PHẦN
I
CON
ĐƯỜNG CỦA VẬT LÝ HỌC
Chương
1
Vật
lý hiện đại - Một “tâm đạo”?
Mỗi
con đường chỉ là một lối đi và cũng không ảnh hưởng
gì đến mình hay đến ai nếu phải từ bỏ nó, một khi trái
tim buộc bạn phải làm thế... Hãy quan sát con đường kỹ
lưỡng và chính xác. Và hãy tự hỏi mình, chỉ chính mình
thôi... Đó là một con đường của trái tim? Nếu phải thì
đó là một lối đi tốt đẹp; nếu không nó chỉ vô ích.
Carlos
Castaneda; Bài học của Don Juan
Nền
vật lý hiện đại có một ảnh hưởng sâu đậm hầu như
trên mọi hình thái của xã hội loài người. Nó trở thành
cơ sở của khoa học tự nhiên, và sự liên hệ hỗ tương
giữa khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật đã biến đổi
sâu xa điều kiện sống của chúng ta, xấu tốt đều có.
Ngày nay hầu như không có một ngành công nghiệp nào mà không
sử dụng những thành tựu của vật lý nguyên tử và ai cũng
biết đến ảnh hưởng của vũ khí hạt nhân trong nền chính
trị thế giới. Tuy thế thật ra, ảnh hưởng của vật lý
hiện đại vượt xa kỹ thuật. Nó vươn dài đến tận tư
tưởng, văn hoá và dẫn đến một sự thay đổi cơ bản về
thế giới quan cũng như mối quan hệ của con người với vũ
trụ. Sự nghiên cứu về thế giới nguyên tử và hạ nguyên
tử (*) trong thế kỷ 20 đã phát hiện một cách bất ngờ
hạn chế của các quan niệm cổ điển và buộc ta có một
sự sửa đổi triệt để về nhiều khái niệm. Ví dụ khái
niệm “vật chất” trong nền vật lý hạ nguyên tử hoàn
toàn khác hẳn với quan niệm thông thường về một thể vững
chắc trong vật lý cổ điển. Điều đó cũng tương tự cho
các khái niệm không gian, thời gian và nguyên nhân - kết quả.
Thế nhưng những khái niệm vừa kể lại là cơ sở của thế
giới quan chúng ta với sự chuyển hoá mạnh mẽ của chúng,
thế giới quan của ta cũng bắt đầu thay đổi.
Trong
những thập niên qua, các nhà vật lý và triết gia đã thảo
luận rất nhiều về sự thay đổi này do nền vật lý hiện
đại tác động, nhưng rất ít khi người ta thừa nhận rằng
sự thay đổi quan niệm này rõ rệt đã dẫn vào thế giới
quan của nền đạo học phương Đông. Các khái niệm của
vật lý hiện đại cho thấy một sự song song bất ngờ với
các quan niệm đã được đề ra trong các nền triết lý, đạo
học miền Viễn Đông. Dù sự song hành này chưa được đề
cập đến một cách cặn kẽ nhưng nó đã được nhiều nhà
vật lý lớn nhất của thế kỷ này đã ghi nhận, khi các
vị đó tiếp xúc với các nền văn hoá phương Đông trong
các chuyến đi thuyết giảng tại ấn Độ, Trung quốc và Nhật
Bản. Xin ghi lại ba thí dụ sau đây:
Những
quan điểm chung về nhận thức của con người, được minh
hoạ bởi phát hiện của vật lý nguyên tử, tự nó không
xa lạ hay khó hiểu. Ngay trong nền văn hoá của chúng ta, chúng
đã có lịch sử và trong tư tưởng Phật giáo hay ấn Độ
giáo chúng có một chỗ đứng trung tâm đấng kể.
