Hòa
thượng THÍCH THUẬN ĐỨC
1918
– 2000
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THUẬN ĐỨC
(1918
– 2000)
Hòa
thượng Thích Thuận Đức, thế danh Nguyễn Thanh Đễ, sinh
ngày mùng 3 tháng 9 năm Mậu Ngọ 1918 tại thôn Quần Lạc,
xã Việt Hùng, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, trong một
gia đình nông dân yêu nước thuần thành Phật giáo. thân phụ
là cụ Nguyễn Văn Hạ, thân mẫu là cụ Phạm Thị Ty, Ngài
là con út trong gia đình có 5 anh chị em, 3 trai 2 gái.
Năm
lên 8 tuổi (1926), Ngài được song thân hướng cho đi xuất
gia đầu Phật tại chùa làng (chùa Quần Lạc) hiệu Khánh
Minh tự, ở với Sư cụ Thích Tâm Quán và được Sư cụ cho
đi học văn hóa, học Hán văn và học thiền gia Phật pháp.
Năm
13 tuổi (1931), Ngài được Bổn sư đưa sang chốn Tổ Kim Sa
(chùa Lãng Lăng) để Ngài sơ tâm cầu pháp Sư tổ Thích Quảng
Lãm, được Tổ tế độ và đưa về chùa Đông An, xã Xuân
Thành, huyện Xuân Trường để tu học. Với đức hạnh khiêm
tốn, siêng năng và ham học hỏi, Ngài luôn được Sư tổ
thương yêu và hy vọng sẽ có một ngày đạo pháp huy hoàng,
sơn môn pháp phái nhờ Tam bảo gia ân mà vững bền phát triển.
Năm
15 tuổi (1933), Ngài được Sư tổ Lãng Lăng cho đăng đàn
thụ Sa di giới tại chùa Đông An. Sau khi thụ giới, Ngài chuyên
cần học tập kinh luật thiền môn, làm nền tảng cho đại
giới sau này.
Năm
18 tuổi (1936), Ngài trở về chùa Lãng Lăng để phụng Phật
sự Sư và cũng để được gần thầy giáo dưỡng dạy bảo
truyền bá pháp nhũ của chư Phật.
Ngày
mùng 2 tháng 9 năm Mậu Dần 1938, khi tuổi đời đã đủ 20,
tâm Bồ đề đã đơm bông trí tuệ ứng thụ Cụ túc. Ngài
được Sư tổ cho đăng đàn thụ Tỳ khưu giới tại chốn
Tổ Lãng Lăng (Kim Sa tự) xã Xuân Đài, huyện Xuân Trường,
tỉnh Nam Định. giới đàn này gồm các Hòa thượng : Thích
Quy Minh, chùa Trà Bắc; Thích Tâm Tịnh, chùa Bộ La-Thái Bình;
Thích Chính Nghiễm, chùa Phú Ninh; Thích Thanh Nghị, chùa Thanh
Khiết và Thích Thanh Lãm, chùa Lãng Lăng làm giới sư truyền
thụ. Từ đây Ngài thực thụ trở thành Như Lai sứ giả,
gánh vác Phật sự giáo hóa quần sinh và tuyên dương Phật
pháp.
Noi
gương và phát huy truyền thống hiếu học của các Đại lão
thiền sư tiền bối. Ngài chăm chỉ tiếp thu và trau dồi tam
vô lậu học để nâng cao trí lực và thiền lực nhằm lợi
lạc quần sinh.
Do
có nhiều thành tích đóng góp Phật sự cho Giáo hội, năm
1945 Ngài được bầu làm Thư ký Phật giáo Cứu quốc huyện
Xuân Trường.
Năm
1947, Ngài được tín nhiệm bầu vào Ban chấp hành Phật giáo
Cứu quốc tỉnh Nam Định.
Sinh
ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước đang thời loạn
lạc, Ngài đã “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong một
thời đại đầy biến động xã hội và chiến tranh do thực
dân Pháp gây nên. Tâm Bồ đề ngát tỏa giới hương thành
sự thành tâm yêu nước, thương dân đã đưa Ngài từ địa
vị của nhà tu hành thành một nhà yêu nước chân chính. Đó
là nội dung tôn giáo hòa quyện đạo đời. Trong thời gian
này, Ngài vẫn ở chùa Lãng Lăng và đến đầu năm 1950, Ngài
giữ trọng trách Bí thư Phật giáo Cứu quốc tỉnh Nam Định.
Sau
hiệp định Genève chia đôi đất nước năm 1954, Phật giáo
các tỉnh phía Bắc vận động để thống nhất thành một
tổ chức Phật giáo chung. Ngài là thành viên Ban Vận động,
đến đầu năm 1958 tại Đại hội thống nhất Phật giáo
miền Bắc thành lập Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam
(ở miền Bắc), Ngài được bầu vào Ban Trị sự Trung ương
Hội, kiêm chánh Thư ký chi hội Phật giáo Nam Định cho đến
ngày thống nhất Phật giáo cả nước.
