Chương
2
Biết
và thấy
Từ
vọng tưởng hãy đưa ta về thực tại!
Từ
bóng tối hãy đưa ta về ánh sáng!
Từ
cái chết hãy đưa ta về bất tử!
Áo
nghĩa thư (Brihad-Aranyaka-Upanishad)
Trước
khi nghiên cứu về sự song hành giữa nền vật lý hiện đại
với nền đạo học phương Đông, ta hãy đi sâu trả lời
câu hỏi, làm sao có thể so sánh được hai bên; một bên là
một nền khoa học chính xác, dựa trên ngôn ngữ phức tạp
của ngành toán học hiện đại và bên kia là một môn tu học
tâm thức, chủ yếu dựa trên thiền định quán sát rồi lại
còn cho rằng tri kiến của họ không thể dùng ngôn từ để
diễn tả.
Điều
ta muốn so sánh là nhận thức và tri kiến về thế giới của
nhà khoa học và nhà đạo học. Nhằm so sánh cho đúng, trước
hết ta phải làm rõ tri kiến ở đây là gì. Liệu một tăng
sĩ tại Đế Thiên Đế Thích hay Đông Kinh (Kyoto) hiểu tri
kiến cũng như một nhà vật lý tại Oxford hay Berkeley? Thứ
hai, ta muốn so sánh loại tri kiến nào? Một bên, chúng ta sẽ
lấy ra những con số thực nghiệm, những phương trình hay
các lý thuyết và bên kia là các kinh sách tôn giáo, những
huyền thoại xưa cũ và các luận văn triết học ra sao? Chương
này nhằm giải quyết hai vấn đề vừa nêu: tính chất của
các tri kiến cần đề cập và ngôn ngữ được sử dụng
để phát biểu những tri kiến đó.
Xuyên
suốt toàn bộ lịch sử, ta nhận ra rằng tâm thức con người
có hai cách nhận định, hai cách ý thức; hai cách đó có khi
được gọi là suy luận và trực giác, suy luận thường được
gắn liền với khoa học và trực giác với tôn giáo. Tại
phương Tây thì lối tư duy trực giác, tôn giáo hay bị đánh
giá thấp so với tư duy khoa học, có tính lý luận; trong lúc
phương Đông quan niệm hầu như ngược lại. Những phát biểu
sau đây về tri kiến của hai nhà tư tưởng vĩ đại Đông
Tây nói lên đặc trưng của hai thế đứng. Tại Hy Lạp, Sokrates
nói câu nổi tiếng: “Tôi biết rằng tôi không biết gì cả”
và tại Trung Quốc, Lão tử nói: “Biết mà cho là không biết,
thì cao”. Tại phương Đông, giá trị của tri kiến thường
sớm được đo lường từ nguồn của chúng. Thí dụ áo nghĩa
thư quan niệm có loại tri kiến cao cấp và bình thường, loại
bình thường xuất phát từ các khoa học và loại cao cấp
gắn liền với ý thức tôn giáo. Phật giáo nói về tục đế
và chân đế hay sự thật tương đối, sự thật tuyệt đối.
Mặt khác, triết học Trung Quốc hay nhấn mạnh tính chất
bổ túc lẫn nhau của trực giác và suy luận và diễn tả
chúng bằng cặp hình ảnh nguyên thủy Âm, Dương. Tương tự
như thế mà hai nền triết học bổ túc lẫn nhau-Khổng giáo
và Lão giáo-đã phát triển tại Trung Quốc cổ đại, để
đáp ứng với hai loại tri kiến.
Tri
kiến suy luận được rút tỉa ra từ kinh nghiệm, loại kinh
nghiệm do ta thu góp được bằng dụng cụ hay thông qua biến
cố xảy ra trong môi trường xung quanh. Chúng nằm trong lĩnh
vực của tri thức phán đoán mà công cụ chủ yếu của nó
là phân biệt, chia chẻ, so sánh, đo lường và phân loại.
Với phương cách này mà ta tạo dựng một thế giới của
phân biệt suy luận, một thế giới gồm những cặp phạm
trù đối lập, chúng chỉ hiện diện trong mối tương quan
với nhau. Do đó đạo Phật xem loại tri kiến này là “tương
đối”.
Một
đặc trưng quyết định của loại tri kiến này là sự trừu
tượng hóa, vì để so sánh và phân loại vô số các dạng
hình, các cấu trúc và hiện tượng chung quanh, ta không thể
quan tâm hết mọi tính chất của chúng mà phải lược bớt
để lấy một ít tính chất quan trọng thôi.
Với
cách thế đó mà ta có một bản đồ tri thức của thực tại,
trong đó mọi vật chỉ được qui lại trong tính chất chung
nhất. Tri kiến suy luận vì thế là một hệ thống gồm khái
niệm trừu tượng và những biểu tượng, đặc trưng của
nó là cấu trúc tuyến tính hợp lý; chúng tương thích với
tư duy và ngôn ngữ của ta. Trong đa số các ngôn ngữ thì
cơ cấu tuyến tính này được nhận rõ khi ta sử dụng các
chữ cái, chúng có thể xếp lại từng dòng mà truyền đạt
kinh nghiệm và tư tưởng.