Điều
mà ta phát hiện chỉ nêu thêm ví dụ, xác nhận và làm tinh
tế thêm cho một nền văn minh triết cổ xưa (Julius Robert Oppenheimer
1904-1067, nhà vật lý học người Mỹ, góp phần quan trọng
trong công cuộc nghiên cứu vật lý hạt nhân).
Để tìm sự song hành với lý thuyết vật lý nguyên tử...
ta phải đến với cách đặt vấn đề về nhận thức luận
mà các đầu óc như Phật hay Lão Tử đã từng đối mặt,
nếu ta muốn hoà điệu vị trí của chúng ta vừa là khán
giả vừa là diễn viên trong màn kịch lớn của thế gian.
(Niels Bohr).
Đóng góp lớn nhất trong ngành vật lý lý thuyết của Nhật
Bản sau cuộc chiến tranh thế giới vừa qua có lẽ là dấu
hiệu của một mối liên hệ nhất định giữa các tư tưởng
phương Đông và nội dung triết học của lý thuyết lượng
tử. (Werner Heisenberg).
Mục
đích của cuốn sách này là tìm hiểu mối tương quan giữa
các khái niệm của vật lý hiện đại và cơ sở của nền
triết học và đạo học phương Đông. Chúng ta sẽ thấy hai
cơ sở chung của nền vật lý thế kỷ 20 - lý thuyết lượng
tử và lý thuyết tương đối - buộc chúng ta phải nhìn thế
giới như cách nhìn Ấn Độ giáo, Phật giáo, Lão giáo và
sự giống nhau giữa hai bên càng tăng thêm khi xét các thí
nghiệm gần đây nhằm phối hợp hai lý thuyết để mô tả
các hiện tượng trong vũ trụ vi mô: khi nói về các tính chất
và tương tác của các hạt hạ nguyên tử, các hạt đó là
tác nhân tạo ra vật chất. Đây cũng là nơi mà sự song hành
giữa vật lý lý thuyết và đạo học phương Đông nổi bật
nhất và chúng ta sẽ gặp những lý giải mà ta sẽ không biết
chúng do ai phát biểu, do một nhà vật lý hay một đạo sĩ
phương Đông.
Khi
nói Đạo học phương Đông, tôi nói đến các triết lý tôn
giáo của ấn Độ giáo, Phật giáo và Lão giáo. Mặc dù chúng
gồm một số lớn trường phái tâm linh và hệ thống triết
lý đan kết lẫn nhau, song tính chất chung của thế giới quan
đó đều như nhau. Cái nhìn này không chỉ giới hạn ở phương
Đông, nó có thể tìm thấy trong nhiều cấp bậc của mọi
triết lý thiên về huyền bí. Vì thế những luận cứ trong
sách này có thể nói chung là vật lý hiện đại dẫn ta đến
một thế giới quan rất tương đồng với cách nhìn của nhà
đạo học của mọi thời đại và truyền thống.
Truyền
thống đạo học thực ra có mặt trong tôn giáo và các yếu
tố huyền bí cũng có mặt trong trường phái triết học phương
Tây. Mối song hành với vật lý hiện đại thật ra không phải
chỉ có trong Kinh Vệ Đà của ấn Độ giáo, trong Kinh Dịch
hay trong các Kinh Luận của đạo Phật, chúng cũng đã từng
hiện diện trong tư tưởng của Heraclitus (550-480 trước CN,
triết gia Hy Lạp) trong Sufismus của người Ả-rập và trong
giáo pháp của nhà huyễn thuật Yaqui Don Juan. Nhưng ở đây,
nhằm dùng từ đơn giản, tôi sẽ nói thế giới quan phương
Đông và thỉnh thoảng mới nhắc đến các nguồn đạo học
khác.
