Hòa
thượng THÍCH MINH THÀNH
1937
– 2000
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
MINH THÀNH
(
1937 – 2000 )
Hòa
thượng Thích Minh Thành, pháp danh Nhựt Sanh, pháp tự Thiện
Xuân, thuộc thiền phái Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 41. Ngài
thế danh là Hà Văn Xin, sinh ngày 4 tháng 8 năm Đinh Sửu 1937,
tại làng Khánh Hòa, huyện Châu Phú, tỉnh Châu Đốc (nay là
tỉnh An Giang); thân phụ là cụ Hà Văn Chính, thân mẫu
là cụ Nguyễn Thị Lê pháp hiệu Thích nữ Như Quả. Ngài
là người con thứ 7 trong gia đình có 6 anh chị, gồm 2 trai
3 gái.
Ngài
sinh trưởng trong một gia đình nông dân phúc hậu, có truyền
thống kính tin Tam bảo. Năm 1941, khi lên 6 tuổi, thân phụ
qua đời, Ngài được mẹ dẫn đến chùa Long Khánh, xã Khánh
Hòa, huyện Châu Phú - Châu Đốc để sớm hôm kinh kệ cầu
siêu cho cha. Nhờ duyên lành này với túc duyên sẳn có, khiến
Ngài mến cảnh thiền môn, nên mẹ Ngài cho phép xuất gia đầu
Phật với Hòa thượng trụ trì Thích Huệ Pháp, húy Hồng
Phó, được ban pháp danh là Nhựt Sanh.
Năm
1947, sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài lên vùng núi Thất Sơn
- Châu Đốc tầm phương học đạo. Đầu tiên, Ngài đến
tham học với Sư Chú chùa Định Long ở núi Sam. Năm 14 tuối
(1950), Ngài sang núi Cấm tu học với pháp huynh là Thiện Huệ
tại Vồ Bồ Hông. Một năm sau, Ngài xuống núi đến cầu
pháp với Hòa thượng Thiện Ngôn, thuộc sơn môn Thiên Thai
Thiền Giáo Tông, trụ trì chùa Phước Hậu - Long Xuyên, được
Hòa thượng đặt pháp tự là Thiện Xuân. Hòa thượng cho
Ngài theo học trường Phật học gia giáo mở tại chùa Bình
An - Châu Đốc.
Năm
1952, sau khi học xong lớp sơ cấp, Ngài được Hòa thượng
Y chỉ sư cho lên Sài Gòn theo học tại Phật học đường
Giác Nguyên - Khánh Hội, do Hòa thượng Lê Phước Bình chủ
giảng. Cùng trong năm này, Ngài được đăng đàn thọ giới
Sa di trong giới đàn của Phật học viện tổ chức, do Hòa
thượng Hành Trụ-Phước Bình làm Đàn đầu truyền giới.
Năm
1956, được Hòa thượng Thiện Huyền giới thiệu, Ngài đến
nhập chúng tu học theo chương trình trung đẳng tại Phật
học đường Nam Việt – chùa Ấn Quang, Chợ Lớn do Hòa thượng
Thiện Hòa làm Giám đốc kiêm trụ trì. Nhân duyên đã đến
tại đây, Ngài xin cầu pháp với Hòa thượng Thiện Hòa, được
Hòa thượng đặt pháp hiệu là Minh Thành. Từ đó, Ngài ở
lại chùa Ấn Quang phụ giúp cho Hòa thượng Giám đốc trong
các Phật sự của trường và Tam bảo.
Năm
1957, Hòa thượng Đốc giáo Thiện Hoa mở khóa huấn luyện
trụ trì “Như Lai sứ giả” tại chùa Pháp Hội - Chợ Lớn,
Ngài được đặc cách tham dự khóa học này.
