Hòa
thượng TĂNG ĐỨC BỔN
1917
- 2000
HÒA
THƯỢNG
TĂNG
ĐỨC BỔN
1917
– 2000
Hòa
thượng Tăng Đức Bổn, đạo hiệu Tôn Nguyên, nối pháp thiền
phái Tào Động đời thứ 53, thế dang là Tăng Đức Bổn,
sinh ngày 04 tháng Giêng năm 1917, nhằm ngày 11 tháng Chạp năm
Đinh Tỵ, tại làng Lâm Hồ, huyện Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến,
Trung Quốc, thân phụ là cụ ông Hứa Thế Phương, thân mẫu
là cụ bà Huỳnh Thị. Ngài là trưởng nam trong gia đình có
2 anh em trai.
Ngài
sinh trưởng trong một gia đình thế gia vọng tộc, nội tổ
từng làm quan của triều đình, gặp thời buổi nhiễu nhương
nên treo ấn từ quan, xa lánh thế cuộc ẩn danh tu hành, nên
từ nhỏ Ngài được song thân thường dẫn lên chùa thăm viếng
và lễ Phật. Từ đó, Ngài đã gieo duyên Tam bảo, sẳn có
hạt giống xuất trần, nên đã sớm có ý xuất gia đầu Phật.
Năm
Canh Ngọ 1930, nhận thấy cảnh trần gian ảo mộng, “cuộc
thế phù vân, giả huyễn vô thường”, lúc 13 tuổi, Ngài
xin phép song thân cho xuất gia đầu Phật, thế độ với Tổ
Giác Tín – trụ trì chùa Tây Thiền – huyện Phúc Châu, tỉnh
Phúc Kiến. Tổ sư là một bậc danh Tăng trong hàng Tòng lâm
thạch trụ của Phật giáo Trung Quốc lúc bấy giờ. Sau khi
xuất gia, Ngài được Tổ khai đàn truyền giới Sa di. Từ
đó, Ngài tinh tấn trau dồi kinh luật, hằng ngày chấp lao
phục dịch thiền môn, gần gũi thầy hiền bạn tốt.
Năm
Tân Mùi 1931, khi 14 tuổi, Ngài được Tổ Giác Tín cho tham
học tại trường Phật học Nam Phổ Đà, một đại già lam
cũng là một thắng cảnh nổi tiếng của tỉnh Phúc Kiến,
nơi đào luyện nhân tài của Phật giáo Trung Quốc. Sau ba năm
tu học tại đây, Ngài quen biết và kết thân với quý Hòa
thượng Lương Giác, Thanh Thuyền, Diệu Hoa. . . .
Năm
Giáp Tuất 1934, lúc Ngài 17 tuổi thì thân phụ từ trần, còn
lại thân mẫu tuổi già chiếc bóng, một mình sống tại quê
nhà với bao nỗi vất vả. Để hết lòng kính dưỡng cho tròn
hiếu hạnh, Ngài xin phép Bổn sư đưa thân mẫu về sống
chung với Ngài tại Tây Thiền Tự, sớm hôm được gần gũi
trông nom. Ngài phụng dưỡng được sáu năm thì thân mẫu
qua đời.
Năm
Ất Hợi 1935, Tổ Giác Tín nhận thấy Ngài là bậc pháp khí
Đại thừa, xứng đáng ngôi long tượng của Phật pháp tương
lai, nên quyết định cho Ngài thọ giới Cụ túc để viên
mãn tam đàn giới pháp, tại giới đàn chùa Tây Thiền do Tổ
sư làm Đàn đầu Hòa thượng.
Từ
năm 1936 đến 1940, với hoài bão “hoằng pháp vi gia vụ”,
Ngài dành hết tâm trí phụ giúp Tổ sư liên tiếp khai mở
các lớp gia giáo Phật học để đào tạo Tăng tài, kế truyền
mạng mạch Như Lai, được Tổ sư giao cho chức vụ Chánh Đô
Giám, quản lý việc sinh hoạt tu học của 1200 Tăng chúng trong
chùa.
Năm
Đinh Sửu 1937, xảy ra cuộc chiến tranh Trung – Nhật và sau
đó là nội chiến ở Trung Quốc. Với ý nguyện “lợi sanh
vi sự nghiệp”, được phép của Bổn sư, Ngài cùng các huynh
đệ thành lập đội cứu tế Tây Thiền, vận động tài vật
giúp đỡ nhân dân đi lánh nạn từ các vùng chiến sự.
Do
cuộc chiến ngày càng kéo dài và lan rộng, nhân dân ngày càng
lầm than và khổ sở, số nạn nhân cần trợ giúp ngày càng
thêm nhiều, hoạt động của đội cứu tế phải phát triển
mạnh mới có đủ tài vật giúp đỡ. Ngài phải bôn ba khắp
nơi, tiếp xúc nhiều giới để vận động quyên góp. Những
việc làm của Ngài đã khiến cho chính quyền thân Nhật lúc
bấy giờ nghi ngờ để ý. Nhân có sự kiện chư Tăng môn
phái Thiếu Lâm cùng Nghĩa quân nổi lên chống giặc bị thất
bại, lính Nhật ra tay khủng bố hàng Tăng lữ, bắt bớ tra
khảo, Ngài phải tha phương lánh nạn : năm 1943 vân du xuống
vùng Sáng Dầu - Quảng Châu thuộc tỉnh Quảng Đông; đầu
năm 1944 tháp tùng đoàn thuyền buôn men theo bờ biển Quảng
Ninh - Hải Phòng của Việt Nam; tháng 12 năm 1944, Ngài đến
Cù Lao Phố - Biên Hòa, một vùng đất mà 300 năm trước những
cư dân người Hoa đầu tiên đến lập nghiệp và định cư.