Nếu
nền vật lý hôm nay mà đưa về lại một thế giới quan huyền
bí thì thật ra nó chỉ trở lại nguồn gốc của nó, đã
cách xa 2500 năm. Thật thú vị khi theo dõi nền khoa học phương
Tây trên bước đường của nó, bắt đầu với các triết
gia đạo học Hy Lạp đến sự phát triển thành những tư
duy duy lý xuất sắc, ngày càng xa tính chất huyền bí ban đầu,
tiến tới một thế giới quan đối lập với thế giới quan
của phương Đông. Thế nhưng trong những bước đường phát
triển gần đây nhất, khoa học phương Tây lại tự vượt
lên quan điểm của chính mình và trở lại với tư duy của
nền triết học Hy Lạp cổ và triết học phương Đông. Nhưng
lần này nó không đặt cơ sở trên trực giác nữa mà dựa
trên những thí nghiệm chính xác, phức tạp và dựa trên một
lý luận logic chặt chẽ của toán học.
Nguồn
gốc của vật lý, cũng như mọi ngành khoa học phương Tây
khác, bắt rễ trong giai đoạn đầu của triết học Hy Lạp,
và thế kỷ 6 trước Công nguyên, trong một nền văn hóa mà
khoa học tự nhiên, triết học và tôn giáo chưa hề tách nhau.
Các
nhà hiền triết của truyền thống Milesi tại Ionia hồi đó
chưa biết sự phân biệt này. Mục đích của các vị đó
là nhằm phát hiện cái cốt tủy của cơ cấu đích thực
của sự vật mà họ gọi là Physis. Từ Physis (vật lý) xuất
phát từ Hy Lạp đó, có nguyên nghĩa là sự tìm kiếm của
tự tính sự vật.
Điều
này tất nhiên cũng là mục đích của các nhà đạo học và
thực tế là triết học Milesi cũng có một khuynh hướng đạo
học mạnh mẽ. Người Hy Lạp đời sau gọi các nhà Milesi
là Hylozoist nghĩa là kẻ cho rằng vật chất cũng biết sống
vì các vị Milesi không hề phân biệt giữa sinh và vô sinh,
giữa tâm thức và vật chất. Thậm chí họ không có từ vật
chất, vì họ cho rằng mọi hiện tượng đều là phát biểu
của Physis cả, mà cái này chứa sẵn sự sống và tâm thức.
Vì thế Thales (625-547 trước CN - nhà toán học và triết học
Hy Lạp) xem mọi sự vật đều chứa đầy linh tánh và Anaximender
(610-547 trước CN - triết gia Hy Lạp) xem vũ trụ có dạng của
một cơ thể, được Pneuma (Hơi thở, khí), hơi thở của vũ
trụ điều hòa, cũng như con người được khí trời nuôi
sống.
Quan
điểm nhất thể và hữu cơ của những người Milesi rất
gần với triết học cổ đại ấn Độ và Trung Quốc và sự
song hành với thế giới quan phương Đông càng rõ rệt hơn
nữa trong triết học của Heraclitus. Heraclitus tin nơi một thế
giới đang biến dịch liên tục, của một sự trở thành miên
viễn. Đối với ông, những gì tĩnh tại chỉ là sự vọng
tưởng và nguyên lý vũ trụ của ông là ngọn lửa, một biểu
tượng của sự biến dịch thường xuyên của mọi sự. Heraclitus
chỉ ra rằng, mọi biến dịch trong trời đất là do tính động
và sự tác động đầy sức sống và nhịp nhàng; ông xem mỗi
cặp đối lập đó là cái nhất thể. Ông gọi cái nhất thể,
cái xuyên suốt mọi cặp đối lập, là logos.
Đến
trường phái Elatic thì cái nhất thể này bị chẻ đôi, họ
cho rằng có một nguyên lý thiêng liêng cao hơn cả thánh thần
và con người. Mới đầu nguyên lý này được xem là sự nhất
thể của vũ trụ, về sau người ta cho rằng nó là Thượng
đế có tính toàn trí và mang nhân trạng, là người đứng
trên và cai quản thế giới. Đó là khởi thủy của khuynh
hướng tách tâm và vật ra làm hai và dẫn triết học phương
Tây đến tính nhị nguyên tiêu biểu.
