong thời gian đó, nếu thuyết
tương đối đặc biệt đã được vô số thí nghiệm chứng
tỏ, thì thuyết tương đối tổng quát chưa được thực nghiệm
chứng minh. Thế nhưng thuyết đó được phần lớn công nhận
là thuyết trọng trường nhất quán nhất và cũng là thích
hợp nhất và được sử dụng rộng rãi trong vật lý thiên
văn và vũ trụ học.
Theo
thuyết của Einstein thì trường trọng lực có hiệu ứng làm
“cong” không gian và thời gian. Điều đó có nghĩa là hình
học thông thường của Euclid không còn giá trị trong một
không gian cong nữa, như hình học mặt phẳng hai chiều không
thể áp dụng lên mặt cong của khối cầu. Thí dụ trên mặt
phẳng ta có thể vẽ một hình vuông bằng cách đo một mét
dài của một đường thẳng, lấy điểm cuối của đoạn
đó vẽ một góc vuông, lại đo một mét rồi làm thêm hai
lần nữa, ta sẽ được một hình vuông. Trên một mặt cong,
cách làm đó không thực hiện được, vì qui luật của hình
học Euclid không thể áp dụng cho mặt cong.
Cũng
như thế, ta có thể định nghĩa một không gian ba chiều cong,
trong đó hình học Euclid hết còn giá trị. Thuyết Eistein cho
rằng không gian ba chiều bị cong, và độ cong không gian bị
trường trọng lực của vật chất gây nên. Bất cứ nơi nào
có vật thể, thí dụ một vì sao hay hành tinh, không gian quanh
nó bị cong và độ cong phụ thuộc vào khối lượng của vật
chất.
Ngoài
ra, trong thuyết tương đối, ta không bao giờ được tách rời
thời gian, nên thòi gian cũng chịu tác động của vật chất
và có dòng chảy khác nhau tại nhiều nơi trong vũ trụ. Với
thuyết tương đối tổng quát, Einstein đã hoàn toàn bỏ qua
khái niệm “không gian tuyệt đối” và “thời gian tuyệt
đối”. Không phải chỉ những đo lường trong không gia thời
gian là tương đối, mà cả cơ cấu của thể thống nhất
không - thời gian cũng tùy thuộc vào sự phân bố vật chất
trong vũ trụ, và khái niệm “không gian trống rỗng” cũng
mất luôn ý nghĩa.
Thế
là mâu thuẫn rành rành giữa hình ảnh của sóng và hạt được
giải quyết một cách bất ngờ, nhưng nó đặt lại một vấn
đề của vật lý cổ điển, đó là khái niệm về thực tại
của vật chất...
Cách
nhìn mang tính cơ giới của vật lý cổ điển dựa trên khái
niệm về vật thể cứng chắc di chuyển trong không gian trống
rỗng vẫn còn giá trị trong qui mô trung bình, tức là trong
đời sống hàng ngày của chúng ta, trong đó vật lý cổ điển
vẫn là một lý thuyết áp dụng được. Hai khái niệm- không
gian trống rỗng và vật thể cứng chắc-đã bám rễ trong
thói quen tư duy của ta, đến nỗi ta rất khó nghĩ ra một
lĩnh vực cơ lý mà trong đó chúng ta không thể áp dụng được.
Thế nhưng nền vật lý hiện đại buộc ta phải từ bỏ chúng,
nếu ta muốn vươn ra khỏi qui mô trung bình nói trên. “Không
gian trống rỗng” đã mất ý nghĩa trong vật lý thiên văn
và vũ trụ học, và khái niệm “vật thể vững chắc” đã
bị vật lý nguyên tử về những hạt cực nhỏ, bác bỏ.
Khoảng
cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, đã có nhiều hiện tượng
trong cơ cấu nguyên tử được khám phá, chúng không được
giải thích thỏa đáng với vật lý cổ điển. Dấu hiệu
cho hay bản thân nguyên tử cũng có một cơ cấu riêng được
khám phá cùng lúc với sự phát hiện quang tuyến X, một dạng
bức xạ sớm đi vào lĩnh vực y học. Nhưng tia X không phải
là tia duy nhất được phát hiện. Sau khi khám phá ra nó, người
ta tìm thấy những loại tia khác, chúng phát ra từ nguyên tử
của những chất được gọi là phóng xạ. Hiện tượng phóng
xạ được chứng minh rõ ràng là nguyên tử phải do nhiều
thành phần cấu tạo thành, rằng nguyên tử của chất phóng
xạ không những phát ra những tia khác nhau, mà trong nội bộ
nguyên tử phải có nhiều chất chuyển hóa lẫn nhau.
Nhờ
vào hiện tượng phóng xạ, Max Von laue dùng quang tuyến X nghiên
cứu cơ cấu của nguyên tử ở dạng tinh thể và Ernest Rutherford
nhận ra rằng, các hạt gọi là alpha được phát ra từ nguyên
tử có tính phóng xạ là những phần tử bị bắn ra với
tốc độ nhanh, có kích thước nhỏ hơn nguyên tử, và vì
thế chúng được sử dụng để nghiên cứu cơ cấu nội tại
của nguyên tử. Nếu ta dùng nó để bắn vào nguyên tử, thì
dựa trên cách nó bị bứt ra mà suy đoán cơ cấu nguyên tử.
Khi
Rutherford dùng hạt alpha bắn ào ạt nguyên tử thì ông nhận
được những kết quả đáng kinh ngạc và hoàn toàn bất ngờ.
