Hòa
thượng THÍCH ĐỊNH QUANG
1924
– 1999
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
ĐỊNH QUANG
(1924
– 1999)
Hòa
thượng Thích Định Quang, pháp danh Nhựt Kiến, pháp hiệu
Không Tâm, nối đời thứ 41 dòng Lâm Tế Gia Phổ. Ngài thế
danh Trần Văn Chỉnh, sinh ngày 25 tháng Giêng năm Giáp Tý (1924)
tại ấp Bình Phú, xã Tân Bình Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh
Long Xuyên. Nay thuộc ấp Bình Phú Quới, huyện Lấp Vò, tỉnh
Đồng Tháp, thân phụ là ông Trần Văn Sự và thân mẫu là
bà Nguyễn Thị Quơn. Ngài là người con thứ 7 trong một gia
đình có 8 anh em, gia thế trung nông phúc hậu.
Trưởng
thành trong gia phong uyên thâm về y học, nho học và có truyền
thống sùng mộ Phật pháp. Song thân của Ngài đã xây dựng
chùa Phước Long trên phần đất của gia tộc, duyên xưa nay
gặp lại, hạt giống Bồ đề có dịp trưởng thành. Năm
1941, khi được 17 tuổi, Ngài xin phép song thân cho xuất gia
tại chùa Phước Long với Hòa thượng Hồng Phước, trụ trì
chùa Từ Quang, được Bổn sư ban pháp danh là Nhựt Kiến,
hiệu Không Tâm.
Tu
học được một thời gian, Bổn sư nhận thấy đã đủ yếu
tố cho thọ giới nên năm 1944, Ngài được Bổn sư cho đăng
đàn thọ giới Sa di tại chùa Giác Hoa, Chợ Mới, Long Xuyên
(nay là tỉnh An Giang). Sau đó, Ngài đến tham học kinh luật
thiền môn và hầu cận Bổn sư tại chùa Từ Quang.
Ngài
tinh tấn tu học Phật pháp, đạo hạnh trang nghiêm và để
viên mãn tam đàn giới pháp, vào năm 1945, Ngài được Bổn
sư cho thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn chùa Giác Hoa,
Chợ Mới, Long Xuyên.
Năm
Mậu Tý 1948, việc tu học đang tiến triển đều đặn, hầu
mong nối chí thầy Tổ thì Bổn sư của Ngài viên tịch. Trong
thời điểm này, thực dân Pháp trở lại xâm lược lục tỉnh
Nam kỳ, lòng người căm phẫn, những phong trào đấu tranh
giành độc lập dân tộc nổi lên khắp nơi. Trước cảnh
nước mất nhà tan và nỗi đau vắng bóng thầy Tổ nhưng không
bàng quang trước thời cuộc, Ngài đã tham gia tổ chức Thanh
niên Tiền phong và Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ.
Năm
Canh Dần 1950, nhân duyên hội đủ, Ngài xin cầu pháp với
Hòa thượng Chơn Thành, chùa Bình An, tỉnh Long Xuyên (nay là
tỉnh An Giang) để được hướng dẫn trên bước đường
tu học và hành đạo.
Ngài
giã từ Tổ đình Từ Quang ra đi cầu học, đã trải qua các
ngôi già lam như : Linh Thứu, Bình An, Phước Ân, Phong Hòa,
Tân Long... bất cứ ở đâu, Ngài cũng đều phát tâm công
quả, chăm sóc tu bổ những ngôi già lam mỗi ngày một khang
trang hơn để đáp đền ân giáo dưỡng và ân đàn na tín
thí.
Năm
Đinh Dậu 1957, Ngài lên Sài Gòn tham dự khóa huấn luyện trụ
trì Như Lai Sứ giả do Giáo hội Tăng Già Nam Việt tổ chức
tại chùa Pháp Hội, Chợ Lớn.
Năm
Kỷ Hợi 1959, lúc này Ngài 35 tuổi, được bổn đạo cung
thỉnh về trụ trì chùa Huỳnh Kim, là ngôi chùa của gia tộc
họ Nguyễn do ông Nguyễn Văn Sắc hiến cúng. Từ đây, Ngài
dừng bước tại trụ xứ này để thực hiện công hạnh một
đời hành đạo của mình như ước nguyện.
Với
mục đích đào tạo Tăng tài, và giáo hóa Phật tử, Ngài
đã không ngại gian truân, thiếu hụt trong cảnh lau cỏ hoang
vu, vừa tu sửa chùa cảnh, vừa xây dựng tạm một ngôi nhà
lá để có nơi tu tập, đồng thời mở phòng thuốc Nam, xem
mạch bốc thuốc giúp đỡ người hoạn nạn. Một hành trạng
để hướng dẫn mọi người đến với Phật pháp bằng thân
giáo và tâm nguyện từ bi.