Tại đây, Ngài vận động đồng bào người Hoa xây dựng
chùa Phụng Sơn.
Tháng
3 năm 1945, Ngài đến Sài Gòn và ở tại chùa Ông Bổn - Chợ
Lớn, Ngài cùng các huynh đệ sớm hòa nhập vào cuộc sống
mới trên đất nước Việt Nam, hàng ngày giữ nếp sinh hoạt
thiền gia của một hành giả Như Lai, đem giáo lý Phật đà
truyền bá cho cộng đồng người Hoa sinh sống ở Sài Gòn
- Chợ Lớn và các vùng lân cận.
Năm
Đinh Hợi 1947, Hội đồng hương Phúc Kiến Sài Gòn kiến tạo
kiến tạo nên ngôi chùa Phụng Sơn ở chợ Dân Sinh – quận
Nhất, thỉnh Ngài về trụ trì, và Ngài đã dừng chân tại
trú xứ tại đây cho đến cuối đời.
Năm
Giáp Ngọ 1954, Hòa thượng Thanh Thuyền khởi công xây dựng
chùa Nam Phổ Đà, để kỷ niệm một Đại già lam của Phật
giáo Trung Quốc và cũng để có nơi tu học của chư Tăng người
Hoa tại Việt Nam. Với tình pháp lữ và nghĩa đồng tông,
Ngài nhận lời tham gia trong ban kiến thiết, tích cực vận
động tài lực ủng hộ. Sau khi khánh thành chùa Nam Phổ Đà,
Ngài được thỉnh cử vào chức Giám viện tại đây.
Năn
Canh Tý 1960, Ngài hợp lực cùng Hòa thượng Diệu Hoa kiến
tạo chùa Vạn Phật tại An Đông - Chợ Lớn để hoằng hóa
đạo pháp tại vùng này.
Năm
Giáp Thìn 1964, Ngài thành lập Ban Từ thiện Cứu tế chùa
Phụng Sơn Sài Gòn, để cứu trợ giúp đỡ dân nghèo trong
khu vực.
Năm
Kỷ Dậu 1969, Hội đồng hương Phúc Kiến thỉnh Ngài Chứng
minh cho Ban Bảo trợ Bệnh viện Phúc Kiến, sau này đổi tên
là bệnh viện Nguyễn Trãi.
Năm
Tân Hợi 1971, Ngài sáng lập và khởi công xây dựng tịnh
xá Di Đà trên phần đất của Bệnh viện Phúc Kiến hiến
tặng.
Năm
Quý Sửu 1973, tại Đại hội thành lập Giáo hội Phật giáo
Hoa Tông Việt Nam, Ngài được đại hội tấn phong Hòa thượng
và suy tôn làm Chứng minh cố vấn của Hội.
Tháng
8 năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, Giáo hội Phật
giáo Hoa Tông tiến hành Đại hội bất thường và bầu lại
Ban điều hành mới. Ngài được suy cử làm Phó chủ tịch
Giáo hội Phật giáo Hoa Tông, cùng với Chủ tịch là Hòa thượng
Phước Quang lãnh đạo Tăng Ni, Phật tử người Hoa tham gia
hoạt động các phong trào công ích xã hội.
Năm
Kỷ Mùi 1979, Ngài kiến tạo Bảo tháp Hòa Đồng trong khuôn
viên chùa Nam Phổ Đà để phụng thờ xá lợi các Trưởng
lão tiền bối từ Trung Quốc sang Việt Nam hành đạo, cùng
tạc dựng văn bia lưu truyền hậu thế về đạo hạnh và
công lao khai sáng của chư tiền bối.
Năm
Mậu Thìn 1988, sau khi Hòa thượng Phước Quang viên tịch, Ngài
được Tăng Ni hệ phái Hoa Tông suy tôn làm Tăng trưởng Phật
giáo Hoa Tông. Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh
cũng bổ nhiệm Ngài làm Chánh đại diện Phật giáo quận
5.
Năm
Kỷ Tỵ 1989, Ngài được mời làm Ủy viên Ủy Ban Mặt trận
Tổ quốc quận 5, nhiệm kỳ 4.
Năm
Nhâm Thân 1992, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc
kỳ III, Ngài được suy cử làm Thành viên Hội đồng Chứng
minh và Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật
giáo Việt Nam. Ngài ở ngôi Giáo phẩm này liên tiếp hai nhiệm
kỳ đến cuối đời.
Năm
Đinh Sửu 1997, ở Đại hội kỳ 5 Thành hội Phật giáo thành
phố Hồ Chí Minh, Ngài được suy tôn trong ban Chứng Minh của
Ban Trị sự cho đến ngày viên tịch.
Ngài
là bậc cao Tăng thạc đức, trọn cuộc đời phụng sự đạo
pháp, phục vụ chúng sinh, là ngọn thiền đăng dẫn dắt Tăng
Ni, Phật tử Hoa Tông trên đường tu học giải thoát.
Ngày
28 tháng 8 năm Canh Thìn, tức ngày 25 tháng 9 năm 2000, Hòa thượng
xả báo an tường, thâu thần thị tịch. Ngài trụ thế 85
năm, giới lạp 66 mùa Hạ, để lại lòng kính tiếc vô hạn
cho Tăng Ni, Phật tử Hoa Tông tại Việt Nam.