Năm
1980, Ngài tham gia Ban Vận động thống nhất Phật giáo Việt
Nam, đến tháng 11 năm 1981, tại Đại hội thành lập Giáo
hội Phật giáo Việt Nam ở thủ đô Hà Nội, Ngài được
suy cử vào Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội
Phật giáo Việt Nam.
Năm
1985, Ngài được Sơn môn cung thỉnh về trụ trì chùa Cổ
Lễ, một danh thắng lịch sử văn hóa Phật giáo ở huyện
Trực Ninh, Nam Định.
Tháng
11 năm 1987, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc
lần thứ II, Ngài được bầu vào Ban Thường trực Hội đồng
Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Năm
1991, Ngài lại được kiêm Trụ trì chùa Đại Bi, huyện Nam
Trực và chùa Vọng Cung, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
Năm
1992, Ngài được cử làm Đại biểu tham gia Hội nghị Phật
giáo Châu Á vì hòa bình (ABCP) tại Mông Cổ, nhân dịp này
đoàn đã sang thăm hữu nghị Hội Phật giáo Liên Xô.
Tháng
12 năm 1992, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc
lần thứ III, Ngài lại được tái cử Ủy viên Thường trực
Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Năm
1997 tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ
IV, Ngài được suy tôn và suy cử vào Hội đồng Chứng minh
Trung ương; Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật
giáo Việt Nam kiêm Trưởng ban Nghi lễ Trung ương – Phó Ban
Trị sự Phật giáo tỉnh Nam Định.
Cuối
năm 1999, Ngài tham gia đoàn Đại biểu Phật giáo Việt Nam
sang thăm Phật giáo Trung Quốc với tư cách là Phó Trưởng
đoàn.
Tháng
4 năm 2000, Ngài được bầu giữ chức vụ Trưởng Ban Trị
sự Phật giáo tỉnh Nam Định.
Đối
với Phật giáo tỉnh Nam Định, Ngài đã tận tâm tận lực
cùng với Cố Hòa thượng Trưởng ban Thích Tâm Thông xây dựng
trường Trung cấp Phật học của tỉnh, Ngài luôn giáo hóa
quần sinh “minh tâm kiến tánh”, ứng dụng thích nghi vào
sự nghiệp đào tạo thế hệ Tăng Ni trẻ có đức có tài,
đáp ứng với sự nghiệp phát triển của xã hội hiện đại
và nhu cầu phát triển Phật giáo Việt Nam. truyền thống ấy
chính là pháp môn thực hành Tam vô lậu học, là tiến trình
giác ngộ, giải thoát tri kiến.
Trong
các sinh hoạt Tăng đoàn, an cư kiết Hạ hằng năm. Ngài cùng
Ban Thường trực Tỉnh hội đã lãnh đạo và động viên Tăng
Ni vân tập an cư đông đủ, hướng dẫn Tăng Ni tiếp thu giáo
lý của chư Phật nhằm trưởng dưỡng đạo tâm, tu tập giới
hạnh, kiên trì nhẫn nại của người xuất gia để tuệ lực
và thiền lực ngày một tăng trưởng, có đủ điều kiện
để duy trì chánh pháp và phục vụ tínn gưỡng cho nhân dân.
Nhiều mùa an cư Ngài là Thiền chủ trường Hạ tại chùa
Cổ Lễ và trường Hạ chùa Cả.
Trong
kháng chiến chống Pháp, Ngài là Ủy viên Mặt trận Việt
Minh huyện Xuân Trường. Từ năm 1954 đến cuối đời là Ủy
viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hà Nam Ninh, rồi Nam
Hà đến Nam Định và Đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh
nhiều khóa.
Do
có nhiều công lao trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ
quốc Việt Nam, Ngài đã được Nhà nước tặng thưởng :
Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến
chống Mỹ hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Pháp
hạng Ba; Huy hiệu Vì sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân
và nhiều huy hiệu cao quý khác.
Hạnh
nguyện hoằng dương Phật pháp và tế độ quần sinh của
Ngài đã viên mãn. Luật vô thường đã đưa Ngài về Tây
phương kiến Phật vào hồi 12 giờ 35 phút ngày 14 tháng 11
năm 2000, nhằm ngày 19 tháng 10 năm Canh Thìn, trụ thế 82 năm,
Hạ lạp 59 năm.
Dù
bất cứ công việc gì trong đạo hay ngoài đời, Ngài đều
coi đó là một Phật sự và là một phương tiện để hoằng
dương Phật pháp. là một danh Tăng cống hiến trọn đời
cho sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh, Ngài đã có những đóng
góp to lớn trong công cuộc chấn hưng, thống nhất và hòa
hợp Phật giáo, xây dựng và bảo vệ khối đại đoàn kết
dân tộc phụng sự đất nước. Ngài là một bậc tôn sư
khả kính đã có nhiều công lao giáo dưỡng và dìu dắt hàng
trăm môn đồ đệ tử đã trưởng thành, noi gương tự giác
giác tha của Ngài để bền vững đạo tâm và trang nghiêm
Giáo hội.