Chương
3:
BÊN
KIA NGÔN NGỮ
Cái
mâu thuẫn, cái làm cách tư duy thông thường bị lạc lối,
xuất phát từ thực tế là, ta dùng ngôn ngữ để diễn tả
kinh nghiệm nội tâm của ta, thế mà tính của kinh nghiệm
đó lại vượt lên trên ngôn từ.
D.T.
Suzuki
Các
vấn đề của ngôn ngữ ở đây là sự thật nghiêm trọng.
Chúng ta muốn nói về cơ cấu của nguyên tử, nói một cách
nào đó... Nhưng chúng ta không thể dùng ngôn ngữ thông thường
mà nói về nguyên tử được.
W.Heisenberg
Tất
cả mọi mô hình khoa học và mọi lý thuyết đều chỉ gần
đúng và sự diễn bày của chúng đều chịu mất mát với
sự thiếu chính xác của ngôn ngữ điều đó nói chung đã
được các nhà khoa học thừa nhận từ đầu thế kỷ này,
nhờ một thành tựu mới mẻ và hoàn toàn bất ngờ. Việc
nghiên cứu thế giới của nguyên tử đã buộc nhà vật lý
nhận ra rằng, ngôn ngữ của ta không những không chính xác
mà nó còn hoàn toàn không phù hợp để mô tả thực tại
của nguyên tử và thế giới hạ nguyên tử. Nền cơ học
lượng tử và thuyết tương đối, hai cột trụ của nền
vật lý hiện đại đã làm rõ rằng, thực tại này đã vượt
lên logic cổ điển và chúng ta không thể dùng ngôn ngữ thông
thường mà nói về nó. Heisenberg viết:
Vấn
đề khó nhất của việc sử dụng ngôn ngữ xuất phát từ
cơ học lượng tử. Trước hết ở đây ta không có giềng
mối gì cả cho phép ta thiết lập mối quan hệ giữa biểu
tượng toán học và khái niệm của ngôn ngữ thông thường.
Điều duy nhất mà ta biết được trước hết là, khái niệm
thông thường của ta không thể áp dụng được cho cơ cấu
nguyên tử.
Về
mặt triết học thì dĩ nhiên đây là một bước phát triển
hấp dẫn của nền vật lý hiện đại và gốc rễ của nó
là mối liên hệ với triết học phương Đông. Trong các trường
phái của triết học phương Tây thì môn logic và tư duy logic
luôn luôn là công cụ quan trọng nhất để phát biểu những
ý niệm triết học và theo Bertrand Russell cho cả nền triết
lý tôn giáo. Còn trong nền triết học phương Đông thì từ
xưa đến nay người ta đã rõ là thực tại vượt ngoài ngôn
ngữ thông thường và các nhà minh triết phương đông không
ngại vượt qua ranh giới của logic và khái niệm thông thường.
Theo tôi, đó là lý do chính yếu tại sao mô hình của các
vị đó về thực tại đã cung cấp một cơ sở triết lý
thích hợp với vật lý hiện đại hơn là mô hình của triết
lý phương Tây.
Vấn
đề của ngôn ngữ đặt ra cho các nhà đạo học phương Đông
y hệt như đối với vật lý hiện đại. Hai câu nói được
trích dẫn ở đầu chương này là của D.T.Suzuki về Phật
giáo và Werner Heisenberg về vật lý nguyên tử , thế nhưng
hai câu nói gần như đồng nhất với nhau. Cả nhà vật lý
lẫn nhà đạo học đều muốn trao truyền kiến giải của
mình, nhưng khi họ dùng ngôn từ thì những gì nói ra nghịch
lý và đầy mâu thuẫn. Sự nghịch lý này là đặc trưng của
những phát biểu tâm linh từ Heraklitus đến Don Juan và từ
đầu thế kỷ này, chúng là đặc trưng của ngành vật lý.
Trong
vật lý nguyên tử, nhiều nghịch lý bắt nguồn từ thể tính
hai mặt của ánh sáng-hay nói chung- của bức xạ điện từ.