Nguyên tử không hề là những hạt vững chắc như người
ta tưởng mà nó lại là một không gian rộng rãi, trong đó
những hạt cực nhỏ-gọi là electron-chạy vòng xung quanh hạt
nhân, chúng được nối với hạt nhân bằng điện lực. Không
dễ dàng tưởng tượng ra được độ nhỏ của nguyên tử,
nó nằm quá xa kích thước vĩ mô của chúng ta. Đường kính
của một nguyên tử khoảng một phần một trăm triệu của
một cen-ti-mét. Nếu bạn tưởng tượng một trái cam to như
trái đất thì lúc đó nguyên tử chỉ vừa bằng một quả
dâu. Hàng tỉ tỉ quả dâu nằm chen chúc trong một quả cầu
to như trái đất, đó là hình ảnh của vô số nguyên tử
của một trái cam.
Nguyên
tử đã nhỏ như thế-so với vật thể vĩ mô, thì nó lại
là cực lớn so với hạt nhân của nó. Nếu nguyên tử to bằng
quả dâu thì hạt nhân của nó không thể thấy. Nguyên tử
to bằng trái bóng đá hay bằng cả cái phòng thì hạt nhân
cũng chưa thấy được bằng mắt thường. Nếu chúng ta cho
nguyên tử lớn bằng giáo đường lớn nhất thế giới, giáo
đường Peter tại Roma thì hạt nhân của nó vừa bằng một
hạt cát. Một hạt cát nằm giữa giáo đường và đâu đó
xa xa trong giáo đường vài đám bụi nhỏ đang tung vãi - như
thế, ta hình dung ra hạt nhân và electron của một nguyên tử.
Không
bao lâu sau khi phát hiện cơ cấu hành tinh của nguyên
tử, người ta thấy rằng số lượng electron trong nguyên tử
của một nguyên tố quyết định tính chất hóa học của
nguyên tố đó và ngày nay người ta biết rằng toàn bộ hệ
thống tuần hoàn của các nguyên tố có thể tạo nên bằng
cách lần lượt thêm vào hạt nhân của nguyên tố nhẹ nhất
(khinh khí) các proton và neutron và thêm vòng ngoài của nguyên
tử số lượng tương quan các electron. Sự tương tác giữa
các nguyên tử sinh ra tiến trình hóa học, thế nên toàn bộ
nền hóa học thông qua các qui luật của vật lý nguyên tử
mà được hiểu rõ.
Thế
nhưng những qui luật này không được chấp nhận dễ dàng.
Chúng được phát hiện vào thế kỷ 20 nhờ vào nhóm vật
lý gia quốc tế, trong đó có người Đan Mạch Niels Bohs, người
Pháp Louis de Broglie, người Áo Erwin Schrodinger và Wolfgang Pauli,
người Đức Werner Heisenberg và người Anh Paul Dirac. Với năng
lực tổng hợp, vượt qua mọi biên giới, những người đó
đã tạo nên một thời kỳ sôi nổi của khoa học hiện đại,
thời kỳ đưa con người lần đầu tiên đến tiếp cận với
thực thể kỳ lạ và bất ngờ của thế giới hạ nguyên
tử. Cứ mỗi khi nhà vật lý hỏi thiên nhiên bằng một thí
nghiệm thì thiên nhiên trả lời bằng một sự nghịch lý
và nhà vật lý càng tìm cách lý giải, sự nghịch lý càng
lớn. Phải trải qua một thời gian dài, họ mới nhận ra rằng
sự nghịch lý nằm ngay trong cơ cấu nội tại của nguyên
tử, sự nghịch lý luôn luôn xuất hiện khi người ta mô tả
những diễn biến trong hạt nhân bằng khái niệm truyền thống
của vật lý. Khi đã nhận thức điều này thì nhà vật lý
mới biết cách đặt câu hỏi và tránh được mâu thuẫn.
Theo Heisenberg thì “bằng cách nào đó, họ đành chấp nhận
tinh thần của thuyết lượng tử” và cuối cùng đưa ra được
biểu thức toán học chính xác cho thuyết này.
Cả
sau khi đưa ra biểu thức toán học của thuyết lượng tử
được hoàn thiện, khái niệm của thuyết này cũng không dễ
được chấp nhận. Nó đã làm đảo lộn toàn bộ khả năng
tưởng tượng của các nhà vật lý. Thí nghiệm Rutherford cho
thấy nguyên tử không hề là những hạt nhỏ không thể phân
chia mà chỉ là không gian trống không, trông đó những hạt
li ti vận động, rồi bây giờ thuyết lượng tử lại càng
cho rằng, bản thân những hạt đó cũng chẳng cứng chắc
gì cả, theo nghĩa của vật lý cổ điển. Những đơn vị
hạ nguyên tử là một cấu trúc trừu tượng, với thuộc
tính hai mặt. Tùy theo chúng ta nhìn nó như thế nào mà chúng
xuất hiện khi là hạt, khi khác là sóng; ánh sáng xuất hiện
cũng hai mặt, khi là sóng điện từ, khi thì xuất hiện như
hạt.
Tính
chất này của vật chất và ánh sáng thật là kỳ dị. Xem
ra không thể chấp nhận được một cái gì đó vừa là hạt,
tức là một cơ cấu có kích thước rất nhỏ; đồng thời
vừa là sóng, là một cái gì có thể tỏa rộng trong không
gian. Đối với nhiều người, mâu thuẫn này là một sự nghịch
lý, tương tự như công án, cuối cùng nó dẫn đến sự phát
biểu thuyết lượng tử. Toàn bộ sự phát triển bắt đầu
với Max Planck, khi ông phát hiện rằng nhiệt lượng không
hề tỏa ra liên tục mà trong dạng từng bó năng lượng. Einstein
đặt tên cho những bó này là quanton (lượng tử) và thừa
nhận đó là dạng cơ bản của thiên nhiên. Ông đủ táo bạo
để quả quyết rằng, cả ánh sáng lẫn các tuyến điện
từ khác không những chỉ là sóng mà chúng cũng xuất hiện
với dạng quanta này. Những “bó ánh sáng”, mà theo đó thuyết
lượng tử được đặt tên, từ đó được thừa nhận, người
ta đặt tên cho nó là “phonton” (quang tử). Thế nhưng nó
là loại hạt đặc biệt, nó phi khối lượng và luôn luôn
di chuyển với vận tốc ánh sáng.
