Giáo
sư NGUYỄN ĐĂNG THỤC
1908
– 1999
CƯ
SĨ
NGUYỄN
ĐĂNG THỤC
1908
– 1999
Cư
sĩ Nguyễn Đăng Thục sinh ngày 19 tháng 9 năm 1908 (có sách
ghi ngày 14.6.1909) tại làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm, phủ
Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Xuất thân trong một gia đình
có truyền thống nho học và khoa bảng. Thuở nhỏ ông học
tiểu học ở trường làng, cấp trung học ở trường Albert
Sarraut - Hà Nội.
Năm
1927 ông sang du học ở Pháp, Bỉ và Thụy Sĩ. Năm 1928-1929
ông đậu tú tài I và II ban Triết học và Toán học, được
xếp hạng giỏi tại trường Marseilles – miền Nam nước Pháp.
Sau đó ông theo học ngành kỹ nghệ và khoa học tại L’ École
Nationale des Arts (Trường Quốc gia Mỹ thuật) và Đại học
Lille ở Roubais ở miền Bắc nước Pháp và đã tốt nghiệp
Kỹ sư hóa học.
Năm
1934, ông trở về nước. Năm 1935 cùng với các ông Bùi Ngọc
Ái và Vũ Đình Di xuất bản tờ báo L’ Avenir de la Jeunesse
(tương lai của tuổi trẻ) tại Hà Nội. Năm 1937, ông làm
bỉnh bút cho tờ Le travail (Lao Động), nhưng được ít lâu
tờ báo này bị đình bản. Ông quay về với nghề chuyên môn
đã học là ngành kỹ nghệ, nhận làm kỹ sư hóa học cho
Nhà máy dệt Nam Định (S.F.A.T).
Vốn
đã được thấm nhuần tư tưởng Khổng Mạnh do truyền thống
gia đình nên ông rất thích môn triết học Đông Phương, trong
thời gian du học ở Pháp, ông thường đi dự thính các buổi
thuyết trình về triết học tại Đại học Sorbonne của các
Giáo sư danh htiếng. Trong thời gian làm việc ở Nam Định,
ông đã dành nhiều thì giờ nghiên cứu về văn hóa Á Đông
và đã viết hai tác phẩm “Bình giải sách Đại học” và
“Tinh thần khoa học và đạo học”. Năm 1944, ông xuất bản
tạp chí “Duy Nhất” tại thành phố Nam Định với chủ
trương dung hòa văn hóa Đông-Tây.
Năm
1945, thời thế thay đổi, ông thôi việc tại Nhà máy dệt
Nam Định, về làng Thụy Khê gần hồ Tây – Hà Nội mở
nhà máy riêng và tham gia các hoạt động văn hóa. Sau Cách
mạng tháng Tám rồi kháng chiến toàn quốc, ông làm kỹ sư
cho công binh xưởng Liên khu 3. Năm 1948, ông làm giám đốc
học vụ Trường Dân Huấn Vụ. Năm 1949, hồi cư về Hà Nội
và qua năm sau, ông được mời dạy bộ môn Triết học Đông
Phương tại trường Đại học Văn Khoa Hà Nội, và làm chủ
bút tờ “Văn hóa Tùng Biên”.
Năm
1954 ông vào Sài Gòn, sáng lập và làm Chủ tịch Hội Việt
Nam Nghiên cứu và Liên lạc Văn hóa Á Châu, đồng thời làm
giảng sư tại trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn. Từ năm
1961 đến năm 1965, ông được mời làm Khoa trưởng Khoa Văn
học Việt Nam tại trường này. Ông còn đảm trách chủ nhiệm
tạp chí văn hóa Á Châu và Trưởng tiểu ban văn hóa của
tổ chức Văn hóa Giáo dục Liên hiệp Quốc (UNESCO) tại Việt
Nam.
Từ
năm 1964, Viện Đại học Vạn Hạnh của Giáo hội Phật giáo
Việt Nam Thống nhất thành lập, ông được mời làm Khoa trưởng
phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn kiêm giảng sư môn
Triết học Đông phương. Năm 1964 – 1965, ông cùng một số
trí thức, nhân sĩ tiến bộ tại Sài Gòn ký một bản kiến
nghị yêu cầu chính quyền Sài Gòn trực tiếp thương thuyết
với Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam để chấm dứt
chiến tranh. Do đó ông bị chính quyền Phan Huy Quát cách chức
và buộc thôi dạy ở Đại học Văn khoa Sài Gòn.
Năm
1973, ông được Trường Đại học Vạn Hạnh trao văn bằng
Tiến sĩ danh dự, nhân kỷ niệm 10 năm thành lập trường.
Ông
mất ngày 3 tháng 6 năm 1999 tại thành phố Hồ Chí Minh, thượng
thọ 92 tuổi. Ông để lại cho cuộc đời nhiều tác phẩm
rất có giá trị về triết học Đông phương, trong đó đóng
góp rất lớn của ông cho triết học Phật giáo qua các tác
phẩm :
- Đại
học (1940)
-
Triết lý nhân sinh Nguyễn Công Trứ (1950)
-
Tinh thần khoa học Đạo học (1953)
-
Dân tộc tính (1956)
-
Triết lý văn hóa khái luận (1956)
-
Triết học Đông phương nhập môn (1958)
-
Văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á (1961)
-
Lịch sử triết học Đông Phương, 5 tập (1956-1962)
-
Tư tưởng Việt Nam (1964)
-
Lịch sử tư tưởng Việt Nam, gồm 4 tập (1967 – 1970)
-
Thiền học Việt Nam (1967)
-
Democracy in traditional Vietnamese society (1962)
-
Asian Culture and Vietnamese Humanism (1965)
-
Thiền học Trần Nhân Tông (1971)
-
Khóa Hư lục của Trần Thái Tông (dịch và chú thích 1973)
-
Lý hoặc luận của Mâu Bác (dịch và chú thích 1974)
...
và nhiều tác phẩm khác chưa xuất bản.
Cư
sĩ Nguyễn Đăng Thục là một nhà giáo trọn đời tận tụy
với sứ mạng trồng người, nhất là về phương diện đào
tạo nhân cách. Học trò của ông đã có nhiều người thành
đạt vẫn luôn luôn kính trọng ông là người thầy mẫu mực.
Đối với Phật giáo ông có công lớn trong việc truyền bá
và thuyết giảng giáo lý cao siêu của đức Phật lồng trong
các bài thuyết giảng về triết lý Đông Phương. Đối tượng
ngồi nghe ông nói về triết học Đông Phương trong đó có
triết học Phật giáo, đều là những người có trình độ
trí thức, đủ sức nhận định, phân tích, phê phán và lãnh
hội để tự chiêm nghiệm. Hiệu quả của những gì đứng
trên giảng đường của ông thật là lớn lao. Các tác phẩm
của ông để lại cho chúng ta, cho hậu thế đều là những
bài thuyết pháp hữu ích mãi mãi.