PHỤ
LỤC
CƯ
SĨ TIỀN BỐI HỮU CÔNG
THẾ
KỶ XX
(04
NHÂN VẬT TIÊU BIỂU)
Cư
sĩ VĂN QUANG THÙY
1887
– 1967
TUỆ
NHUẬN
VĂN
QUANG THÙY
1887
– 1967
Cư
sĩ Văn Quang Thùy sinh ngày 17 tháng 3 năm Đinh Hợi 1887, tại
tỉnh Hải Dương, thân phụ là cụ Văn Đức Khiêm. Thuở nhỏ,
ông theo học chữ Hán. Người ta kể lại rằng ông chăm học,
không lúc nào rời cuốn sách, đến nỗi trong xóm có vụ cháy
nhà, mọi người đổ xô đi coi, ông vẫn ngồi yên học.
Sau
khi việc thi cử bằng chữ Hán bị bãi bỏ, ông quay sang học
tiếng Pháp và thi đỗ làm Thông phán tại Nha quan thuế Hà
Nội.
Năm
1928, cụ thân sinh thất lộc, ông suy tư về kiếp sống vô
thường, bắt đầu tìm hiểu và nghiên cứu kinh điển đạo
Phật. Bẩm tính thông minh, lại thêm có vốn Hán học vững
vàng, ông thâm nhập giáo lý Phật đà một cách nhanh chóng
và uyên thâm, trở nên một cư sĩ Phật tử thuần thành.
Thời
bấy giờ, sách báo thuộc loại tân thư như phong trào chấn
hưng Phật giáo ở Trung Hoa và Nhật Bản thâm nhập vào nước
ta qua đường dây của thương nhân Hoa kiều đã tác động
vào tư tưởng của giới trí thức cựu học và các vị tôn
túc Phật giáo Việt Nam. Do đó, phong trào chấn hưng Phật
giáo ở trong nước cũng được khởi động khắp nơi. Đi
tiên phong cho phong trào là Phật giáo Nam kỳ với các Hội
Nam kỳ Nghiên cứu Phật học, Hội Lưỡng Xuyên Phật học,
Hội Phật học Kiêm tế; rồi đến Trung kỳ với Hội An Nam
Phật học. Các hội này hoạt động rất mạnh, mở nhiều
Phật học đường đào tạo Tăng Ni, xuất bản báo chí để
phổ biến giáo lý Phật đà và tuyên truyền vận động cho
phong trào ấy.
Hòa
cùng nhiệt tình và nguyện vọng của đồng đạo Nam, Trung;
các Hòa thượng Trí Hải, Mật Ứng, và Tâm Bảo cùng với
nhà văn Sở Cuồng Lê Dư triệu tập một cuộc họp tại chùa
Quán Sứ ở Hà Nội, có sự tham dự của chư tôn đức trong
hàng giáo phẩm và các vị trí thức tên tuổi ở thủ đô
như các ông Nguyễn Hữu Kha, Nguyễn Năng Quốc, Trần Trọng
Kim, Bùi Kỷ, Cung Đình Bính, Trần Văn Giáp, Văn Quang Thùy,
Nguyễn Can Mộng, Nguyễn Đỗ Mục, Nguyễn Văn Tố, Dương
Bá Trạc, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Vĩnh v.v... Hội nghị
đồng ý thành lập một tổ chức đặt tên là “Bắc Kỳ
Phật Giáo hội” do ông Nguyễn Năng Quốc làm Hội trưởng.
Cư sĩ Văn Quang Thùy và ông Nguyễn Văn Minh được cử làm
Phó thư ký.
Từ
đó, ông dành nhiều thời gian ngoài giờ công vụ, hoạt động
cho phong trào chấn hưng Phật giáo trên miền Bắc. Ngoài việc
tham gia giảng dạy giáo lý ở các trường Gia giáo của các
chùa và các Phật học đường của Hội, ông còn đi giảng
kinh cho đồng bào Phật tử tại chùa Quán Sứ, chùa Hòe Nhai
và các chùa nhỏ quanh vùng Hà Nội. Chẳng những ở Hà Nội,
mà các chùa ở tỉnh xa như Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng
cũng thường mời ông đến giảng pháp, ông đều vui vẻ đáp
ứng.
Mùa
xuân năm Canh Thìn 1940, một phái đoàn Tăng sĩ Trung Hoa sang
thăm Việt Nam, trong đó có hai Pháp sư Thái Hư và Đế Nhàn.