Thế
là mâu thuẫn rành rành giữa hình ảnh của sóng và hạt được
giải quyết một cách bất ngờ, nhưng nó đặt lại một vấn
đề của vật lý cổ điển, đó là khái niệm về thực tại
của vật chất. Trong bình diện hạ nguyên tử, vật chất
không hiện hữu một cách chắc chắn tại một vị trí nhất
định, theo một cách thế nhất định, chúng chỉ “có khuynh
hướng xảy ra”. Trong cách nói của thuyết lượng tử thì
khuynh hướng đó được gọi là xác suất, nó liên hệ với
những đại lượng toán học, những đại lượng đó qui định
dạng của sóng. Do đó mà hạt cũng có thể là sóng. Những
sóng đó không phải là sóng thật như loại sóng trong không
gian ba chiều của âm thanh hay sóng trên nước. Chúng là sóng
xác suất, đó là những đại lượng toán học trừu tượng
với tính chất tiêu biểu của sóng; chúng nói lên với xác
suất nào, có nghĩa là người ta “gặp” được một hạt
tại một điểm nhất định, tại một thời gian nhất định.
Tất cả mọi qui luật của vật lý nguyên tử đều được
biểu thị ở dạng xác suất này. Không bao giờ chúng ta có
thể quả quyết điều gì về một tiến trình trong nguyên
tử, ta chỉ nói xác suất nó xảy ra là bao nhiêu.
Một
thuyết lượng tử như thế đã phá vỡ những khái niệm về
một vật thể cứng chắc. Với mức độ hạ nguyên tử thì
hạt cứng chắc của vật lý cổ điển đã tan thành những
hình ảnh xác suất có dạng như sóng và hơn thế nữa, những
cấu trúc này không diễn tả xác suất hiện hữu của vật
thể mà xác suất của những mối liên hệ. Khi nghiên cứu
kỹ về quá trình quan sát trong ngành vật lý nguyên tử người
ta thấy rằng các hạt với tính chất là đơn vị không có
vai trò gì, mà chúng chỉ được hiểu trong mối liên hệ giữa
sự chuẩn bị một thí nghiệm và các đo lường sau đó.
Thế
nên thuyết lượng tử trình bày cho thấy thể thống nhất
của vũ trụ. Nó cho ta thấy rằng không thể chia chẻ thế
giới ra từng hạt nhỏ rời rạc độc lập với nhau. Khi nghiên
cứu sâu về vật chất, ta sẽ biết thiên nhiên không cho thấy
những “hạt cơ bản” riêng lẻ, mà nó xuất hiện như tấm
lưới phức tạp chứa toàn những mối liên hệ của những
phần tử trong một toàn thể. Những mối liên hệ này bao
gồm luôn luôn cả người quan sát. Con người quan sát chính
là mắt xích cuối của một chuỗi quá trình quan sát và tính
chất của một vật thể nguyên tử chỉ có thể hiểu được
trong mối quan hệ giữa vật được quan sát và người quan
sát. Điều đó có nghĩa là hình dung cổ điển về một sự
mô tả khách quan thế giới tự nhiên không còn có giá trị
nữa. Sự chia cắt giữa cái tôi và thế giới theo kiểu Descartes,
giữa người quan sát và đối tượng quan sát không thể áp
dụng trong lĩnh vực nguyên tử. Trong vật lý nguyên tử, ta
không bao giờ có thể nói về thế giới tự nhiên mà không
đồng thời nói về chính ta.
Thuyết
nguyên tử mới mẻ lập tức có thể trả lời nhiều điều
bí ẩn xuất hiện trong lúc nghiên cứu về cơ cấu nguyên
tử mà mô hình hành tinh của Rutherford cho thấy nguyên tử,
dựa trên đó mà vật chất cứng chắc thành hình, vốn chỉ
là không gian trống rỗng, nếu nhìn theo cách phân bố của
khối lượng.
Thế
nhưng nếu ta và mọi vật xung quanh chủ yếu là rỗng không
thì tại sao ta không đi xuyên qua được cánh cửa đang đóng.
Nói cách khác: cái gì làm vật chất có vẻ cứng chắc?
Một
điều bí ẩn thứ hai là tính chất ổn định cơ cấu lạ
lùng của nguyên tử. Chẳng hạn trong không khí, nguyên tử
va chạm nhau hàng triệu lần trong một giây, thế nhưng vẫn
giữ được dạng cũ sau mỗi khi va chạm nhau. Không có một
hệ thống hành tinh nào, hệ thống nằm trong qui luật của
vật lý cổ điển, lại chịu nổi sự va chạm như thế. Thế
nhưng một nguyên tử oxygen luôn luôn giữ được cấu trúc
electron riêng biệt của nó, dù nó va chạm bao nhiêu lần với
các nguyên tử khác. Hơn thế nữa, cấu trúc của mọi nguyên
tử cùng loại luôn luôn giống như nhau, không kể xuất xứ
của chúng và quá trình tinh luyện chúng như thế nào.