Thế
giới tự nhiên, mặt khác, chúng gồm vô số hình ảnh trùng
trùng điệp điệp, một thế giới đa phương nhiều chiều,
trong đó không có một đường nào là thẳng hay dạng nào
là đều, trong đó mọi sự vật không vận hành tuần tự
trước sau mà cùng thời; một thế giới mà nền vật lý hiện
đại chỉ rõ rằng ngay cả không gian trống không cũng cong
nữa. Điều rõ rệt là thế giới trừu tượng của cách tư
duy khái niệm không bao giờ mô tả hoàn toàn được thực
tại này hay hiểu rõ được nó. Khi suy nghĩ về thế giới,
chúng ta sẽ đứng trước một vấn đề như người vẽ bản
đồ, anh ta phải diễn tả mặt địa cầu vốn cong tròn trên
một loạt bản đồ bằng phẳng. Từ đó ta chỉ có thể mô
tả thực tại một cách gần đúng và vì thế tất cả mọi
tri kiến suy luận hiển nhiên chỉ có giới hạn.
Khoa
học tự nhiên là loại khoa học thuộc về tri kiến suy luận,
nó đo lường, định lượng, chia loại và phân tích. Sự hạn
chế của loại tri thức càng lúc càng rõ trong khoa học hiện
đại, đặc biệt trong nền vật lý hiện đại mà câu nói
của Werner Heisenberg đã chỉ rõ rằng “mỗi danh từ hay mỗi
khái niệm, dù xem ra rõ rệt tới đâu, cũng chỉ có một khả
năng ứng dụng giới hạn” .
Thật
khó cho phần lớn chúng ta, nếu muốn luôn luôn ý thức về
sự giới hạn và tính tương đối của lối tư duy khái niệm.
Vì chúng ta dễ hiểu ý niệm về thực tại hơn chính thực
tại, chúng ta có khuynh hướng lẫn lộn về hai cái đó và
cho rằng khái niệm và hình ảnh của ta tạo ra là chính thực
tại rồi. Một trong những mục đích của nền đạo học
phương Đông là đưa con người ra khỏi sự lẫn lộn đó.
Thiền tông Phật giáo nói rõ người ta có thể dùng ngón tay
để chỉ mặt trăng rồi thì hãy quên ngón tay đi. Nhà hiền
triết Trang Tử viết:
Cần nơm bắt cá, nhưng có cá rồi hãy quên nơm;
Cần bẫy bắt thỏ, được thỏ rồi hãy quên bẫy;
Cần lời truyền ý, được ý hãy quên lời 2 .
Tại
phương Tây, Alfred Korzybski cũng diễn tả ý đó rất công hiệu
bằng câu “Địa đồ không phải là cảnh thật”.
Các
nhà đạo học phương Đông chú tâm tìm kiếm kinh nghiệm trực
tiếp với thực tại, thực tại này không những chỉ xuyên
suốt tư duy suy luận mà cả mọi cảm thọ giác quan. Áo nghĩa
thư viết:
Kẻ
biết thờ phụng cái vô thanh, vô cảm, vô sắc, không biến
hại, không mùi, không vị, miên viễn, vô thủy, vô chung, cao
hơn cả cái đại ngã, không lay chuyển được, kẻ đó đã
được giải thoát, không còn là miếng mồi của thần chết.3
Loại
tri kiến xuất phát từ sự chứng thực đó được Phật giáo
gọi là tri kiến “tuyệt đối”, vì nó không dựa trên sự
phân biệt, sự trừu tượng hóa và phân loại của đầu có
suy luận, vốn chỉ tương đối và có tính gần đúng. Cái
đó được Phật giáo gọi là kinh nghiệm trực tiếp về một
thể là như thế (Như lai), một thể nằm ngoài sự phân tích,
không thể chia chẻ, không thể định nghĩa. Sự chứng thực
của thể này không phải chỉ là hạt nhân trung tâm của đạo
giáo phương Đông, nó cũng chính là kinh nghiệm trung tâm của
mọi kinh nghiệm.
Các
nhà đạo học phương Đông luôn luôn chỉ rằng, thực tại
tối hậu không bao giờ là một đối tượng của suy luận
logic hay là một tri kiến có thể chỉ bày. Thực tại đó
không bao giờ dùng ngôn từ mô tả được vì nó nằm ngoài
phạm vi của giác quan và tư duy, từ phạm vi đó mà chữ nghĩa
và khái niệm hình thành. Về điều đó, áo nghĩa thư viết:
Mắt không chen nổi tới đó,
Tiếng nói cũng không, tâm thức cũng không.
Ta không biết làm sao, chẳng hiểu làm sao,
dạy được điều đó 4 .
Lão
Tử, người gọi thực tại tối hậu đó là Đạo, cũng nói
ý đó trong dòng đầu tiên của Đạo Đức Kinh: Đạo khả
đạo, phi thường đạo (Đạo mà ta có thể gọi được, không
phải là Đạo). Thực tế mà ai cũng có thể đọc ra được
từ mỗi dòng báo là nhân loại suốt trong hai ngàn năm qua
không hề minh triết thêm chút nào cả, mặc dù tri kiến suy
luận tăng lên đáng kinh ngạc, điều đó đủ rõ rằng không
thể trao truyền tri kiến tuyệt đối bằng lời được. Như
Trang Tử nói: “Nếu nó có thể bảo cho người khác hay được
thì ai cũng bảo cho anh em rồi”. Tri kiến tuyệt đối như
thế là một sự chứng thực hoàn toàn phi suy luận, một kinh
nghiệm diễn ra trong một dạng tâm thức bất thường mà ta
có thể gọi là một tình trạng “thiền quái” hay “huyền
bí”. Sự hiện hữu một tình trạng đó đã được nhiều
nhà đạo giáo đông tây thừa nhận, thậm chí cũng được
các công trình nghiên cứu tâm lý thông thường xác nhận.