Trong
hướng này thì Parmenides đi một bước ngược hẳn với Heraclitus.
Ông xem nguyên lý cơ bản của mình chính là cái Tồn Tại,
cho nó là cái có thực duy nhất và không thay đổi. Ông xem
sự biến dịch không thể có, cái mà ta gọi là biến dịch
trong thế giới chỉ là sự nhầm lẫn của giác quan. Từ quan
điểm này phát sinh một vật chất bất hoại, vật chất này
là nền tảng mang những tính chất có thể thay đổi. Khái
niệm vật chất bất hoại trở thành một khái niệm gốc
của tư duy phương Tây.
Trong
khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, các nhà triết học
Hy Lạp tìm cách vượt lên hai quan điểm đối lập của Parmenides
và Heraclitus. Nhằm dung hòa cái tồn tại bất biến (Parmenides)
và sự biến dịch thường xuyên (Heraclitus), người ta cho rẳng
tồn tại thể hiện thông qua những chất liệu bất biến,
nhưng đem nó mà trộn lẫn với nhau hay tách rời xa nhau thì
chúng lại tạo nên sự biến dịch của thế giới. Tư duy
này dẫn đến khái niệm nguyên tử, là những hạt nhỏ nhất
bất khả phân của vật chất, nó được trình bày rõ nhất
trong triết học của Leucippus và Demokritus. Những người Hy
Lạp cổ theo truyền thuyết nguyên tử đó kéo một đường
phân ranh rõ giữa tâm và vật, đối với họ vật chất được
cấu tạo bằng những hạt cơ bản (**). Những hạt này vận
động hoàn toàn thụ động giữa những hạt khác, cũng chẳng
có sự sống trong một không gian trống rỗng. Lý do nào làm
chúng ta vận động cũng không được giải thích rõ, chúng
thường được xem là do các lực bên ngoài tác động, các
lực đó có một nguồn gốc thuộc tâm, khác hẳn vật chất.
Trong suốt thế các kỷ sau, hình dung này là một yếu tố
then chốt của tư tưởng phương Tây, của quan điểm nhị
nguyên Tâm - Vật, giữa hồn phách và thể xác.
Khi
ý niệm chia đôi tâm- vật bắt đầu bắt rễ thì các triết
gia hướng về thế giới tâm thức nhiều hơn, họ quan tâm
đến linh hồn con người và các vấn đề đạo lý. Suốt
hơn hai ngàn năm, sau đỉnh cao của nền khoa học và văn hóa
Hy Lạp trong thế kỷ thứ 4, thứ 5 trước Công nguyên, các
vấn đề đó đè nặng thế giới tư tưởng phương Tây. Dựa
trên nhận thức khoa học thời Thượng cổ, Aristotle đã hệ
thống và tổ chức thành mô hình, mô hình đó làm nền tảng
cho quan niệm của phương tây về vũ trụ suốt hai ngàn năm.
Nhưng cũng chính Aristotle lại nghĩ rằng những vấn đề về
linh hồn con người và suy tư về Thượng đế đáng quí hơn
chuyên nghiên cứu thế giới vật chất. Lý do tại sao thế
giới quan của Aristotle tồn tại lâu dài cũng chính là vì
người ta không tha thiết gì về thế giới vật chất cũng
như vì ảnh hưởng của Giáo hội, vì Giáo hội là người
ủng hộ quan điểm của Aristotle suốt thời Trung cổ.