Thuyết
lượng tử cho thấy rằng, tất cả những đặc tính lạ lùng
đó của nguyên tử xuất phát từ tính chất sóng của các
electron. Tính cứng chắc của vật chất là hiệu quả của
một hiệu ứng lượngtử, tính chất này liên hệ chặt chẽ
với tự tính hai mặt “sóng hạt” của vật chất, đó là
một tính chất trong thế giới hạ nguyên tử, cái mà trong
thế giới vĩ mô không hề có sự tương tự. Cứ mỗi khi
hạt bị giam trong không gian nhỏ hẹp thì nó phản ứng bằng
cách vận động chống lại sự chật chội đó, không gian
càng nhỏ thì nó vận động càng nhanh. Trong nguyên tử có
hai loại lực ngược chiều nhau. Một bên là lực hút của
hạt nhân, hút electron bằng sức hút điện tích; bên kia là
electron phản ứng với sự hạn chế không gian bằng cách quay
cuồng và khi nó càng sát gần với nhân, nó càng quay mạnh.
Chúng di chuyển với vận tốc chừng 900km mỗi giây!. Vận
tốc rất lớn này làm nguyên tử xuất hiện như một hình
cầu cứng rắn, tương tự như một chiếc chong chóng quay nhanh
làm ta tưởng đó là một đĩa tròn liên tục. Muốn bóp nhỏ
một nguyên tử lại rất khó, nhờ đó mà nguyên tử làm cho
vật chất trở nên cứng rắn.
Trong
nguyên tử, các electron quay trên các quĩ đạo, sinh ra một
sự thăng bằng tối ưu giữa sức hút của nhân và sự phản
ứng chống lại sự gò bó không gian. Tuy thế các quĩ đạo
electron khác với quĩ đạo của hành tinh trong hệ mặt trời,
Đó là một hệ quả của tính chất sóng của electron. Người
ta không thể xem nguyên tử là một hệ hành tinh nhỏ được.
Chúng ta đừng hình dung có hạt nào chạy vòng xung quanh nhân,
mà các sóng xác suất đang xếp đặt trên các quĩ đạo. Cứ
mỗi lần đo lường, ta lại tìm thấy chỗ này chỗ kia electron
trong các quĩ đạo đó, nhưng chúng ta không thể nối chúng
“quay xung quanh” nhân nguyên tử trong nghĩa cơ học cổ điển.
Trong
các quĩ đạo, các sóng electron phải rung làm sao cho “đầu
đuôi ăn khớp” với nhau, để tạo thành “sóng đứng”.
Dạng sóng này xuất hiện khi chúng bị hạn chế trong một
lĩnh vực nhất định, thí dụ sự rung động của một dây
đàn gi-ta hay luồng khí trong một ống sáo. Từ những thí
dụ này ta thấy sóng đứng chỉ có một số lượng nhất
định các hình dạng định sẵn.
Trường
hợp của sóng electron trong nguyên tử cũng thế, chúng chỉ
hiện diện trên những quĩ đạo nhất định với đường
kính định sẵn. Chẳng hạn electron của một nguyên tử hydrogen
chỉ có thể hiện diện trong quĩ đạo thứ nhất, thứ hai
hay thứ ba v.v…, chứ không thể ở nửa chừng. Thường thường
nó nằm trong quĩ đạo thấp nhất, ta gọi đó là trạng thái
cơ bản của nguyên tử. Từ đó electron có thể nhảy lên
quĩ đạo cao hơn, nếu nó có đủ năng lượng. Trong trường
hợp đó nó được gọi là trạng thái kích thích, nhưng chỉ
sau một thời gian nó trở lại về trạng thái cơ bản và
giải phóng năng lượng thừa dưới dạng một lượng của
bức xạ điện từ hay quang tử (phonton).
Dạng
hình và khoảng cách các quĩ đạo của một nguyên tử có
cùng số lượng electron đều giống hệt nhau, vì thế mà hai
nguyên tử oxygen giống hệt nhau. Chúng có thể khác nhau về
trạng thái cơ bản hay kích thích, có thể vì va chạm với
những nguyên tử khác trong không khí, nhưng sau một lúc chúng
lại trở về trạng thái cơ bản. Vì thế chính tính chất
sóng của electron là cơ sở để nhận diện một nguyên tử
và là nguyên do của sự ổn định cơ cấu to lớn của chúng.
Một
đặc trưng nữa để xác định tình trạng một nguyên tử
là chúng được một nhóm số nguyên mô tả đầy đủ, nhóm
số đó được gọi là số lượng tử, chúng diễn tả vị
trí và hình dạng của các quĩ đạo. Số lượng tử đầu
tiên chỉ số của quĩ đạo và năng lượng một electron phải
có để có thể ở trong quĩ đạo đó. Hai con số tiếp theo
diễn tả dạng của sóng electron trong quĩ đạo và mối tương
quan của vận tốc cũng như hướng quay của electron. Việc
các chi tiết này được biểu diễn bằng những số nguyên
cho thấy rằng eletron không thay đổi một cách liên tục độ
quay của nó mà là nhảy từ trị số này qua trị số khác,
cũng như nhảy từ quĩ đạo này qua quĩ đạo khác. Ở đây
cũng thế, độ quay càng cao thì nguyên tử càng bị kích động:
ở trạng thái cơ bản thì mọi electron nằm trong quĩ đạo
thấp nhất và độ quay cũng nhỏ nhất.
Xác
suất hiện hữu, các hạt phản ứng mạnh khi vào không gian
chật hẹp, nguyên tử đổi trạng thái bằng các bước nhảy
lượng tử; và nhất là mối quan hệ nội tại của các hiện
tượng - đó là những nét kỳ lạ của thế giới nguyên tử.
Mặt khác, lực cơ bản sinh ra các hiện tượng này thì chúng
ta đã biết và nó cũng hiện diện trong thế giới vĩ mô.