Một mặt thì rõ là chúng phải do sóng tạo thành vì chúng
có hiện tượng giao thoa, hiện tượng đó chỉ có với thể
tính sóng: tức là khi có hai nguồn sáng giao thoa với nhau thì
độ sáng tại một điểm nhất định không nhất thiết phải
là tổng số của hai nguồn sóng, chúng có thể lớn hơn hoặc
nhở hơn. Điều này có thể giải thích rõ ràng bằng sự
giao thoa của hai nguồn sóng như sau:
Tại
những nơi mà hai đỉnh sóng gặp nhau, ta có nhiều ánh sáng
hơn tổng số hai nguồn hợp lại; còn nơi một đỉnh một
bụng gặp nhau, ta có ít hơn. Trị số chính xác của sự giao
thoa có thể được tính dễ dàng. Hiện tượng giao thoa này
luôn luôn được quan sát mỗi khi ta làm việc với tuyến điện
từ và buộc ta phải thừa nhận những tia này là do sóng hợp
thành.
Mặt
khác những bức xạ điện từ cũng có tác dụng của hạt
: hiệu ứng của các hạt quang tử. Khi ánh sáng cực tím chiếu
lên bề mặt một số kim loại thì một số electron (âm điện
tử) của bề mặt kim loại đó bị tách ra, do đó tia này
phải gồm có những hạt đang vận động. Một hiện tượng
tương tự cũng xảy ra với thí nghiệm quang tuyến X. Những
thí nghiệm này chỉ có thể giải thích một cách thích đáng
khi ta mô tả rằng chúng là sự chạm nhau của những hạt
quang tử với electron. Thế mà chúng lại có đặc trưng của
sóng với hiện tượng giao thoa. Câu hỏi trong thời kỳ đầu
của vật lý nguyên tử làm nhiều nhà vật lý hoang mang là:
làm sao được, một tuyến điện từ đồng thời vừa là
hạt (đơn vị có khối lượng rất nhỏ) vừa là sóng, có
thể lan rộng trong một vùng không gian? Cả ngôn ngữ lẫn
tư duy trừu tượng không thể tiếp cận với dạng thực này
của thực tại.
Nền
đạo học phương Đông đã phát triển nhiều cách nhằm nắm
bắt thể tính đầy nghịch lý thực tại. Nếu trong Ấn Độ
giáo thể tính đó được tránh né bằng văn chương huyền
thoại thì trong Lão giáo và Phật giáo, người ta thấy nên
nhấn mạnh tính nghịch lý đó thay vì che giấu nó. Tác phẩm
chính của Lão tử, bộ Đạo Đức Kinh được viết với một
loại văn làm người đọc hoang mang, dường như thiếu logic.
Nó chứa toàn những mâu thuẫn kỳ lạ và ngôn ngữ mạnh
bạo, sắc sảo và hết sức thi vị của nó buộc chặt lấy
tâm hồn người đọc và ném ta ra khỏi quĩ đạo thông thường
của tư duy logic.
Phật
giáo Trung quốc và Nhật đã dùng cách thế này của Lão giáo,
thông qua nghịch lý mà truyền đạt kinh nghiệm tâm linh. Khi
thiền sư Tâm Phong Diệu Siêu gặp nhà vua Godaigo, một thiền
sinh, vị thiền sư nói:
Ta
đã xa nhau từ ngàn kiếp trước, nhưng chưa một phút nào
rời xa nhau.
Suốt
ngày nhìn thấy nhau, nhưng chúng ta chưa bao giờ gặp mặt.
Thiền
tông Phật giáo là người biết cách biến những mâu thuẫn
của ngôn từ thành một đức hạnh, và với hệ thống “công
án”, Phật giáo đã xây dựng một con đường vô song, truyền
đạt giáo pháp mà không cần chữ nghĩa. Công án là những
câu chuyện, câu đố được soạn thảo kỹ lưỡng, nghe qua
rất vô nghĩa, nhưng nó ghi dấu ấn vào đầu thiền sinh một
cách hết sức triệt để về giới hạn của logic và lý luận
logic. Cách dùng chữ vô nghĩa và nội dung mâu thuẫn của công
án làm cho nó không thể giải được bằng tư duy. Chính nó
muốn chấm dứt tiến trình suy luận và làm cho thiền sinh
sẵn sàng cho chứng nghiệm phi suy luận, tri chứng về thực
tại trực tiếp. Thiền sư Yasutani sống cùng thời với chúng
ta đưa một thiền sinh phương Tây vào một công án nổi tiếng
với những câu sau đây:
Một
trong những công án tốt nhất là “Mu”, vì nó giản đơn
nhất. Đây là câu chuyện: một vị tăng đến gặp Triệu
Châu, một thiền sư nổi tiếng sống vài trăm năm trước
tại Trung quốc và hỏi: “Con chó có Phật tính không?”.
