Cư
sĩ HỒNG TAI - ĐOÀN TRUNG CÒN
1908
– 1988
CƯ
SĨ
ĐOÀN
TRUNG CÒN
1908
– 1988
Cư
sĩ Đoàn Trung Còn pháp danh Hồng Tai, sinh năm Mậu Thân (1908)
tại làng Thắng Nhì, thị xã Vũng Tàu, nay là thành phố Vũng
Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Lúc nhỏ ông theo học
trường Pháp Việt tại Vũng Tàu, sau lên học ở Sài Gòn,
do đó ông rất thông thạo tiếng Pháp. Vốn xuất thân trong
một gia đình có truyền thống nho học và tín ngưỡng Phật
giáo, nên sau khi thôi học ở nhà trường ông chuyên tâm tự
học chữ Hán để có trình độ cần thiêt cho việc nghiên
cứu Tam tạng kinh điển nhà Phật.
Vốn
là người sinh sống ở Nam bộ, ông tiếp xúc với các Sư
sãi người Khmer và Phật giáo Nam Tông thường xuyên. Kinh sách
ở đây chép bằng chữ Bắc Phạn (Sanscrit) hoặc chữ Nam Phạn
(Pàli) nên thôi thúc ông để tâm nghiên cứu, học hỏi hai
loại văn tự này. Chính vì vậy mà ông có một căn bản khá
vững chắc về Hán học và Phạn học, đủ giúp ông đi sâu
vào nghiên cứu kinh điển nhà Phật.
Ngoài
việc nghiên cứu giáo lý của đức Phật để biết đường
tu hành, ông còn để tâm truyền bá chánh pháp đến các tầng
lớp nhân dân như bổn phận một vị xuất gia, góp công rất
lớn cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo và phổ biến Phật
học vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20.
Năm
1932, ông sáng lập Phật Học Tòng Thơ để xuất bản các
sách ông biên khảo về Phật giáo và các bộ kinh căn bản
do ông phiên âm và dịch nghĩa. Song song đó, ông sáng lập
thêm Trí Đức Tùng Thư để xuất bản các bộ sách quan trọng
của Nho giáo do ông phiên âm và dịch nghĩa, với mục đích
là duy trì nền đạo học chân chính, hầu giúp cho lớp hậu
tiến biết cách tu thân, tề gia và trị quốc. Mục đích tôn
chỉ của hai tùng thư này đã được ông minh thị trong lời
bố cáo như sau :
“Những
kinh sách của bổn quán xuất bản, hoặc in có chữ Hán, hoặc
in toàn chữ Việt, đều được nghiên cứu và nhuận sắc
rất kỹ lưỡng, vì mục đích của bổn quán là muốn truyền
bá Phật pháp, cho nên chẳng ngại công cán và thì giờ.
“Vậy
mong rằng kinh sách ấy sẽ bổ ích cho độc giả thiện tâm
trên đường tu học.
“Vì
sau này giấy đắt công cao, vậy bổn quán yêu cầu những
vị đã thỉnh kinh sách, khi coi rồi thì nên cho bà con quen
biết mượn coi, đó là quý vị phụ lực với bổn quán mà
truyền bá đạo lý vậy.
“Và
bổn quán cũng yêu cầu những vị “hằng tâm hằng sản”
nên thỉnh kinh sách Phật mà ấn tống, thì phước đức vô
lượng. Những nhà từ tâm bố thí có lẽ cũng dư biết rằng,
trong các việc bố thí, chỉ có việc thí Pháp là có công
đức hơn hết”.
Từ
đó cho đến ngày ông qua đời, ông đã đơn thân độc mã,
làm việc tất lực đã in được gần 40 tác phẩm trong Phật
Học Tùng Thư và 12 cuốn trong Trí Đức Tùng Thư. Các sách
của Phật Học Tùng Thư đã xuất bản là :
1.
Truyện Phật Thích Ca
2.
Du lịch xứ Phật
3.
Đạo lý nhà Phật
4.
Chuyện Phật đời xưa
5.
Văn minh nhà Phật
6.
Triết lý nhà Phật
7.
Lịch sử nhà Phật
8.
Pháp giáo nhà Phật
9.
Tăng đồ nhà Phật
10.
Các tông phái đạo Phật
11.
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh
12.
Một trăm bài kinh Phật
13.
Na Tiên Tỳ Kheo Kinh
14.
Mấy thầy tu huyền bí
15.
Tam bảo văn chương
16.
Pháp Bảo Đàn Kinh
17.
Vô Lượng Thọ Kinh
18.
Quán Vô Lượng Thọ Kinh
19.
Địa Tạng Kinh
20.
Di Lặc Kinh (thượng sanh hạ sanh)
21.