Đó là lực hút giữa các điện tích, giữa nhân chứa điện
dương và electron. Sự giao hoà giữa năng lực này với các
sóng electron sản sinh ra thiên hình vạn trạng những cơ cấu
và hiện tượng. Nó chính là nguồn gốc của mọi phản ứng
hoá học và sự thành lập phân tử, tức là nhóm những nguyên
tử được tập trung vào nhau nhờ sức hút giữa các nguyên
tử. Sự tác động lên nhau của các electron và hạt nhân cũng
là nền tảng của tất cả các chất khí, chất lỏng và chất
rắn, cũng như của tất cả sinh vật và trong toàn bộ tiến
trình có sự sống.
Trong
thế giới phong phú của nguyên tử thì nhân nguyên tử đóng
vai trò của một trung tâm vừa cực nhỏ vừa ổn định, nó
lại là gốc của sức hút điện lực và tạo nên khuôn khổ
của cơ cấu một phân tử. Nhằm tìm hiểu những cơ cấu
đó và mọi hiện tượng chung quanh chúng ta, người ta chỉ
cần biết khối lượng và điện tích của hạt nhân. Còn
muốn hiểu tự tính của vật chất, hiểu vật chất gồm
những gì đích thực thì ta phải nghiên cứu hạt nhân, là
thành phần xem như trọng tâm toàn bộ khối lượng của vật
chất. Trong những năm ba mươi của thế kỷ này, sau khi thuyết
lượng tử đã giải được bài toán của thế giới nguyên
tử thì mục đích chính của nhà vật lý là tìm hiẻu cơ
cấu của hạt nhân , các thành phần của nó và lực nội
tại là gì mà các thành phần có kết cấu vững chắc như
vậy.
Bước
quan trọng đầu tiên để hiểu cơ cấu hạt nhân là sự phát
hiện các neutron, là thành phần thứ hai, loại hạt có khối
lượng gần bằng proton (thành phần thứ nhất), tức khoảng
gấp hai ngàn lần khối lượng của electron, tuy nhiên chúng
không mang điện tích. Sự khám phá này không những chỉ làm
sáng tỏ nhân nguyên tử gồm proton và neutron, nó còn cho thấy
rằng lực nội tại trong nhân, thứ lực giữ chắc các hạt
này lại với nhau, phải là một hiện tượng mới mẻ. Nó
không thể là lực điện từ được vì neutron không có điện
tích. Nhà vật lý chóng biết rằng họ đang đương đầu với
một thứ lực mới mẻ trong thiên nhiên, nó chỉ nằm trong
nhân nguyên tử, ngoài ra nó không hiện hữu ở đâu cả.
Nhân
nguyên tử lớn khoảng bằng một phần một trăm ngàn một
nguyên tử, mà chứa hầu như toàn bộ khối lượng của nó.
Như thế thì vật chất nằm trong nhân hẳn phải có tỉ trọng
hết sức lớn, độ nén hết sức cao. Nếu thân người mà
nén lại theo cách “hạt nhân” này thì nó chỉ chiếm thể
tích bằng đầu một mũi kim. Tuy thế độ nén này không phải
là tính chất lạ lùng duy nhất của hạt nhân. Vì cũng có
tính chất lượng tử như các electron, các hạt nucleon (gọi
chung proton và neutron) cũng phản ứng chống không gian bé nhỏ
bằng sự vận động cao độ, nơi càng chật chội chúng càng
chuyển động nhanh hơn. Chúng di chuyển trong nhân với vận
tốc khoảng 60.000km/giây. Vì thế khối lượng hạt nhân là
một dạng khối lượng hoàn toàn khác với khối lượng mà
ta biết trong thế giới vĩ mô. Có lẽ chúng ta chỉ có thể
tưởng tượng chúng là những hạt tí hon có tỉ trọng cực
lớn, sôi sùng sục trong một chất lỏng cũng có tỉ trọng
rất lớn.
Khía
cạnh mới mẻ của tính chất hạt nhân chính là lực tác
động trong nhân với khoảng cách nội tại cực ngắn. Lực
đó chỉ tác dụng khi các nucleon tiến sát gần nhau, tức khi
khoảng cách giữa chúng chỉ gấp đôi gấp ba lần đường
kính của chúng. Với khoảng cách này thì lực hút của hạt
nhân phát huy tác dụng. Đến khi khoảng cách giữa chung ngắn
lại thì chúng lại có tác dụng đẩy, làm cho các nucleon không
hề sát nhau được. Theo cách thế này mà lực hạt nhân giữ
được nhân nguyên tử hết sức ổn định, dù cho bản thân
chúng lại hết sức năng động.
Như
thế thì vật chất là không gian rỗng với những hạt tí
hon nằm cách xa nhau, các hạt đó lại là nơi tập trung khối
lượng. Trong không gian rộng lớn giữa các hạt nhân đầy
khối lượng và sôi sùng sục, đó là electron.Các electron chỉ
mang một phần rất nhỏ toàn thể khối lượng, thế nhưng
lại tạo cho vật chất tính chất cứng chắc và là lực nối
kết với nhau để tạo thành cơ cấu phân tử. Chúng cũng
tham gia vào các phản ứng hoá học. ở dạng bình thường
này của vật chất thì các phản ứng dây chuyền của lực
hạt nhân không tự mình xảy ra được vì năng lượng không
đủ lớn để phá huỷ sự ổn định của nhân.