Hãy nghe lời của William James:
Tâm
thức thông thường, tỉnh táo của chúng ta, tâm thức suy luận
như chúng ta gọi tên, chỉ là một dạng đặc biệt của tâm
thức, trong lúc xung quanh đó, chỉ cách một tấm màn mỏng,
có nhiều dạng của tâm thức hoàn toàn khác đang sẵn sàng
6 .
Mặc
dù nhà vật lý hoạt động với tri kiến suy luận, nhà đạo
học với tri kiến trực giác, thế nhưng hai loại tri kiến
này lại xuất hiện trên cả hai lĩnh vực. Điều này cũng
rõ nếu ta xét hai loại tri kiến đó được đạt tới và
được diễn tả như thế nào.
Trong
ngành vật lý thì tri kiến được thu lượm từ nghiên cứu
khoa học gồm ba giai đoạn. Giai đoạn một gồm tích luỹ
kết quả của kinh nghiệm, thông qua các hiện tượng, các
hiện tượng đó phải được giải thích thích đáng. Trong
giai đoạn hai, những khẳng định do quan niệm mang lại đó
được mô tả bằng biểu tượng toán học và một khung toán
học sẽ được đề ra nhằm diễn tả mối liên hệ của
những biểu tượng toán học nói trên một cách chính xác,
hợp với lý luận. Khung đó hay được gọi là mô hình toán
học hay nói một cách tổng quát hơn, là một lý thuyết. Sau
đó lý thuyết đó được áp dụng để tiên đoán kết quả
của những thí nghiệm khác nhằm kiểm tra nó. Trong giai đoạn
này, thường nhà vật lý rất vui sướng khi họ tìm ra một
mô hình toán học và biết cách áp dụng để tiên đoán kết
quả các thí nghiệm. Thế nhưng đến một lúc nào đó thì
nhà vật lý phải trình bày kết quả của mình cho một người
ngoài ngành và vì thế anh ta phải nói bằng một ngôn ngữ
thông thường. Điều đó có nghĩa là anh ta phải trình bày
mô hình của mình bằng ngôn ngữ thông thường, dùng ngôn
ngữ đó mà giải thích mô hình toán học. Đó là giai đoạn
ba của việc nghiên cứu và việc phát biểu một mô hình bằng
câu chữ có nói lên trình độ hiểu biết của anh ta tới
đâu.
Trong
thực tế, ba giai đoạn đó không phải luôn luôn tách bạch
hẳn nhau và chúng cũng không luôn luôn xuất hiện như trình
tự nêu trên. Lấy thí dụ một nhà vật lý dựa trên một
quan điểm triết học để tìm tới một mô hình và rồi các
thí nghiệm cho thấy kết quả ngược lại. Anh ta sẽ-điều
này rất hay xảy ra trong thực tế-tìm cách uốn nắn mô hình
đó để phù hợp với kết quả của thí nghiệm. Thế nhưng
nếu kinh nghiệm vẫn tiếp tục phản bác mô hình của anh
ta thì thế nào anh ta cũng bỏ rơi mô hình của mình.
Phương
pháp dựa trên kinh nghiệm mà thiết lập lý thuyết là phương
pháp khoa học ai cũng biết và chúng ta sẽ thấy nó cũng được
áp dụng trong đạo học phương Đông. Chỉ có nền triết
học Hy Lạp lại hoàn toàn khác trong điểm này. Mặc dù triết
gia Hy Lạp có những ý niệm thiên tài về thế giới tự nhiên,
rất gần với các mô hình khoa học hiện đại; thế nhưng
có một sự khác nhau rất lớn giữa hai bên về giá trị của
thực nghiệm, giá trị đó xem ra rất xa lạ với người Hy
Lạp. Họ thiết lập mô hình dựa trên một số định đề
hay nguyên lý nhất định, chứ không dựa trên quan sát tự
nhiên. Mặt khác lối tư duy đó lại đóng vai trò quan trọng
trong giai đoạn hai của nghiên cứu khoa học, đó là giai đoạn
thuần túy phát biểu một mô hình toán học và đó cũng là
một phần quan trọng của khoa học tự nhiên.
Nghiên
cứu khoa học phần lớn dựa trên tri thức và phương pháp
có tính suy luận nhưng không thể chỉ có thế. Sự nghiên
cứu thuần tuý lý luận thực ra sẽ vô bổ nếu không có
trực giác tham dự vào. Nó giúp nhà khoa học có một tầm
nhìn mới và làm họ thêm sáng tạo. Những loại tri kiến
trực giác này thường xuất hiện một cách đột ngột và
đặc trưng của nó là xuất hiện không phải nơi bàn viết,
bên cạnh một phương trình đẳng thức mà trong phòng tắm,
lúc đi dạo, trên bãi biển v.v... dường như trong giai đoạn
tư giãn sau hoạt động của đầu óc suy luận thì óc trực
giác chiếm ưu thế hơn lý trí và dẫn đến một sự tỏ
ngộ bất ngờ; đó cũng là niềm vui sướng của nghiên cứu
khoa học.
Tuy
thế, tri kiến trực giác chỉ hữu ích cho ngành vật lý khi
nó được phát biểu trong một mô hình toán học hữu lý và
được hỗ trợ thêm bằng lý giải trong ngôn ngữ thông thường.