Triệu Châu trả lời: “Mu”. Dịch nghĩa thì Mu là “Không”
nhưng câu trả lời của Triệu Châu không phải là ở chỗ
đó. Mu là dạng sinh động, tạo tác, năng động của Phật
tính. Điều bạn phải làm là khám phá tâm và thể tính sâu
nhất của Mu, không phải bằng đầu óc suy luận mà bạn hãy
chứng nghiệm cái thể sâu xa nhất của chính bạn. Sau đó
bạn hãy chứng minh cho tôi xem, một cách cụ thể dễ hiểu
và không dựa vào bất cứ khái niệm gì, lý thuyết gì hay
giải thích trừu tượng gì rằng bạn đã nắm Mu được như
một sự thật sinh động. Bạn hãy nhớ: bạn không thể nắm
Mu bằng kiến thức thông thường; bạn hãy nắm bắt nó bằng
toàn bộ sự hữu hiện của chính bạn. 5
Thiền
sinh tập sự thường được thầy cho nghe công án Mu này hay
một trong hai công án sau đây:
Bản
lai diện mục của người là gì trước khi cha mẹ sinh ra?.
Hay:
Với hai tay thì có tiếng vỗ tay.
Tiếng vỗ của một bàn tay là thế nào?
Tất
cả những công án này có nhiều hay ít lời giải đặc biệt
mà một vị thầy đích thực sẽ nhận ra ngay. Một khi lời
giải đã được tìm ra, công án không còn là nghịch lý nữa
và nó trở thành một phát biểu quan trọng của dạng tâm
thức, dạng đã được đánh thức.
Với
thế giới vi mô này, nhận thức không còn do giác quan trực
tiếp mang lại nữa và do đó ngôn ngữ thông thường của
ta (vốn do giác quan tạo ra hình ảnh), không còn đủ khả
năng để mô tả các hiện tượng được quan sát...
Trong
tông Lâm, Tế, thiền sinh phải giải một loạt công án, mỗi
công án đề cập đến một mặt của thiền. Tông phái này
chỉ giáo hoá bằng cách đó. Tông này không khẳng định điều
gì cả mà chỉ để thiền sinh tự mình nắm bắt sự thật
với những công án.
Ở
đây ta thấy một sự tương đồng nổi bật với những mâu
thuẫn mà nhà vật lý gặp phải trong giai đoạn đầu của
nền vật lý nguyên tử. Như trong Thiền, sự thật bị che
lấp trong sự nghịch lý, sự thật không do suy luận logic mà
lý giải được, mà chỉ được hiểu trong khung cảnh của
ý thức mới về sự thật của thế giới nguyên tử. Ở đây
người thầy dậy dĩ nhiên cũng lại là Tự nhiên, mà cũng
như trong thiền, người thầy đó không khẳng định điều
gì cả. Tự nhiên chỉ đặt câu hỏi.
Muốn
giải đáp một công án, thiền sinh phải hết sức tập trung
và tinh tấn. Qua sách vở về Thiền, ta biết rằng công án
chiếm hết tâm trí của thiền sinh, đưa người đó vào một
ngõ cụt tư tưởng, một tình trạng căng thẳng liên tục,
cả thế giới là một khối khổng lồ những câu hỏi và
nghi ngờ. Các nhà sáng lập lý thuyết lượng tử đều đã
trải qua tình trạng tương tự mà Heisenberg viết rõ như sau:
Tôi
nhớ lại nhiều cuộc thảo luận với Bohr kéo dài suốt đêm
và chấm dứt hầu như với sự tuyệt vọng. Và cứ sau mỗi
cuộc thảo luận đó tôi còn đi dạo một mình trong công viên
gần đấy, tôi tự nhắc lại mái câu hỏi, liệu thế giới
tự nhiên có thể vô lý thế chăng như nó đã xuất hiện
trong các thí nghiệm nguyên tử.
Luôn
luôn, một khi thể tính của sự vật được trí suy luận
phân tích thì nó hiện ra một cách vô lý hay mâu thuẫn. Điều
này đã được các nhà đạo học nhận biết và đối với
nhà khoa học, vấn đề này mới được biết sau này thôi.