Tuy
thế dạng này của vật chất với nhiều sắc thể và cơ
cấu cũng như tập hợp phân tử phức tạp chỉ có thể hiện
hữu trong những điều kiện nhất định, đó là lúc nhiệt
độ không quá cao để cho các phân tử không phản ứng qua
mãnh liệt. Nếu nhiệt năng vọt lên gấp trăm lần như trong
thiên thể thì tất cả mọi cơ cấu nguyên tử và phân tử
bị huỷ hoại. Thực ra, phần lớn vật chất trong vũ trụ
hiện hữu trong một trạng thái khác xa với trạng thái mô
tả ở trên. Ở trung tâm các thiên thể là toàn những khối
nhân khổng lồ và gồm hầu như phản ứng hạt nhân mà trên
trái đất rất ít xảy ra. Chúng rất quan trọng đối với
những hiện tượng của thiên hà mà các nhà vũ trụ quan sát
được. Những hiện tượng đó phần lớn là do sự phối
hợp của hạt nhân và hiệu ứng trọng trường tạo ra. Đối
với hành tinh chúng ta thì phản ứng hạt nhân ở trung tâm
mặt trời hết sức quan trọng, vì nó cung cấp năng lượng
để nuôi sống đời sống trên trái đất. Một trong những
thành tựu lớn nhất của vật lý hiện đại là sự phát
hiện rằng năng lượng xuất phát liên tục từ mặt trời,
từ hành tinh cốt tử nối ta với thế giới bao la vô tận,
năng lượng đó lại chính là kết quả của phản ứng hạt
nhân, là một hiện tượng của thế giới vô cùng bé.
Trong
lịch sử nghiên cứu thế giới vi mô vào đầu những năm
ba mươi, người ta đã đạt tới một giai đoạn mà nhà khoa
học cho rằng đã phát hiện một cách chung kết các hạt cơ
bản của vật chất. Người ta biết mọi vật chất đều
từ nguyên tử mà thành và mọi nguyên tử đều do proton, neutron
và electron cấu tạo.
Những
hạt được gọi là “hạt cơ bản” đó được xem là nhỏ
nhất, đơn vị không thể phá hủy của vật chất: đó là
nguyên tử trong nghĩa của Demokrit. Mặc dù thuyết lượng tử
cho thấy thế giới không thể chia cắt ra những hạt cực
nhỏ, hiện hữu, độc lập với nhau được, nhưng thời đó
người ta vẫn chưa thừa nhận thực tế này. Phép tư duy cổ
điển bắt rễ quá sâu xa làm cho phần lớn các nhà vật lý
vẫn tìm cách hiểu vật chất qua khái niệm của những hạt
cơ bản và khuynh hướng đó ngày nay vẫn còn rất mạnh.
Thế
rồi hai sự phát triển mới trong ngành vật lý hiện đại
đòi hỏi phải từ bỏ việc xem các hạt cơ bản là đơn
vị cuối cùng của vật chất. Một trong hai thành tựu này
thuộc về thực nghiệm, cái kia thuộc về lý thuyết, nhưng
cả hai đều bắt đầu vào những năm ba mươi. Khi các nhà
vật lý ngày càng nâng cao khả năng tinh tế của phép thực
nghiệm, các hạt cơ bản khác được khám phá. Đến năm 1935
thì con số ba hạt đã lên sáu hạt, năm 1955 chúng lên đến
18 hạt và ngày nay ta có hơn hai trăm hạt cơ bản.
Ngày
nay người ta nói đến hàng trăm các hạt menson và baryon. Chúng
chỉ chứng tỏ rằng tĩnh từ “cơ bản” trong giai đoạn
này không còn thích ứng nữa.
Qua
những năm tháng mà các hạt cứ được phát hiện liên tục
thì tất nhiên người ta không thể gọi chúng là cơ bản nữa.
Niềm tin này còn được tăng cường hơn nữa qua những phát
triển lý thuyết, song song với sự phát hiện các hạt. Không
bao lâu sau khi thiết lập thuyết lượng tử người ta biết
rõ một lý thuyết đầy đủ để mô tả hiện tượng hạt
nhân không những chỉ chứa đựng thuyết lượng tử, mà còn
cả thuyết tương đối vì vận tốc các hạt bị giới hạn
trong không gian hạt nhân thường tới gần với vận tốc ánh
sáng. Điều này rất quan trọng cho sự mô tả hoạt động
của chúng, vì với vận tốc như thế luôn luôn ta phải quan
tâm đến thuyết tương đối. Như chúng ta nói, đó phải là
một sự mô tả tương đối. Để hiểu biết đầy đủ thế
giới hạt nhân, ta cần một lý thuyết vừa chứa đựng thuyết
lượng tử, vừa thuyết tương đối. Cho đến bây giờ, một
lý thuyết như thế chưa được tìm ra và vì thế chúng ta
không thể phát biểu một lý thuyết về hạt nhân nguyên tử
được. Mặc dù biết khá nhiều về cơ cấu hạt nhân và
sự tương tác của các thành phần, nhưng chúng ta không hiểu
tự tính và dạng phức tạp của lực trong nhân một cách
triệt để. Không có một lý thuyết đầy đủ để giải
thích thế giới hạt nhân, tương tự như thuyết lượng tử
đã giải thích thế giới nguyên tử. Chúng ta cũng có vài
mô hình lượng tử tương đối, chúng mô tả rất tốt vài
dạng của thế giới hạt trong nhân. Nhưng sự thống nhất
thuyết lượng tử và tương đối thành một lý thuyết toàn
triệt của hạt, đó vẫn còn là một bài toán trung tâm và
trách nhiệm lớn lao của nền vật lý hiện đại.
Trong
vật lý cổ điển, từ khối lượng luôn luôn được liên
hệ với một thể vật chất, không thể phân chia, với một
chất nhất định, từ đó mà mọi sự thành hình. Thuyết
tương đối bây giờ đã chứng minh khối lượng không hề
là một chất liệu, mà là một dạng của năng lượng. Năng
lượng lại là một đại lượng nói lên tính năng động,
một dạng hoạt động hay một tiến trình. Thế nên khi khối
lượng của một hạt đồng nghĩa với một trị số năng
lượng thì hạt không còn được xem là một vật thể tĩnh
nữa mà là một cơ cấu động, là quá trình của một năng
lượng chỉ đang mang dạng vật chất.