Trong khuôn khổ này thì sự trừu tượng hoá là một đặc
tính quan trọng. Như đã nói, sự trừu tượng cần một hệ
thống những khái niệm và dấu hiệu, chúng diễn tả thực
tại bằng một bản đồ. Thế nhưng bản đồ chỉ diễn tả
một phần của thực tại, điều mà ta không biết là phần
nào của thực tại vì ngay từ bé chúng ta đã từng bước
xây dựng bản đồ đó mà không phân tích phê phán gì cả.
Vì thế chữ nghĩa của ngôn ngữ không hề được định nghĩa
rõ rệt. Chúng có nhiều nghĩa mà phần lớn khi chúng ta nghe
đến đều hiểu chúng một cách mơ hồ, và ý nghĩa của chúng
vẫn chìm sâu trong tiềm thức.
Tính
mơ hồ và đa nghĩa của ngôn ngữ thì quan trọng đối với
thi sĩ, đó là những ngưòi làm việc với những tầng sâu
của tâm kiến thức và mối tương giao của ngôn ngữ. Nhưng
khoa học thì nhắm đến những định nghĩa chính xác và mối
liên hệ rõ ràng và vì thế khoa học phải trừu tượng hoá
ngôn ngữ thêm nữa bằng cách giới hạn ý nghĩa của từ
và khuôn khổ của chúng, làm sao cho phù hợp với qui luật
của lý luận logic. Sự trừu tượng hóa cuối cùng được
xảy ra trong toán học, trong đó từ ngữ được thay bằng
dấu hiệu và mối liên hệ của những dấu hiệu đó được
định nghĩa một cách nghiêm ngặt. Với cách đó, thông tin
khoa học được ghi lại chỉ bằng một đẳng thức, một
dòng dấu hiệu; nếu phải viết ra bằng ngôn ngữ thông thường
ta cần nhiều trang giấy.
Quan
điểm cho rằng, toán học không gì khác hơn là một ngôn ngữ
hết sức trừu tượng và sắc gọn, thật ra cũng không phải
được chấp nhận hoàn toàn. Thực tế có nhiều nhà toán
học nghĩ rằng toán học không phải chỉ là một ngôn ngữ
mô tả thế giới tự nhiên, mà bản thân thiên nhiên cũng
chưa đựng toán học. Cha đẻ của lối nhìn này là Pythagoras-người
đã từng nói câu nổi tiếng: “Vạn sự là con số”- và
là người phát triển một nền toán học huyền bí rất đặc
biệt. Triết lý của Pythagoras đã đưa lý luận logic vào lĩnh
vực tôn giáo, đó là một sự phát triển mà theo Bertrand Russel
đã đóng một vai trò then chốt trong triết lý tôn giáo phương
Tây:
Sự
phối hợp giữa toán học và thần học, bắt đầu với Pythagoras,
là đặc trưng của nền triết lý tôn giáo của Hy Lạp, của
thời Trung cổ và trong thời đại mới kéo dài đến Kant...
Với Plato, St. Augustine, Thomas Aquinas, Descartes, Spinoza và Leibnitz
có một mối giao hoà mật thiết giữa tôn giáo và lý trí,
giữa đòi hỏi đạo đức với sự ngưỡng mộ của lý trí
về cái miên viễn, mối giao hoà đó xuất phát từ Pythagoras
và làm thần học phương Tây đầy tính suy luận khác với
nền đạo học trực tiếp từ châu Á .
Dĩ
nhiên các nền đạo học trực tiếp của châu Á không thể
chấp nhận quan điểm toán học Pythagoras. Theo quan điểm phương
Đông, thì toán học đầy chi tiết và định nghĩa phức tạp
chỉ có thể là một phần của bản đồ đầy khái niệm
về thực tại chứ không thể là bản thân thực tại. Thực
tại, như các nhà đạo học thực chứng, thì hoàn toàn không
định nghĩa được, không chia chẻ được.
Phương
pháp trừu tượng hóa của khoa học rất hiệu nghiệm, nhưng
ta phải trả cho nó một cái giá. Khi chúng ta ngày càng định
nghĩa tinh vi, càng trơn tru chặt chẽ hệ thống khái niệm
của ta, thì nó càng xa rời thực tại. Lấy ẩn dụ của Korzybski
về bản đồ và thực tại thì ta có thể nói, ngôn ngữ thông
thường là một loại bản đồ, nhưng nhờ sự thiếu chính
xác của ngôn ngữ mà nó lại linh động nhất định để
có thể diễn tả so lược một mô đất cong. Nếu ngôn ngữ
đó trở nên cứng nhắc thì sự linh động cũng mất theo và
với ngôn ngữ toán học thì ta đã tới một điểm mà mối
liên hệ với thực tại chỉ mỏng như sợi chỉ mành, để
giữa dấu hiệu toán học và kinh nghiệm của giác quan không
còn gì chắc chắn cả. Do đó khi ta cần phải dùng ngôn từ
để trình bày các mô hình toán học hay các lý thuyết, thì
ta phải dùng các khái niệm có thể hiểu được bằng trực
giác, nhưng phải chịu chấp nhận là chúng có thể đa nghĩa
và thiếu chính xác.