Bồ Tát giới kinh
22.
Quy Nguyên trực chỉ
23.
Sự tích Phật A Di Đà
24.
48 lời nguyện của Phật A Di Đà
25.
A Di Đà Kinh
26.
Kinh Tam bảo (Di Đà - Hồng Danh - Vu Lan - Phổ Môn - Kim Cang
và pháp nghi Tịnh độ)
27.
Phật Pháp vỡ lòng
28.
Khuyên tu Tịnh độ
29.
Thành Đạo
30.
Học Phật chánh pháp
31.
Quan Âm Thị Kính
32.
Nước Ấn Độ trước hồi Phật giáng
33.
Kim Cang Kinh (âm chữ Hán và giảng nghĩa)
34.
Yếng Sáng Á Châu
35.
Đại Bát Niết Bàn Kinh
36.
Duy Ma Cật Kinh
37.
Sách nấu đồ chay
Các
sách do Trí Đức Tùng Thư đã xuất bản gồm có
1.
Truyện Đức Khổng Tử
2.
Nhị thập tứ hiếu (Hán và Việt)
3.
Hiếu Kinh (Đức Khổng Tử giảng về đạo hiếu – Phụ trương
: Khổng Tử lược sử)
4.
Tam Tự Kinh (Hán và Việt : âm và nghĩa)
5.
Đại học (Hán và Việt : âm và nghĩa)
6.
Trung Dung (Hán và Việt : âm và nghĩa)
7.
Luận ngữ (Hán và Việt : âm và nghĩa)
8.
Tam Thiên Tự (3 cuốn : 1 cuốn Hán và Việt, 1 cuốn theo lối
tự điển Việt-Hán-Pháp, 1 cuốn Pháp-Việt-Hán)
9.
Minh Đạo gia huấn (Hán và Việt : âm và nghĩa)
10.
Ngũ Thiên Tự (Hán và Việt : âm và nghĩa)
11.
Mạnh Tử (Hán và Việt : âm và nghĩa)
12.
Học chữ Hán một mình
Sách
của ông được viết với lối hành văn mộc mạc, dùng từ
bình dân, đọc lên ai cũng hiểu, không chỉ được phổ biến
khắp Nam kỳ lục tỉnh, mà còn đưa ra cả ngoài miền Trung,
miền Bắc. Thư quán phát hành là hiệu sách số 143 đường
Đề Thám, quận Nhất, Sài Gòn.
Trong
công việc trước tác và dịch thuật của ông, công trình
to lớn nhất đóng góp cho kho tàng sách Phật giáo là bộ “Phật
học từ điển” gồm 3 cuốn với một số lượng từ chưa
có sách nào sánh kịp lúc bấy giờ. Sách được biên soạn
rất công phu, xếp theo mẫu tự La tinh. Mỗi mục từ được
chú thích thêm các thứ tiếng Pháp, Hán, Tạng, Sanscrit, Pàli
rất rõ, giúp độc giả có điều kiện tham khảo từ các
sách được viết bằng các ngoại ngữ trên.
Ngoài
việc biên soạn và xuất bản sách, ông còn cùng với các
Sư thuộc phái Lục Hòa Tăng thành lập một tông phái mới
vào năm 1955 gọi là Tịnh độ Tông Việt Nam với mục đích
khuyến giáo Phật tử tu theo pháp môn Tịnh độ. Lúc mới
thành lập, trụ sở của Hội đặt tại chùa Giác Hải ở
Phú Lâm, Chợ Lớn, sau dời về chùa Liên Tông ở đường
Đề Thám.
Cư
sĩ Đoàn Trung Còn là người có công lớn đối với công việc
hoằng dương chánh pháp. Vào thời điểm mà kinh sách về Phật
giáo viết bằng chữ quốc ngữ phổ thông còn rất hiếm hoi,
trình độ hiểu biết về giáo lý đạo Phật trong đại đa
số quần chúng Phật tử còn mờ mịt; thì ông là người
cư sĩ không chỉ biết tu hành hướng thiện cho bản thân,
mà còn đem cả tâm huyết nghiên cứu, học hỏi để viết
sách, dịch kinh phổ biến cho mọi người cùng tu học; chúng
ta có thể nói rằng những Phật tử sống vào nửa đầu thế
kỷ 20 nâng cao sự hiểu biết Phật pháp của mình, ngoài những
buổi nghe các bậc Giảng sư thuyết pháp ở chùa, một phần
khác cũng đã nhờ đọc những cuốn sách của ông.
Ông
mất ngày 28 tháng Giêng năm Mậu Thìn (nhằm ngày 15 tháng 3
năm 1988) hưởng thọ 80 tuổi với trên 50 năm cống hiến cho
sự nghiệp phụng sự đạo pháp.