Năm
Canh Tý 1960, Ngài đến y chỉ cầu pháp với Hòa thượng
Minh Đức, trụ trì chùa Thiên Tôn, quận 5, Chợ Lớn, được
Hòa thượng ban pháp húy là Tâm Chỉnh, hiệu Định Quang nối
pháp đời thứ 43 dòng Tế Thượng Chánh Tông – thuộc môn
phái Thiên Thai Thiền Giáo Tông.
Năm
Tân Sửu 1961, Ngài khởi công xây dựng lại chùa Huỳnh Kim
trên nền của ngôi chùa cũ và thêm hai dãy đông lang, tây
lang, tạm hoàn thành phần cơ bản.
Sau
pháp nạn 1963, cuộc đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo của
Phật giáo miền Nam thành công, năm 1964, Giáo hội Phật giáo
Việt Nam Thống nhất đã được thành lập, Ngài được Giáo
hội cử đảm nhiệm nhiều Phật sự qua các chức vụ :
- Phó
Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp.
-
Phó Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tài chánh Kiến thiết.
-
Đặc ủy Tăng sự tỉnh Gia Định.
-
Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
tỉnh Gia Định (nhiệm kỳ I).
Để
đóng góp thiết thực cho sự nghiệp đào tạo Tăng tài, Ngài
đã thành lập Phật học viện Huệ Quang do Ngài làm Giám viện
tại chùa Huỳnh Kim, giảng dạy chương trình Sơ đẳng đến
Trung đẳng Phật học chuyên khoa. Từ năm 1964 đến 1975, trường
đào tạo được 3 khóa.
Năm
Kỷ Dậu 1969, Ngài tiến hành xây dựng trường Bồ Đề Huệ
Quang bên cạnh Phật học viện, gồm tầng trệt và tầng lầu
với 10 phòng học, giành cho các lớp Tiểu và Trung học đệ
nhị cấp, đệ nhất cấp. Ngài được đề cử giữ chức
vụ Giám đốc trường Trung tiểu học Bồ Đề Huệ Quang cùng
với Ban giám hiệu điều hành sinh hoạt nhà trường.
Năm
Ất Mão 1975, đất nước thống nhất. Ban liên lạc Phật giáo
yêu nước thành phố Hồ Chí Minh được thành lập do quý
Hòa thượng Minh Nguyệt, Thiện Hào, Bửu Ý... lãnh đạo. Ngài
được phân công là Trưởng Ban liên lạc Phật giáo yêu nước
quận 11, văn phòng đặt tại chùa Sùng Đức, Chợ Lớn.
Năm
Kỷ Mùi 1979, sau khi Hòa thượng Bửu Chơn phụ trách quận
Gò Vấp viên tịch, Ngài được phân công trở lại quận nhà
để đảm nhiệm chức vụ Trưởng Ban liên lạc Phật giáo
yêu nước quận Gò Vấp cho đến ngày thống nhất Phật giáo
cả nước năm 1981.
Mặc
dù có những khó khăn nhất định trong giai đoạn đầu của
thành phố sau khi thống nhất đất nước, nhưng Ngài vẫn
tiếp tục mở Đạo tràng tu Bát Quan Trai và thuyết giảng
Phật pháp để Phật tử có nơi nương tựa tu học, huân tập
thiện căn.
Năm
Nhâm Tuất 1982, tại Đại hội Phật giáo thành phố Hồ Chí
Minh lần thứ nhất, Ngài được cử làm Ủy viên Tài chánh
trong Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố trong suốt
3 nhiệm kỳ, đồng thời được Tăng Ni, Phật tử quận Gò
Vấp cung thỉnh làm Chứng minh cho Phật giáo quận và tiếp
theo là Chánh đại diện Phật giáo quận Gò Vấp. Trong nhiệm
kỳ 4 của Thành hội Phật giáo, Ngài đảm nhiệm chức vụ
Ủy viên Kiểm soát và Trưởng Ban Kiểm Tăng Thành hội Phật
giáo thành phố Hồ Chí Minh.
Năm
Canh Ngọ 1990, Ngài cùng Hòa thượng Thiện Hào - Chứng minh
Ban thừa kế Tổ đình Thiên Thai, khởi công trùng tu chùa Thiên
Bửu Tháp tại núi Thiên Thai – Bà Rịa và Tổ đình Thiên
Tôn cùng Tháp Tổ tại Bình Khê – Bình Định, là hai di tích
cuối cùng của Tổ sư Huệ Đăng. Ngoài ra, Ngài còn đứng
ra vận động Phật tử góp công, góp của xây dựng lại chùa
Linh Sơn Hải Hội tại phường 12. Gò Vấp do Hòa thượng Bửu
Đăng khai sơn, là một Liệt sĩ có bia tháp tôn thờ tại đây.