Cần
phân biệt rõ giữa mô hình toán học và sự giải thích chúng
qua ngôn từ. Mô hình thì tự thân nó cứng nhắc và nhất
quán, nhưng các dấu hiệu của chúng không liên hệ trực tiếp
với kinh nghiệm của chúng ta. Còn khi dùng ngôn ngữ để lý
giải mô hình ta cần khái niệm, khái niệm đó có thể hiểu
được bằng trực giác, nhưng khi đó chúng hết chính xác
trở nên nhiều nghĩa. Với cái nhìn đó, chúng không khác với
các mô hình triết học về thực tại, nên cả hai có thể
so sánh dễ dàng với nhau.
Nếu
trong khoa học đã có một yếu tố trực giác thì ngược lại
trong nền đạo học phương Đông cũng có một yếu tố thuộc
suy luận. Tuy nhiên mức độ của suy luận thay đổi từ trường
phái này qua trường phái khác. Thí dụ như trường phái Vệ-đà
của ấn Độ giáo hay Trung quán tông của Phật giáo rất đề
cao suy luận, trong lúc Lão giáo rất nghi ngờ khả năng suy
luận. Thiền tông, xuất phát từ Phật giáo, nhưng chịu nhiều
ảnh hưởng của Lão giáo, cũng tự nhận là “không văn tự,
không lý giải, không giáo pháp, không tri thức”. Tông này
hầu như tập trung trên kinh nghiệm giác ngộ và nếu có lý
giải thì lý giải sơ lược về sự giác ngộ mà thôi. Một
câu nói nổi tiếng của thiền là: “Chỉ mở miệng nói về
một sự vật là đã sai rồi”.
Các
tông phái khác phương Đông, dù ít thái quá hơn, chủ yếu
cũng chỉ quan tâm đến kinh nghiệm giác ngộ trực tiếp. Các
nhà đạo giáo cũng có vị đi vào những lý luận tinh tế,
nhưng ngay các vị đó cũng không bao giờ thấy lý luận là
nguồn gốc tri kiến, mà chỉ dùng ngôn từ để phân tích
hay lý giải kinh nghiệm thực chứng của mình. Tất cả mọi
tri kiến đều xây dựng vững chắc trên kinh nghiệm và chúng
cho nền đạo học phương Đông một tính cách thực nghiệm
mà kẻ tầm đạo luôn luôn nhắc nhở. Thí dụ D.T.Suzuki nói
như sau về Phật giáo:
Kinh
nghiệm cá nhân là cơ sở của triết lý Phật giáo. Trong nghĩa
này thì Phật giáo theo quan điểm thực chứng tuyệt đối,
dù cho về sau có những phép biện chứng nào để triển khai
đi nữa để tìm hiểu ý nghĩa của kinh nghiêm giác ngộ .
Joseph
Needham luôn luôn nhắc lại quan điểm thực chứng của Lão
giáo trong tác phẩm Science and civilisation in China và thấy rằng
quan điểm là gốc của khoa học kỹ thật và Trung quốc. Theo
Needham thì các nhà hiền triết Lão giáo “rút về hoang dã,
rừng núi để thiền quán về trật tự của trời đất và
để quan sát vô số dạng xuất hiện của thiên nhiên”. Các
câu kệ sau đây của thiền cũng nói điều đó:
Ai
muốn hiểu Phật tính, cứ sống thuận thời, thuận lễ nhân
quả.
Cơ
sở vững chắc của tri kiến dựa trên kinh nghiệm của phương
Đông có một sự tương đồng với khoa học thực nghiệm.
Sự tương đồng này còn được gia tăng nên bởi kinh nghiệm
tuệ giác. Kinh nghiệm này được truyền thống phương Đông
mô tả là tri kiến trực tiếp, nó nằm ngoài phạm vi của
lý luận và hầu như do Nhìn thấy mà ra chứ không do
Tư duy , thông qua thiền định, thông qua quan sát .
Trong
Lão giáo thì khái niệm kiến (thấy) rất quan trọng,
quan sát để thấy và gốc của Đạo. Thiền tông Trung quốc
cũng gọi giác ngộ là kiến đạo và trong mọi tông phái Phật
giáo đều cho rằng thấy là gốc của biết. Trong Bát chính
đạo, bài học của học dẫn đến sự thực chứng, thì chính
kiến là bước đầu tiên, sau đó mới đến chính tư
duy. D.T Suzuki viết về điều đó như sau:
“Thấy”
đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong nhận thức luận
Phật giáo, vì nó là cơ sở của Biết. Không thể có Biết
nếu không có Thấy, tất cả mọi cái Biết đều xuất phát
từ cái Thấy. Thấy và Biết (Tri Kiến) như thế nằm chung
trong giáo pháp của Phật. Triết lý của Phật giáo cuối cùng
cũng dạy ta thấy thực tại, đúng như nó là. Thấy chính
là chính là chứng ngộ.
Câu
này làm ta nhớ đến nhà đạo học Yaqui Don Juan: “Ham muốn
của ta là Thấy... vì chỉ nhờ thấy, Con Người Minh Triết
mới biết được”.
Vì
ngôn từ chỉ là một bản đồ trừu tượng, trình bày gần
đúng thực tại nên mọi diễn bày về một thí nghiệm khoa
học hay một thực chứng tâm linh phải thiếu chính xác, không
đầy đủ. Nhà vật lý hiện đại và nhà đạo học phương
Đông đều biết rất rõ điều đó...
Các
loại nghệ thuật phương Đông cũng là những dạng khác nhau
của thiền quán. Chúng không nhất thiết phải là phương tiện
bày tỏ ý niệm của người nghệ sĩ mà con đường thực
chứng bằng cách phát triển mặt trực giác của ý thức.