Phải
đợi đến thời Phục hưng thì khoa học phương Tây mới bắt
đầu phát triển, khi con người bắt đầu tự giải phóng
ra khỏi quan điểm của Aristotle và Giáo hội bắt đầu quan
tâm đến thế giới tự nhiên. Sau đó đến thế kỷ thứ
15, việc nghiên cứu giới tự nhiên được thực hiện trong
một tinh thần khoa học và các thí nghiệm ra đời nhằm kiểm
tra những ý niệm mới. Song song, người ta còn quan tâm đến
toán học. Cuối cùng, nhằm phát biểu những lý thuyết khoa
học vừa được khám phá, được thí nghiệm thừa nhận,
người ta sử dụng toán học. Galileo là người đầu tiên
đã nối kết các nhận thức từ kinh nghiệm với toán học,
vì thế ông được xem là cha đẻ của nền khoa học hiện
đại.
Khoa
học hiện đại phát sinh, nó mở đường cho sự phát triển
của tư duy triết học, và song song nó dẫn đến một sự
phát biểu cực đoan về tính nhị nguyên tâm - vật. Sự phát
biểu này xuất hiện vào thế kỷ thứ 17 với triết học
của Rene Descartes, người cho rằng trong tự nhiên có hai lĩnh
vực hoàn toàn tách rời và độc lập với nhau: lĩnh vực
tâm thức (res cogitans) và lĩnh vực vật chất (res extensa).
Nhờ cách phân chia của Descartes, các nhà khoa học được phép
xem vật chất là chết và hoàn toàn độc lập với mình: thế
giới vật chất chỉ là một tập hợp của những đối tượng
khác nhau, trong một bộ máy khổng lồ. Thế giới quan có tính
cơ giới này được Isaac Newton ủng hộ, người đã phát triển
nền cơ học của mình trên cơ sở đó và biến nó thành nền
tảng của nền vật lý cổ điển. Từ giữa thế kỷ 17 đến
cuối thế kỷ 19, mô hình cơ học của Newton đã thống trị
toàn bộ nền tư duy khoa học. Song song đó, cũng có một hình
ảnh của Thượng đế, người đứng trên thế giới và cai
quản thế giới bằng những qui luật của Chúa. Những qui
luật của thế giới tự nhiên mà nhà khoa học đang nghiên
cứu cũng được xem là nằm trong vòng qui luật trường cửu
và bất biến của Chúa vì Chúa là người cai quản thế giới.
Các
chương sau đây sẽ chỉ rõ, mọi yếu tố cơ bản của thế
giới quan phương Đông cũng chính là thế giới quan xuất phát
từ nền vật lý hiện đại...
Triết
học Descartes không những chỉ có ảnh hưởng trong nền vật
lý cổ điển. Nó từng có và ngày nay vẫn còn có ảnh hưởng
lớn lao trong tư duy phương Tây nói chung. Câu nói nổi tiếng
của Descartes “Cogito ergo sum” (tôi tư duy, vậy tôi hiện
hữu) làm cho người phương Tây đồng hóa mình với tâm thức
thay vì với toàn bộ con người mình. Hậu quả của cách phân
chia kiểu Descartes là mỗi con người tưởng mình là một thể
cô lập, là một cá thể sống “trong” thân xác. Tâm bị
tách rời khỏi thân thể nhưng lại nhận một trách nhiệm
là “quản thân thể đó, vì thế mà sinh ra mối mâu thuẫn
giữa ý chí có ý thức và bản năng vô ý thức. Mỗi một
cá thể lại chia chẻ ra nhiều ngăn hộc khác nhau, tùy hoạt
động, khả năng, cảm xúc, niềm tin v.v... của người đó;
chúng nằm chồng chéo trong vô số mâu thuẫn, liên tục sinh
ra những xao xuyến siêu hình và chán nản.
Mối
hỗn loạn nội tâm đó của con người được phản ánh qua
cách nhìn ra thế giới bên ngoài, thế giới được nhìn qua
nhiều vật thể và tiến trình khác nhau. Thế giới xung quanh
được coi như có nhiều phần tử kết nên, nhiều phe nhóm
giành nhau cấu xé. Quan niệm chia chẻ này bao trùm luôn lên
xã hội, vì thế mà sinh ra nhiều quốc gia, chủng tộc, phe
nhóm tôn giáo và chính trị khác nhau. Cho sự chia chẻ như
vậy là đúng-trong ta, xung quanh ta và trong xã hội đó chính
là nguyên do chủ yếu của mọi cuộc khủng hoảng ngày nay
về xã hội, sinh thái và văn hóa; của tình trạng bạo lực
ngày càng gia tăng; môi trường ô nhiễm; trong đó cuộc sống
trở nên tệ hại về tâm lý và thể chất.