Quan
điểm mới này về hạt, được Dirac khởi xướng đầu tiên
khi ông xây dựng một phương trình tương đối mô tả hoạt
động của electron. Thuyết của Dirac không những hết sức
thành công trong việc lý giải cơ cấu sâu xa của nguyên tử,
mà còn cho ta thấy một tính đối xứng cơ bản giữa vật
chất và đối vật chất. Nó tiên đoán sự hiện hữu của
anti-electron, đó là thứ hạt có khối lượng như electron nhưng
mang điện tích ngược dấu. Hạt mang điện tích dương này
mà người ta gọi tên là positron quả nhiên được phát hiện
hai năm sau khi Dirac tiên đoán. Nội dung của tính đối xứng
giữa vật chất và đối vật chất là cứ mỗi hạt thì hiện
hữu một đối hạt đồng khối lượng, mang điện tích ngược.
Nếu có năng lượng đầy đủ thì từng cặp hạt và đối
hạt sẽ được tạo hình, và tiến trình ngược lại là một
cặp có thể bị hủy diệt để giải phóng năng lượng. Tiến
trình tạo tác và hủy diệt cặp hạt - đối hạt đã được
Dirac tiên đoán, trước khi chúng được quan sát thực sự
trong thiên nhiên, từ đó đến nay đã xảy ra vô số lần.
Sự
tạo tác ra đối hạt thuần túy từ năng lượng hiển nhiên
là hiệu ứng kỳ lạ nhất của thuyết tương đối và chỉ
được hiểu trong quan niệm về hạt như nói trên. Trước
khi nền vật lý hạt tương đối ra đời thì thành phần của
vật chất luôn luôn được xem như là những hạt cơ bản
không thể hủy hoại không thể biến đổi, nằm xếp trong
vật thể, vật thể đó có thể chẻ ra từng miếng. Câu hỏi
trung tâm thời đó là liệu ta có thẻ chia chẻ vật chất
mãi được không hay chỉ tới một số hạt nhất định nào
đó không thể chia được nữa. Sau khám phá của Dirac thì
việc chia chẻ vật chất hiện ra trong một ánh sáng mới.
Khi hai hạt va chạm nhau với năng lượng cao, chúng vỡ thành
từng mảnh thật, nhưng các mảnh đó không nhỏ hơn các hạt
ban đầu. Các mảnh này cũng là hạt cùng loại nhưng chúng
được tạo tác từ động năng mà thành. Như thế câu hỏi
về việc chia chẻ hoài vật chất được trả lời một cách
bất ngờ. Cách duy nhất để chia chẻ các hạt hạ nguyên
tử chính là cho chúng va chạm nhau với năng lượng cao. Với
cách này ta có thể chia chẻ hoài vật chất nhưng chúng không
hề bị nhỏ đi vì chúng được sinh ra từ năng lượng. Các
hạt hạ nguyên tử như thế là vừa hủy diệt được vừa
không hủy diệt được.
Điều
xem ra mâu thuẫn nghịch lý đó sẽ tự tan biến nếu ta từ
bỏ quan niệm cho rằng vật thể gồm nhiều hạt cơ bản tạo
thành, và thay vào đó lấy quan điểm năng động, tương đối,
làm cách nhìn của mình. Như thế thì hạt sẽ xuất hiện
như một cơ cấu năng động hay một tiến trình, tiến trình
đó mang theo mình một trị số năng lượng, nó hiện ra dưới
dạng khối lượng. Khi hai hạt va chạm nhau thì năng lượng
của hạt đó chuyển đổi vào trong một cơ cấu khác và khi
có thêm động năng đủ mức, thì có thêm hạt hiện hữu
trong cơ cấu mới
Thí
nghiệm va chạm với năng lượng cao đã trở thành phương
pháp chính để khảo sát các tính chất cuả hạt, vì thế
nền vật lý hạt có khi cũng được gọi là vật lý cao năng
lượng.
Nơi
đây động năng cần thiết được tạo ra từ các thiết bị
chuyên biệt nhằm gia tốc cho hạt, trong những máy móc khổng
lồ gồm vài cây số đường tròn, trong đó các hạt proton
được gia tốc đến gần vận tốc ánh sáng, để rồi cho
chúng va chạm các proton khác hay neutron.
Thật
là đáng lạ lùng khi nghiên cứu những cái vô cùng bé phải
cần máy móc lớn cỡ như thế này. Chúng là những kính hiển
vi siêu đẳng của thời đại chúng ta.
Phần
lớn các hạt sinh ra qua những va chạm này đều có đời sống
hết sức ngắn ngủi - ít hơn cả một phần triệu giây-và
tự giã thành proton, neutron hay electron. Mặc dù chúng có đời
sống vô cùng ngắn ngủi, người ta không những phát hiện
được chúng, đo lường tính chất, mà còn chụp hình dấu
vết của chúng. Dấu vết này được tìm thấy trong các buồng
đo, tương tự như vệt khí trắng của một chiếc máy bay
trên bầu trời. Kích thước các hạt đó thật ra nhỏ hơn
rất nhiều so với dấu vết của chúng nhưng nhờ bề dày
và độ cong của một quĩ đạo mà nhà vật lý có thể nhận
ra được hạt đã sinh ra các dấu đó. Những giao điểm của
các quĩ đạo chính là nơi các hạt đụng nhau và những đường
cong là do các từ trường tạo thành, các trường đó được
nhà quan sát sử dụng để xác định hạt. Sự va chạm nhau
của các hạt là phương pháp thí nghiệm chủ yếu nhất của
chúng ta và những đường thẳng, đường cong hay xoắn trôn
ốc mà hạt đã để lại là dấu vết hết sức quan trọng
trong ngành vật lý hiện đại.