Thí dụ âm nhạc Ấn Độ được học không bằng cách đọc
nốt mà bằng cách lắng nghe vị thầy tấu nhạc và tự phát
triển một cảm thọ âm nhạc, cũng như phép tập thái cực
không phải nghe sao tập vậy mà phải luôn luôn cùng thầy
bước lại từ đầu. Trong trà đạo Nhật Bản ta thấy toàn
là những hành động chậm rãi, đúng qui phép. Phép đánh quyền
Trung Quốc đòi hỏi bàn tay vận động tự nhiên, không gò
bó. Tất cả những phương thức đó được phương Đông áp
dụng, nhằm phát triển mặt trực giác của ý thức.
Đối
với phần lớn con người, nhất là giới trí thức, dạng
ý thức này là một phần kinh nghiệm hoàn toàn mới. Thật
ra thì nhà khoa học, xuất phát từ công việc nghiên cứu cũng
đã quen với tri thức trực giác đột ngột, vì mỗi sự phát
minh mới mẻ đều xảy ra bất ngờ, trong một tuệ giác không
mô tả được. Thế nhưng chúng đều xảy ra hết sức ngắn
ngủi trong một đầu óc đầy ắp thông tin, khái niệm và
mô hình. Còn trong thiền quán ngược lại, đầu óc vắng bóng
tư duy và khái niệm và sẵn sàng hoạt động trực giác trong
thời gian dài hơn. Lão tử nói như sau về sự đối cực giữa
nghiên cứu suy luận và thiền quán:
Theo
học, ngày càng thêm; theo đạo, ngày càng bớt.
Khi
óc suy luận ngưng biệt thì tâm trực giác sản sinh ra một
dạng ý thức đặc biệt. Thế giới chung quanh được chứng
thực một cách trực tiếp, không bị sàng lọc bởi khái niệm.
Trang Tử nói: “Tâm thức yên tĩnh của thánh nhân như tấm
gương phản chiếu trời đất-chiếu rọi muôn vật. Ý niệm
nhất thể với thế giới chung quanh là đặc trưng của tình
trạng thiền quán này. Đó là một dạng tâm thức, trong đó
mọi sự chia cắt đã chấm dứt, biến mất trong một dạng
nhất thể vô phân biệt. Trong thiền sâu lắng thì tâm thức
hoàn toàn tỉnh giác. Cùng với cảm nhận phi giác quan về
thực tại, thiền giả cũng nhận biết tất cả tiếng động,
hình ảnh hay các ấn tượng khác từ bên ngoài, nhưng không
giữ chúng lại để phân tích hay suy đoán. Các hình ảnh đó
không làm mất sự chú tâm của thiền giả. Dạng đó của
tâm thức cũng giống như tâm thức của một kiếm sĩ, người
cảnh giác cao độ chờ cuộc tấn công của địch, nghe biết
hết tất cả mọi việc xảy ra chung quanh nhưng không lơi là
một phút giây. Thiền sư Yasutani Roshi sử dụng hình ảnh này
để mô tả phép thiền shikan-taza:
Shikan-taza
là một trạng thái tâm thức chú tâm, trong đó người ta không
căng thẳng vội vã, tất nhiên cũng không bao giờ đờ đẫn
mệt mỏi. Đó là dạng tâm thức của một người đối diện
với cái chết. Bạn hãy tưởng tượng mình phải đấu kiếm
như kiểu đấu tại Nhật ngày xưa. Đối diện với địch
thủ, bạn tỉnh giác từng khoảnh khắc, quyết tâm và sẵn
sàng. Chỉ cần một chút mất cảnh giác, bạn sẽ bị đâm
gục ngay. Một đám đông người bao chung quanh để xem trận
đấu. Bạn không mù nên bạn thấy đám đông qua khóe mắt
mà bạn không điếc nên bạn nghe họ. Nhưng cảnh giác của
bạn không phút nào bị những cái nghe nhìn đó chi phối.
Vì
sự tương tự giữa trạng thái thiền quán và tâm thức của
một kiếm sĩ nên hình ảnh người kiếm sĩ đóng một vai
trò quan trọng trong đời sống tri thức và văn hóa phương
Đông. Trong kinh sách quan trọng nhất của ấn Độ, tập Chí
Tôn ca Bhagavad Gita, vị trí câu chuyện là bãi chiến trường,
và nghệ thuật chiến tranh cũng tạo nên một phần quan trọng
trong văn hóa Trung Quốc và Nhật Bản. Tại Nhật, Thiền tông
đã ảnh hưởng lên truyền thống võ sĩ đại Samurai, sinh
ra nghệ thật đấu kiếm, trong đó tâm thức kiếm sĩ đạt
tới mức hoàn hảo. Nghệ thuật Thái Cực quyền của đạo
sỹ cũng được xem là võ thuật cao nhất, nó phối hợp những
cử động chậm rãi điều hòa của phép Du-già với một tâm
thức tỉnh giác cao độ của một chiến sĩ Đạo học phương
Đông dựa trên tri kiến trực tiếp về thể tính thực tại
và nền vật lý dựa trên quan sát của khoa học thực nghiệm
về hiện tượng của thế giới tự nhiên. Trong cả hai nơi
thì những quan sát đó được lý giải, sau đó được diễn
bày bằng ngôn từ. Vì ngôn từ chỉ là một bản đồ trừu
tượng, trình bày gần đúng thực tại nên mọi diễn bày
về một thí nghiệm khoa học hay một thực chứng tâm linh
phải thiếu chính xác, không đầy đủ. Nhà vật lý hiện
đại và nhà đạo học phương Đông đều biết rất rõ điều
đó.