Do
đó, sự chia cắt kiểu Descartes và thế giới quan cơ giới
vừa có ích vừa tai hại. Nó hết sức thành công trong việc
phát triển nền vật lý cổ điển và kỹ thuật, nhưng cũng
mang lại nhiều hậu quả tai hại cho nền văn minh của chúng
ta. Ngày nay thật là một điều kỳ diệu được nhìn thấy
trong thế kỷ 20, nền khoa học sinh ra do sự cách ly kiểu Descartes
và quan điểm cơ giới lại phát triển tiến lên, vượt lên
sự chia chẻ, trở về lại với ý niệm nhất thể mà đã
được các nền triết học Hy Lạp và phương Đông phát biểu.
Ngược
lại với quan điểm cơ giới phương Tây thì thế giới quan
phương Đông có tính hữu cơ (*). Đối với nhà đạo học
phương Đông thì mọi vật thể và biến cố con người cảm
nhận được có mối quan hệ với nhau, chúng chỉ là những
dạng khác nhau của một “thực tại cuối cùng”. Khuynh hướng
của chúng ta rất thích chia chẻ thế giới được cảm nhận
thành ra những vật thể riêng lẻ và nhận chính mình là một
cá thể cô lập, khuynh hướng đó được xem là một vọng
tưởng xuất phát từ một tâm thức hay phân biệt đánh giá.
Triết học Phật giáo xem khuynh hướng đó là vô minh (Avidya),
đó là một dạng của vọng tâm, cần vượt bỏ:
Nếu vọng tâm sinh khởi, thì các pháp đều sinh khởi;
Vọng tâm diệt đi thì các pháp đều diệt 4 .
Mã Minh (**)
(*)
Organic
(**)Tác
giả trích Đại Thừa khởi tín luận của Mã Minh (Asvaghosa),
luận sư Đại thừa ấn Độ, sống giữa thế kỷ 1,2 Công
nguyên. Trong nguyên bản Anh ngữ của sách này, tác giả trích
Mã Minh là từ bản dịch của Daisetz Teiraro Suzuki-Thiền sư
nổi tiếng người Nhật, tác giả các bộ Essays in Zen Buddhism,
The Essence of Buddhism, còn lời dịch này được trích từ bản
dịch của Thích Thiện Hoa. (N.D).
Mặc
dù các trường phái đạo học phương Đông khác nhau về nhiều
chi tiết, nhưng tất cả đều nhấn mạnh đến tính nhất
thể của vũ trụ, đó là điểm trung tâm của mọi giáo pháp.
Mục đích cao nhất của kẻ tầm đạo-không kể Ấn Độ
giáo, Phật giáo hay Lão giáo-là luôn luôn tỉnh giác về sự
nhất thể và về mối tương quan của mọi pháp, vượt lên
khái niệm về một cái ngã độc lập và tự hoà mình vào
“thực tại cuối cùng” đó. Sự tỉnh giác này-có khi gọi
là “giác ngộ”- không phải chỉ là một tiến trình hiểu
biết mà là một kinh nghiệm tự nếm trải, kinh nghiệm này
chiếm toàn bộ thân tâm hành giả và vì thế có tính chất
tôn giáo. Do đó phần lớn các triết lý phương Đông chủ
yếu là triết lý có tính tôn giáo.