Với Pháp sư Thái Hư, tuy đây là lần đầu tiên tới Việt
Nam, nhưng pháp danh Ngài thì rất quen thuộc đối với Phật
giáo Việt Nam trong mấy chục năm trước đó. Trong khi phái
đoàn nghỉ tại khách sạn, Cư sĩ Văn Quang Thùy tìm đến
cầu pháp tu thiền với Pháp sư Thái Hư. Pháp sư liền nói
: “Tôi thấy Việt Nam toàn tu Tịnh độ, cư sĩ nên vâng theo”.
Sau
đó, Pháp sư trao giới Bồ Tát cho ông, ban pháp danh là Tuệ
Nhuận và tặng một mảnh giấy có hai câu thơ để làm kỷ
niệm :
Nhập
Như Lai tạng
Văn
tự Quang minh Thùy vũ trụ
Phật
ngôn Tuệ trạch Nhuận sinh linh.
Thời
tại Canh Thìn niên xuân
Tam
nguyệt nhị thập lục nhật
Lữ Hà Nội – Thái Hư
Từ
năm 1935, ông xin nghỉ việc, dành trọn thời giờ để phụng
sự Tam bảo. Ông đã dịch rất nhiều kinh sách bằng chữ
Hán sang tiếng Việt. Kinh A Di Đà, Kinh Dược Sư, Kinh Hoa Nghiêm
phẩm Phổ Hiền mang tên ông vẫn đang được lưu hành cho
đến nay.
Sau
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 và mặt trận Hà Nội vỡ năm 1947,
các hoạt động của Phật giáo ngưng trễ khắp nơi. Đến
năm 1949 các Tăng sĩ và Cư sĩ mới lần lượt tập họp lại
để thành lập Hội “Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Việt” và Hội
“Việt Nam Phật giáo” tại chùa Quán Sứ và Hội “Phật
tử Việt Nam” tại chùa Chân Tiên.
Về
Hội “Phật tử Việt Nam” ở chùa Chân Tiên có sự đóng
góp tích cực của Cư sĩ Văn Quang Thùy. Hội thường tổ chức
diễn giảng tại chùa Chân Tiên, trong số các diễn giả có
cư sĩ Văn Quang Thùy. Hội còn thành lập Ban Hoằng kinh để
xuất bản các kinh sách Phật giáo, đặt trụ sở tại số
56 phố Hàng Trống, Hà Nội. nhân dịp này hai bộ kinh lớn
là Kinh Lăng Nghiêm và Kinh Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp do ông
phiên dịch ra quốc ngữ cũng được xuất bản.
Ngoài
ra, ông đã cùng với các bạn đồng chí hướng xuất bản
tờ bán nguyệt san Bồ Đề để phổ biến Phật học. Báo
này ra số đầu vào ngày 22 tháng 4 năm 1949, báo quán tại
số 108 đường Boret Hà Nội, do ông làm Chủ nhiệm kiêm chủ
bút. Báo xuất bản liên tục đến tháng 5 năm 1954, đất nước
bị chia đôi mới đình bản. Trên các trang báo này, ông đích
thân phiên dịch, chú giải luận Duy Thức Tam Thập Tụng, Thập
Mục Ngưu Đồ và viết nhiều bài giáo lý căn bản giúp cho
việc học Phật của đọc giả. Cộng tác với ông có nhiều
cây bút vững vàng như Nguyễn Xuân Chữ, Lê Văn Giáp, Hồng
Liên, Đế Châu, Vũ Đình Mẫn, Trì Dung, Thanh Vân, Lê Văn Lương
v.v.... Đặc biệt cây bút vui trẻ Cát Tường Lan đã chinh
phục được sự mến chuộng giới độc giả trẻ tân học.
Cô đã khéo dùng các kiến thức khoa học để chứng minh và
giảng dạy Phật pháp, khiến lập luận được sáng tỏ và
đầy thuyết phục.
Sau
hiệp định Genève 1954, Cư sĩ Tuệ Nhuận-Văn Quang Thùy vào
miền Nam, xin xuất gia làm đệ tử của Hòa thượng Thích
Thiện Hòa. Từ đó ông lấy việc chuyên tu làm chính.
Ông
mất năm Đinh Mùi 1967 tại Sài Gòn, hưởng thọ 80 tuổi, để
lại cho kho tàng kinh sách Phật học Việt Nam nhiều tác phẩm
dịch thuật giá trị.