Trong
vật lý, người ta gọi sự diễn bày một hiện tượng là
lập mô hình hay lý thuyết và biết chúng chỉ có giá trị
gần đúng là tính chất cơ bản của nền nghiên cứu khoa
học hiện đại ngày nay. Về điều đó, tiền đề của Einstein
như sau: “Nếu qui luật của toán học dựa trên thực tại,
thì chúng chưa chắc đúng; và nếu chúng đúng thì chúng không
dựa trên thực tại”. Nhà vật lý biết rằng, phương pháp
phân tích và suy luận của họ không bao giờ cùng một lúc
có thể giải thích được toàn bộ lĩnh vực của thế giới
hiện tượng và vì thế họ phân loại hiện tượng vào một
số nhóm nhất định và tìm cách lập nên mô hình để mô
tả từng nhóm. Qua đó họ bỏ ra ngoài một số hiện tượng
khác và vì thế mô hình không thể mô tả đầy đủ tình
hình thực sự. Những hiện tượng bị loại ra ngoài có thể
chúng có ảnh hưởng quá nhỏ để dù có lưu tâm đến chúng
thì lý thuyết cũng không thay đổi bao nhiêu, hoặc cũng có
thể chúng bị bỏ ra ngoài vì khi lập lý thuyết người ta
chưa hề biết đến chúng.
Nhằm
làm rõ điều này ta có thể xét mô hình cơ học cổ điển
của Newton. Tác động của sức cản của gió hay sự ma sát
thường không được để ý trong mô hình này vì chúng quá
nhỏ. Nhưng ngoài hai yếu tố đó ra thì suốt một thời gian
dài người ta xem mô hình cơ học của Newton là lý thuyết
chung quyết để mô tả các hiện tượng tự nhiên, cho đến
ngày khám phá ra hiện tượng điện tử, trong đó lý thuyết
Newton không có chỗ đứng. Sự khám phá ra những hiện tượng
này chỉ rõ mô hình này không đầy đủ, nó chỉ ứng dụng
được cho một nhóm hiện tượng thôi, chủ yếu là cho sự
vận động của chất rắn.
Khi
nói nghiên cứu một nhóm hiện tượng, ta có thể nói nghiên
cứu tính chất cơ lý của chúng trong một lĩnh vực hạn chế,
điều này lại cho thêm một lý do tại sao một lý thuyết
chỉ có tính gần đúng. Nói gần đúng cần phải nói một
cách tế nhị, vì rằng ta không bao giờ biết giới hạn thật
của một lý thuyết nằm nơi nào. Chỉ có thực nghiệm mới
chỉ ra được thôi. Thế nên mô hình cơ học cổ điển tiếp
tục bị xói mòn khi nền vật lý của thế kỷ 20 chỉ rõ
giới hạn đích thực của nó. Ngày hôm nay, người ta biết
rõ mô hình Newton chỉ có giá trị cho loại vật thể do nhiều
nguyên tử hợp lại và di chuyển với vận tốc nhỏ so với
vận tốc ánh sáng. Nếu điều kiện đầu không thể ứng
thì cơ học cổ điển phải được thay bằng nền cơ học
lượng tử; nếu điều kiện thứ hai không thỏa ứng, người
ta phải áp dụng thuyết tương đối. Điều đó không có nghĩa
cơ học Newton là sai hay cơ học lượng tử, thuyết tương
đối là đúng. Tất cả mô hình này đều là gần đúng, chúng
được áp dụng cho một phạm vi nhất định của thế giới
hiện tượng. Ra khỏi phạm vi đó, chúng không còn mô tả
đúng đắn về thế giới tự nhiên nữa và ngày nay người
ta tiếp tục tìm mô hình mới để thay thế mô hình mới để
thay thế mô hình cũ; hay nói đúng hơn, để tăng lên tính
gần đúng của chúng.
Việc
qui định giới hạn của một mô hình thường là một trong
những nhiệm vụ khó nhất và quan trọng nhất khi thành lập
nó. Theo Geoffrey chew mà lý thuyết Bootstrap của ông sẽ được
trình sau thì quan trọng nhất là phải luôn luôn tự hỏi sau
khi một mô hình hay lý thuyết đã được thừa nhận là: Tại
sao nó ứng dụng được? Giới hạn nó ở đâu? Nó gần đúng
trong dạng nào? Chew xem những câu hỏi này là giai đoạn đầu
cho các nghiên cứu tiếp theo. (Tr. 54)
Thí
dụ trong ấn Độ giáo thì điệu múa vũ trụ của thần Shiva
cũng nói lên hình dung về vật chất giống như nhà vật lý
nói về một số mặt của lý thuyết trường trong cơ học
lượng tử...
Các
nhà đạo học phương Đông cũng biết là mọi mô tả về
thực tại là không chính xác và thiếu đầy đủ. Sự chứng
thực tại nằm ngoài suy luận và ngôn từ và mỗi sự giác
ngộ đều dựa vào chứng thực đó nên tất cả những gì
nói viết về nó đều chỉ đúng một phần. Nếu ở khoa học
thực nghiệm thì tính gần đúng có thể diễn đạt bằng
số lượng, để cứ mỗi lần tăng tính gần đúng lên thì
mỗi lần có tiến bộ. Còn phương Đông giải quyết ra sao
với vấn đề của sự truyền đạt ngôn từ?