Theo
quan điểm phương Đông thì sự chia chẻ giới tự nhiên thành
sự vật riêng lẻ và không có cơ sở và mọi sự vật đều
đang hình thành, đang đổi liên tục. Thế giới quan phương
Đông vì thế là động, chứa đựng tính chất chủ yếu thời
gian và biến dịch. Vũ trụ là một thực tại không thể phân
chia- vận hành liên tục, sinh động, hữu cơ; cùng một lúc
vừa là tâm thức vừa là vật chất.
Vì
vận hành và biến dịch là tính chất căn bản của sự vật
nên năng lực tác dụng cho sự vận hành đó, không như quan
điểm cổ điển của Hy Lạp, không nằm ngoài sự vật mà
nó chính là một tính chất nội tại của vật chất. Do đó
mà hình ảnh Thượng đế của phương Đông không phải là
một kẻ đứng trên và trị vì thế giới mà là một nguyên
lý, nguyên lý đó tác động từ bên trong:
Đó là người, kẻ ẩn trong mọi sự,
Mà khác biệt với tất cả mọi sự,
Kẻ mà mọi loài không ai nhận ra,
Mà
thân người chính là nội sự,
Là
kẻ dẫn đường nội tại của mọi sự,
Đó chính là tiểu ngã của bạn,
Kẻ dẫn đường bí ẩn, kẻ bất tử 5 .
Các
chương sau đây sẽ chỉ rõ, mọi yếu tố cơ bản của thế
giới quan phương Đông cũng chính là thế giới quan xuất phát
từ nền vật lý hiện đại. Các chương đó sẽ nói rõ, những
tư duy đạo học phương đông cung cấp cho các lý thuyết của
vật lý hiện đại một nền tảng triết học nhất quán và
quan trọng; cung cấp một nhận thức về thế giới mà những
phát hiện khoa học hoàn toàn hòa điệu với những mục đích
tinh thần và niềm tin tôn giáo của con người. Hai cơ sở
căn bản của thế giới quan này là sự nhất thể và mối
liên hệ qua lại của mọi hiện tượng cũng như tính chất
động của vũ trụ. Càng đi sâu vào thế giới vi mô, ta càng
rõ, nền vật lý hiện đại cũng như đạo học phương Đông
nhìn thế giới là một hệ thống bất khả phân, ảnh hưởng
lên nhau và liên tục biến dịch, mà người quan sát là một
phần tử trong hệ thống đó.
Thế
giới quan hữu cơ và có tính sinh thái của phương Đông hiển
nhiên là lý do chính tại sao phương Tây đang ưa chuộng nó,
một phong trào mới mẻ và to lớn, nhất là trong giới trẻ.
Trong xã hội phương Tây chúng ta, còn sót lại ảnh hưởng
nặng nề của nền văn hóa và quan điểm chia chẻ và cơ giới
nọ, đang có một số người đã thấy tư duy đó là nguồn
gốc của sự bất mãn đang lan tràn trong xã hội và nhiều
người đã hướng về con đường giải phóng của phương
Đông. Một điều đáng quan tâm, mà thật ra chẳng bất ngờ
gì, là những người đang được đạo học phương Đông thu
hút, đang tìm hiểu Kinh Dịch hay thực hành phép Du-già (*),
những người đó thường có một thái độ chống lại khoa
học. Họ cho rằng khoa học, nhất là ngành vật lý, là một
môn học buồn tẻ, đóng khung, là môn học mang trách nhiệm
của mọi sự xấu xa của kỹ thuật.
Cuốn
sách này muốn nâng cao “uy tín” của khoa học, trong đó
nó sẽ chỉ ra một sự hòa điệu cốt lõi giữa tinh thần
của đạo học phương Đông và khoa học phương Tây. Nó sẽ
cố gắng chỉ rõ ngành vật lý đã vượt xa cái khung của
kỹ thuật thuần túy, chỉ rằng con đường-hay Đạo-của
vật lý là một con đường với trái tim, tâm đạo, một con
đường dẫn đến tri kiến đích thực và sự thực chứng.
(*)
Yoga.