Những
thí nghiệm cao năng lượng trong những thập niên qua cho ta
thấy một cách rõ rệt tính chất năng động và luôn luôn
thay đổi của các hạt. Trong những thí nghiệm này vật chất
xuất hiện như là một cái gì luôn luôn chuyển hoá. Tất
cả mọi hạt này đều có thể chuyển hoá thành mọi hạt
kia; chúng được tạo thành từ năng lượng và biến thành
năng lượng. Trong thế giới này, những khái niệm cổ điển
như hạt cơ bản, tự tính vật chất hay vật thể độc lập
mất hết ý nghĩa. Vũ trụ xuất hiện như một tấm lưới
năng động với những cơ cấu năng lượng không thể chia
cắt. Đến nay chúng ta chưa có một lý thuyết toàn bộ để
mô tả thế giới hạ nguyên tử, nhưng đã có nhiều mô hình
lý thuyết, chúng lý giải rất sát nhiều mặt của vấn đề.
Trong đó, không có mô hình nào vắng bóng biểu thức toán
học phức tạp và trong chừng mực nhất định, bản thân
chúng cũng mâu thuẫn lẫn nhau, nhưng tất cả chúng đều phản
ánh tính nhất thể cơ bản và tính năng động nội tại của
vật chất. Chúng chỉ ra rằng, tính chất của một hạt chỉ
được hiểu rõ thông qua hoạt động của nó - thông qua liên
hệ, qua tương quan với môi trường xung quanh nó - và vì vậy
không thể xem hạt là một cơ cấu độc lập mà phải được
hiểu là một thành phần trong một thể thống nhất.
Thuyết
tương đối không chỉ ảnh hưởng một cách quyết định
lên hình dung của ta về hạt, mà cả lên hình ảnh của ta
về lực tác dụng giữa các hạt đó. Trong sự mô tả tương
tác giữa các hạt thì lực tác dụng giữa chúng, đó là các
lực hút hay đẩy, lực đó được xem là sự hoán chuyển
của các hạt khác. Thật khó diễn tả điều này. Nó là hệ
quả của tính chất bốn chiều không - thời gian trong thế
giới hạ nguyên tử và cả trực giác lẫn ngôn ngữ không
thể tiếp cận với điều này.
Thế
nhưng nó lại rất quyết định để hiểu được các hiện
tượng trong thế giới đó. Nó nối kết lực tác động với
các tính chất của vật chất và thống nhất giữa hai khái
niệm lực và vật chất với nhau, hai khái niệm vốn được
xem là khác nhau từ cơ bản của các nhà nguyên tử học Hy
Lạp. Ngày nay lực và vật chất được xem như có nguồn gốc
chung trong những cơ cấu động mà ta gọi là hạt.
Khi
ta xem hạt thông qua lực mà tác động lên nhau, lực đó lại
là hiện thân của các hạt khác, thì đó lại càng thêm một
lý do để ta tin thế giới của hạ nguyên tử không thể chia
cắt thành từng phần được. Từ cấp vĩ mô xuống đến
nhân nguyên tử, các lực nối kết sự vật với nhau tương
đối nhỏ để ta có thể nói một cách gần đúng rằng, sự
vật gồm nhiều thành phần hợp lại. Như ta có thể nói một
hạt cát có nhiều phân tử cát, phân tử cát gồm có hai nguyên
tử Si, nguyên tử này gồm có nhân và electron và nhân gồm
có proton và neutron. Thế nhưng trên bình diện của các hạt
thì người ta không còn được nhìn sự vật như thế nữa.
Trong
thời gian gần đây có nhiều dấu hiệu cho rằng cả proton
và neutron cũng là vật gồm nhiều thành phần, nhưng lực nối
kết của chúng quá lớn, hay vận tốc của các thành phần
quá lớn (thật ra cũng như lực) mà người ta phải áp dụng
thuyết tương đối, trong đó lực đồng nghĩa với hạt rồi.
Vì thế, biên giới giữa hạt có nhiều thành phần và lực
kết nối các thành phần đó đã bị xoá nhoà và hình ảnh
của một vật thể gồm nhiều thành phần bị đổ vỡ ở
đây. Những hạt không còn bị chia chẻ thêm thành những hạt
khác được nữa.Trong nền vật lý hiện đại, vũ trụ được
thấy như một cái toàn thể năng động, tự tính của nó
là luôn luôn bao gồm cả người quan sát. Nơi đây thì những
khái niệm truyền thống như không gian, thời gian, vật thể
độc lập, nguyên nhân - kết quả đã mất ý nghĩa. Kinh nghiệm
này rất tương tự với kinh nghiệm của đạo học phương
Đông. Sự tương tự này hiện rõ trong thuyết lượng tử
và thuyết tương đối và càng rõ hơn trong mô hình lượng
tử - tương đối của thế giới hạ nguyên tử, trong đó
hai thuyết thống nhất với nhau, đây chính là sự tương đồng
nổi bật nhất với đạo học phương Đông.
Trước
khi đi vào từng mối tương đồng, tôi muốn nhắc lại ngắn
gọn các trường phái của đạo học phương Đông cho các
độc giả chưa biết. Các trường phái đó quan trọng cho việc
so sánh, đó là ấn Độ giáo, Phật giáo và Lão giáo. Trong
năm chương sau đây, lịch sử, các tính chất đặc trưng và
khái niệm triết lý của các truyền thống này sẽ được
mô tả, với sự nhấn mạnh đến những mặt và khái niệm
quan trọng cho sự so sánh với vật lý sau này.