Năm
1962, sau khi mãn khóa trung đẳng Phật học, Ngài được đăng
đàn thọ Cụ túc giới trong giới đàn do ban Giám đốc Phật
học viện tổ chức. Giới đàn này do Hòa thượng Thiện Hòa
làm Đàn đầu truyền giới. Tốt nghiệp trung đẳêng và viên
mãn giới pháp xong, Ngài được phân công đi thuyết giảng
giáo lý ở các trường Bồ Đề, các lớp sơ đẳng Phật
học ở Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh miền Tây Nam bộ.
Năm
1963, trong phong trào chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm
đàn áp Phật giáo. Ngài đã tích cực tham gia cùng chư tôn
đức Tăng Ni, Phật tử đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng
và bình đẳng tôn giáo cho đến khi thành công.
Năm
1964, sau khi chế độ nhà Ngô sụp đổ, Giáo hội Phật giáo
Việt Nam Thống nhất được thành lập, Ngài tham gia công tác
tổ chức các Ban đại diện Phật giáo Sài Gòn-Gia Định và
được cử làm Chánh đại diện Phật giáo phường Yên Đỗ
– quận Ba. Phật đản Phật lịch 2508, Ngài cùng Ban đại
diện Phật giáo quận Ba tiến hành xây dựng Niệm Phật đường
Minh Đạo tại phường Yên Đỗ, tiền thân của chùa Minh Đạo
sau này, và Ngài đã trụ trì ở đây cho đến năm 1992.
Năm
1965, Ngài xây dựng Niệm Phật đường Pháp Vân tại phường
Trương Minh Giảng, quận Ba, là tiền thân của chùa Pháp Vân
sau này. Với chí nguyện về giáo dục, Ngài đứng ra thành
lập trường tiểu học Bồ Đề Pháp Vân và làm Hiệu trưởng
đến ngày đất nước thống nhất.
Năm
1969, Ngài được cử làm Giám đốc trường trung tiểu học
Bồ Đề Chợ Lớn tại chùa Giác Ngộ. Trường hoạt động
đến năm 1975 thì trả cơ sở lại cho chùa. Cũng tại cơ sở
này, Ngài lại mở phòng Y tế từ thiện Phật giáo do Ngài
làm trưởng ban, điều hành hoạt động tại đây hơn 10 năm.
Năm
1971, Viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm được thành lập
do Hòa thượng Trí Tịnh làm Giám đốc, Ngài được theo học
đến mãn chương trình Cử nhân Phật học (1975) và Cao học
Phật học (1977).
Năm
1976, theo tôn ý Hòa thượng Thiện Hòa khi lâm trọng bệnh,
Hội đồng Quản trị Tổ đình Ấn Quang được thành lập
do Hòa thượng Huệ Hưng làm Tổng lý, Ngài được cử làm
Phó Tổng thư ký, có nhiệm vụ quản trị Tổ đình và các
cơ sở trực thuộc.
Năm
1979, Tổ đình Ấn Quang khai giảng Phật học viện Thiện Hòa,
Ngài được cử làm Giám đốc Phật học viện và các
cơ sở trực thuộc tại Ấn Quang, Giác Ngộ, Giác Sanh. Phật
học viện hoạt động đến năm 1984 thì kết thúc để chuyển
sang chương trình giáo dục mới do Thành hội Phật giáo thành
phố Hồ Chí Minh quản lý.
Năm
1981, Ngài là thành viên đoàn Đại biểu Phật giáo thành phố
Hồ Chí Minh tham dự Hội nghị thống nhất Phật giáo toàn
quốc, tổ chức tại thủ đô Hà Nội để thành lập Giáo
hội Phật giáo Việt Nam. Sau đại hội, Ngài được mời giữ
chức Thư ký Ban Hoằng pháp Trung ương suốt 2 nhiệm kỳ đến
năm 1997.
Năm
1982, tại Đại hội thành lập Phật giáo thành phố Hồ Chí
Minh, Ngài được chư tôn đức tín nhiệm cử làm Ủy viên
Ban Trị sự Thành hội Phật giáo nhiệm kỳ I.