Năm
Quý Dậu 1993, Ngài đã tổ chức trùng tu Chánh điện chùa
Huỳnh Kim. Nhờ công đức của Ngài và sự tùy hỷ hiến cúng
của Phật tử, ngôi chánh điện chẳng bao lâu đã được
hoàn thành và trang nghiêm như ngày nay.
Cuối
năm 1993, sau khi trùng tu các công trình cơ sở của chùa Huỳnh
Kim hoàn tất, Ngài mở lớp học tình thương tại cơ sở để
giúp đỡ các cháu thiếu nhi nghèo, mồ côi không có điều
kiện đến trường được thoát nạn mù chữ.
Năm
Giáp Tuất 1994, Ngài được các nhà hảo tâm tài trợ học
bổng hàng tháng, đủ cung cấp cho khoảng 150 cháu học sinh
nghèo khó. Đồng thời ngoài các lớp học chương trình chính
khóa, Ngài còn mở thêm hai lớp sinh ngữ Anh, Pháp văn và phụ
cấp toàn bộ lương tháng cho giáo viên, nhân viên liên quan
đến lớp học.
Lo
ngày mai cho lớp trẻ có tương lai tươi sáng, Ngài cũng không
quên những người tuổi già bóng xế. Cũng trong năm 1994, Ngài
được chính quyền địa phương cho phép thành lập Hội Tương
tế Kim Quang, với số hội viên gần 5.000 người, không phân
biệt thành phần tôn giáo, nhằm tương trợ lúc về già, bằng
cách tự nguyện đóng góp khi trong Hội có người từ trần.
Năm
Đinh Sửu 1997, tại Đại hội Phật giáo thành phố Hồ Chí
Minh lần thứ V, Ngài được cử làm Phó Ban Trị sự Thành
hội Phật giáo, kiêm Chứng minh Ban đại diện Phật giáo quận
Gò Vấp.
Cuối
tháng 11 năm 1997, tại Đại hội Phật giáo toàn quốc lần
thứ IV tổ chức tại thủ đô Hà Nội, Ngài được Đại
hội suy tôn làm Thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương
Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Chứng minh Ban Hoằng pháp
Trung ương.
Sau
khi Hòa thượng Thiện Hào, Chứng minh Ban Thừa kế Tổ đình
Thiên Thai viên tịch, Ngài được chư tôn đức môn hạ Tổ
đình Thiên Thai suy cử làm Trưởng Ban thừa kế để duy trì
và phát triển chốn Tổ.
Ngoài
công việc phụng sự đạo pháp, Ngài còn tham gia các công
tác đoàn thể xã hội và từ thiện như: Đại biểu Hội
đồng nhân dân, Thành viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và
Hội chữ thập đỏ quận Gò Vấp trong nhiều khóa.
Do
công đức và sự nghiệp phục vụ cho đạo pháp – dân tộc,
Ngài được Nhà nước trao tặng :
- Huân
chương Kháng chiến hạng Nhì.
-
Huy chương Vì sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân.
-
Huy hiệu thành phố Hồ Chí Minh và nhiều bằng khen của Ủy
ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố và địa
phương...
Năm
Kỷ Mão 1999, Ngài kết hợp với Ban đại diện Phật giáo
quận Gò Vấp, mở lớp Sơ cấp Phật học tại chùa Huỳnh
Kim cho trên 60 Tăng Ni sinh trong quận ghi danh theo học. Dự kiến
lớp học sẽ khai giảng vào ngày 19 tháng 9 Âm lịch, nào ngờ
sau một cơn bệnh, Ngài đã theo định luật vô thường, xả
báo thân thu thần thị tịch vào lúc 16 giờ 30 ngày mùng 7
tháng 9 Âm lịch, nhằm ngày 15. 10. 1999 tại trú xứ chùa Huỳnh
Kim, trụ thế 76 năm, Hạ lạp 51 mùa An cư kiết Hạ.
Với
một đời hành đạo không biết mỏi, quyết tâm đào tạo
Tăng tài cho Phật pháp, xây dựng tòng lâm Phạm vũ và phát
huy lòng yêu nước trong sáng nồng nàn trước sau như một,
nhất là trên cương vị một sứ giả Như Lai, Hòa thượng
là một tiêu biểu cho thế hệ Tăng lữ Việt Nam ở giai đoạn
thống nhất đất nước và Phật giáo ở cuối thế kỷ.