Trước
hết, các nhà đạo học quan tâm chủ yếu đến kinh nghiệm
chứng thực mà ít quan tâm đến việc phải mô tả chúng ra
sao. Do đó họ ít chú tâm đến việc phân tích sự mô tả
và khái niệm gần đúng nhiều hay ít không hề được đặt
ra ở phương Đông. Mặt khác, khi các vị đạo học muốn
truyền đạt kinh nghiệm của mình, họ cũng gặp phải giới
hạn của ngôn ngữ. Nhằm giải quyết vấn đề này, nhiều
phương tiện được đề ra ở phương Đông.
Đạo
học Ấn Độ, nhất là Ấn Độ giáo, khoác cho những ý niệm
của họ một cái áo huyền thoại và sử dụng dấu hiệu,
thi ca, ẩn dụ và tính tương quan. Ngôn ngữ huyền thoại ít
bị logic hóa và óc suy luận gò bó. Nó đầy ma lực và nghịch
lý, đầy hình ảnh khơi gợi và không bao giờ chính xác và
nhờ đó nó trình bày thế giác ngộ của đạo gia dễ hơn
ngôn ngữ của thông tin cụ thể. Theo Ananda coomaraswamy thì
“huyền thoại là hiện thân gần nhất với thực tại mà
có thể dùng ngôn từ tạo dựng nên được”.
Sức
tưởng tượng phong phú Ấn Độ sản sinh ra một số nam thần
nữ thần, mà hiện thân và hành động của họ là nội dung
mang tính hoang đường, được ghi lại qua bao thế hệ với
qui mô khổng lồ. Người theo Ấn Độ giáo có trình độ biết
rằng, tất cả các vị thần đó đều là sản phẩm của
tâm, hình ảnh huyền thoại là những bộ mặt của thực tại.
Mặt khác họ cũng biết rằng chúng được tạo ra không phải
cho vui chuyện mà chúng là phương tiện quan trọng để truyền
bá giáo pháp của một nền triết lý bắt rễ từ sự thực
chứng tâm linh.
Các
nhà đạo học Trung Quốc và Nhật có một giải pháp khác
để thoát khỏi chướng ngại ngôn ngữ. Thay vì thông qua hình
tượng và huyền thoại để làm rõ nghịch lý của tính thực
tại, họ chuộng sử dụng ngôn ngữ thông thường để nhấn
mạnh thể tính đó. Lão giáo hay sử dụng nghịch lý để
chỉ bày cho thấy những mâu thuẫn do ngôn từ sinh ra và làm
rõ giới hạn của cách diễn đạt đó. Họ đã trao truyền
cách này cho các nhà Phật học Trung Quốc và Nhật, rồi các
vị này tiếp tục phát triển thêm. Cách này đã đạt đỉnh
cao trong Thiền tông với những “công án”, những câu đố
vô nghĩa được các vị thiền sư dùng để truyền đạt yếu
chỉ của giáo pháp. Những công án này cho thấy một sự tương
đồng quan trọng với nền vật lý hiện đại (xem chương
3).
Tại
Nhật có cách diễn bày thế giới quan triết lý bằng thi ca
hết sức súc tích, thường được các vị thiền sư sử dụng
để nói đến tính là như thế của thực tại. Khi một vị
thiền tăng hỏi thiền sư Phong Huyệt Diên Chiều: “Nói cũng
không được, im lặng cũng không xong, làm sao tránh sai sót?”,
sư đáp:
Ta
nhớ Giang Tô tháng ba
Gà
kêu
Mùi
thơm hoa lá.
Loại
thi ca tâm linh này đạt đỉnh cao của nó với “Haicu”, loại
thơ cổ điển Nhật với 17 chữ, mang nặng âm hưởng Thiền.
Bài thơ sau đây của một nhà thơ “Haicu” chỉ tri kiến
tự tính của đời sống, dù là bản dịch vẫn còn nói lên
được điều cần nói:
Lá
rơi,
Chiếc
này nằm trên chiếc kia.
Mưa
tạt mưa .
Khi
các nhà đạo học phương đông trình bày tri kiến của mình-
bằng huyền thoại, biểu tượng, hình ảnh thi ca hay nói cách
nghịch lý- các vị đó biết rõ giới hạn của ngôn ngữ
và lối tư duy tuyến tính. Ngày nay nền vật lý hiện đại
khi nhìn về các mô hình và lý thuyết của mình, cũng đều
có cùng một thái độ như thế. Chúng cũng chỉ có thể gần
đúng và không thể chính xác. Chúng chính là một loại tương
tự như huyền thoại, biểu tượng và hình ảnh thi ca của
phương Đông và trên bình diện này tôi muốn rút ra một sự
tương đồng, sự song hành giữa hai bên. Thí dụ trong ấn
Độ giáo thì điệu múa vũ trụ của thần Shiva cũng nói lên
hình dung về vật chất giống như nhà vật lý nói về một
số mặt của lý thuyết trường trong cơ học lượng tử.
Cả vị thần nhảy múa lẫn lý thuyết cơ lý đều là sản
phẩm của tâm thức: chúng đều là những mô hình để mô
tả những tri kiến trực giác về thực tại của tác những
mô hình đó.