Năm
1988, trường Cơ bản Phật học thành phố Hồ Chí Minh được
thành lập; Hòa thượng Từ Thông làm Hiệu trưởng, Ngài làm
Hiệu phó, phụ trách điều hành và giảng dạy tại đây hơn
10 năm.
Năm
1992, ở Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ
III, Ngài được cử làm Phó ban thường trực Ban Hướng dẫn
Phật tử Trung ương và Ủy viên Ban Giáo dục Tăng Ni Trung
ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Với
chí nguyện hoằng pháp độ sinh, giáo dục Tăng Ni hậu duệ,
Ngài đã dành nhiều thời gian đi giảng dạy Phật pháp tại
các giảng đường, các lớp Phật học ở thành phố Hồ Chí
Minh và các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam bộ.
Năm
1993, khi Hòa thượng Minh Hạnh, tổng Quản sự Tổ đình Ấn
Quang viên tịch, Ngài được cử làm Trưởng ban Quản trị
Tổ đình (gồm 4 vị: Hòa thượng Minh Thành, Trí Quảng; Thượng
tọa Nhật Quang, Minh Phát) kiêm Giám đốc Đại Tòng Lâm Phật
giáo ở Bà Rịa-Vũng Tàu.
Tháng
3 năm 1997, tại Đại hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh,
Ngài được cử là Ủy viên Hướng dẫn Phật tử. Đến tháng
11 cùng năm, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc
lần thứ IV ở Hà Nội, Ngài được tái tục giữ chức Phó
ban Hướng dẫn Phật tử trung ương kiêm Trưởng phân ban Cư
sĩ. Khi Ban Hướng dẫn Phật tử thành phố được thành lập,
Ngài là Trưởng ban Hướng dẫn Phật tử thành phố Hồ Chí
Minh.
Năm
1998, Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Bà Rịa-Vũng Tàu ra
quyết định bổ nhiệm Ngài làm Phó ban Quản trị Đại Tòng
Lâm Phật giáo, tiếp tục quản lý điều hành cơ sở Đại
Tòng Lâm Phật giáo, di tích của cố Hòa thượng Thiện Hòa
dày công sáng lập. Ngài đã phát động chương trình trùng
tu, dự trù kiến tạo một Đại Tòng Lâm có quy mô và
tầm vóc xứng đáng. Ngài dồn hết tâm sức vào việc xây
dựng cơ sở, củng cố đạo tràng và đi khắp nơi vận động
tài chính để thực hiện công trình này.
Bằng
giới đức trang nghiêm, đạo hạng kiêm ưu, Ngài được cung
thỉnh làm Giới sư, Luật sư truyền giới trong các Đại giới
đàn ở khắp nơi.Có hàng ngàn giới tử đã từ nơi Ngài
được thành tựu giới pháp, tiếp nối sự nghiệp “tục
Phật huệ mạng, lưu truyền chánh pháp thường tại thế gian”.
Trong
sự nghiệp trước tác, Ngài đã biên soạn nhiều giáo trình
cho các trường Phật học. Tác phẩm được in thành sách của
Ngài gồm có:
- Phật
học Đức dục
-
Luật học Cơ bản
-
Tỳ ni – Sa di Yếu giải
-
Oai nghi – Cảnh sách Yếu giải
-
Bồ Tát giới Yếu giải
-
Tỳ kheo giới Yếu giải
-
Bồ Tát Ưu Bà Tắc giới kinh
-
Kỷ yếu 50 năm Tổ đình Ấn Quang (đồng soạn)
Những
tưởng trên bước đường phụng sự đạo pháp- nhân sinh
Ngài còn đóng góp lâu dài hơn nữa; sau một phút vô thường
chợt đến, Hòa thượng đột ngột ra đi về cõi Phật vào
lúc 10 giờ 30 phút ngày 15 tháng 1 năm 2000, tức ngày mồng
Chín tháng Chạp năm Kỷ Mão, tại Tổ đình Ấn Quang, trụ
thế 63 năm, giới lạp trải 38 mùa an cư kiết Hạ.