Từ bao nhiêu thế kỷ nay các nhà khoa học đi tìm Định luật
căn bản của thế giới tự nhiên, trên cơ sở đó mà muôn
hình hiện tượng xuất hiện. Những hiện tượng này nằm
trong thế giới vĩ mô của nhà khoa học, tức là nằm trong
lĩnh vực nhận biết được của giác quan. Chính vì hình ảnh
và khái niệm suy luận của ngôn ngữ xuất phát từ sự trừu
tượng hóa các cảm thọ giác quan đó, nên chúng đủ để
mô tả các loại hiện tượng đó.
Các
tra vấn về vấn đề tự tính sự vật trong vật lý cổ điển
được trả lời với mô hình cơ học Newton, đó là mô hình
qui mọi hiện tượng về lại với sự vận động và tương
tác của các nguyên tử không phân huỷ, tương tự như mô
hình Hy Lạp của Demokritus. Tính chất của thứ nguyên tử
này được rút ra từ hình dung vĩ mô của trái banh bi-da, tức
là từ kinh nghiệm thông thường của giác quan. Người ta không
hề hỏi, liệu hình dung đó có thật đúng với thế giới
của nguyên tử thật không. Thời đó người ta chưa thể nghiên
cứu thực nghiệm về điều này.
Thế
nhưng ở thế kỷ 20, nhà vật lý đã đủ khả năng đặt
những câu hỏi thực nghiệm về bản chất cuối cùng của
vật chất. Nhờ kỹ thuật tiến bộ, họ nghiên cứu ngày
càng sâu vào thế giới tự nhiên, khám phá từ tầng này xuống
đến tầng kia, đi tìm hạt cơ bản của vật chất. Nhờ thế
mà ta khẳng định có sự hiện diện của nguyên tử cũng
như những hạt cấu thành nó, hạt nhân và electron; và cuối
cùng thành phần của hạt nhân, tức là những hạt proton và
neutron và nhiều hạt hạ nguyên tử khác.
Những
thiết bị phức tạp và tinh xảo của ngành vật lý thực
nghiệm hiện đại giúp ta đi sâu vào thế giới vi mô, trong
lĩnh vực của tự nhiên nằm xa thế giới vĩ mô của chúng
ta, và giúp ta có thể nhận biết được bằng giác quan. Tuy
nhiên điều này chỉ có thể thực hiện thông qua một loạt
tiến trình, mà cuối cùng có thể nghe được bằng tiếng
“cóc” của một máy đo phóng xạ hay thấy được bằng
một chấm nhỏ trên tấm ảnh. Điều mà chúng ta nghe thấy
không bao giờ là bản thân hiện tượng, mà chỉ là hệ quả
của nó. Bản thân thế giới của nguyên tử và của các hạt
hạ nguyên tử thì nằm bên kia khả năng nhận biết của chúng
ta.
Như
thế thì, với thiết bị hiện đại ta có thể quan sát tính
chất của nguyên tử và thành phần của nó một cách gián
tiếp và có thể nhận biết thế giới hạ nguyên tử tới
một mức độ nhất định. Thế nhưng những kinh nghiệm này
lại không phải thông thường, nếu so sánh với đời sống
hàng ngày của chúng ta. Với thế giới vi mô này, nhận thức
không còn do giác quan trực tiếp mang lại nữa và do đó ngôn
ngữ thông thường của ta (vốn do giác quan tạo ra hình ảnh),
không còn đủ khả năng để mô tả các hiện tượng được
quan sát. Càng đi sâu vào thế giới tự nhiên, ta càng phải
từ bỏ hình ảnh và khái niệm của ngôn ngữ thông thường.
Trên
bước du hành vào thế giới cực nhỏ về mặt triết học,
bước đầu là bước quan trọng nhất: bước đi vào thế
giới nguyên tử. Tìm hiểu nguyên tử và nghiên cứu cơ cấu
của nó, khoa học đã vượt qua biên giới của khả năng nhận
thức bằng giác quan. Do vậy, khoa học không còn thấy vững
tin hoàn toàn nơi logic và óc suy luận nữa. Thế giới nguyên
tử hé mở cho nhà khoa học thấy chút ít tự tính của sự
vật. Cũng như nhà đạo học, nhà vật lý bây giờ cũng phải
đương đầu với kinh nghiệm phi giác quan về thực tại và
cũng như nhà đạo học, họ cũng phải trăn trở với những
tính chất nghịch lý của các kinh nghiệm này.