Hòa
thượng THÍCH KHẾ HỘI
1921
– 1999
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
KHẾ HỘI
(1921
– 1999)
Hòa
thượng Thích Khế Hội, pháp danh Nguyên Chơn, tự Thiện Minh,
hiệu Trí Thành; Ngài họ Nguyễn, húy Khế Hội, sinh năm Tân
Dậu 1921, tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Sông Cầu,
tỉnh Phú Yên, thân phụ là cụ Nguyễn Văn Chốn, thân mẫu
là cụ bà Võ Thị Chữ. Song thân Ngài đều thâm tín Phật
pháp, hai cụ có 7 người con, Ngài là con thứ 7 trong gia đình;
tư chất thông minh, hiếu học.
Nhờ
truyền thống tín ngưỡng Phật đạo trong gia đình, và nhờ
Hòa thượng Phúc Hộ, một vị danh Tăng của đất Phú Yên,
cũng là cậu ruột của Ngài, đã khuyến tấn hướng dẫn
Ngài sơ phát tâm xuất gia từ năm 13 tuổi (1931), tại Tổ
đình Sắc Tứ Phước Sơn, Đông Tròn, Phú Yên.
Sau
đó, Ngài đắc duyên thọ học với Hòa thượng húy Tâm Đạo
hiệu Từ Nhân, trụ trì Tổ đình Sắc tứ Long Sơn Bát Nhã
Tự tại thôn Phú Mỹ, xã An Hiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú
Yên, được Hòa thượng thâu làm đệ tử.
Năm
14 tuổi (1932), Ngài được Hòa thượng Bổn sư cho ra Thuận
Hóa tham học tại Phật học đường Báo Quốc kinh đô Huế.
Suốt
mười năm miệt mài đèn sách, Ngài đã thâm nhập giáo điển
cơ bản từ khóa tu học và tốt nghiệp Đại học Phật giáo
tại Tổ đình Báo Quốc, Huế năm 1944. Vừa tròn 24 tuổi,
Ngài đã phải ra trường vì nhu cầu cấp bách cho Phật sự.
Hòa thượng Bổn sư chỉ có một mình Ngài là đệ tử xuất
gia, nên Ngài phải từ giã mái trường Báo Quốc, để trở
về lo báo ân Thầy Tổ.
Năm
Đinh Hợi 1947, Ngài thọ tam đàn Cụ túc giới nơi Đại giới
đàn tổ chức tại chùa Bảo Sơn, Đồng Tre thuộc huyện Tuy
An, tỉnh Phú Yên, do Hòa thượng Thích Vạn Ân, trụ trì chùa
Hương Tích, xã Hòa Mỹ, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, làm
đàn đầu truyền giới.
Ngài
đã trưởng thành trong bối cảnh Phật giáo cả nước đang
trong thời kỳ chấn hưng và quốc dân đang vùng lên giành
độc lập thống nhất giang sơn từ tay người Pháp thống
trị. Hội Phật giáo Cứu quốc Phú Yên được thành lập
và Ngài được bầu làm Phó Chủ tịch của Hội.
Năm
Bính Tuất 1946, Hòa thượng Chủ tịch Thích Hưng Từ xin thôi
chức vụ vì lý do sức khỏe, Ngài được cử lên thay, điều
hành công tác Phật sự cho đến khi Hiệp định Genève được
ký.
Sau
năm 1954, phong trào chấn hưng Phật giáo lại được tiếp
nối mạnh mẽ khắp Trung Nam. Giáo hội Phật giáo Trung Phần
ra đời, Phật giáo Phú Yên là một thành viên trong tổ chức
này và Ngài là một trong nhiều tu sĩ trí thức trẻ của đất
Phú Yên được giao phó nhiều trọng trách.
Song
song với việc đối phó chế độ kỳ thị tôn giáo, độc
tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, cũng như Dụ số 10... Ngài
đã chuẩn bị nhân sự kế thừa cho tương lai Phật giáo Phú
Yên bằng các phương án :
- Mở
rộng việc tiếp Tăng độ chúng để có đội ngũ kế thừa.
-
Mở trường Bồ Đề để giáo dưỡng con em Phật tử, tài
bồi nhân sự để tích cực hộ trì chánh pháp sau này.
-
Mở Phật học viện, gởi Tăng học sinh Phú Yên đến các
trường Phật học để được đào tạo. Kết quả hôm nay
nhiều vị đã thành đạt và đang giữ nhiều trọng trách
chủ chốt trong Giáo hội.
Cuối
năm 1963, chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, cuộc đấu tranh
của Phật giáo thành công, dẫn đến Giáo hội Phật giáo
Việt Nam Thống nhất được thành lập từ năm 1964. Ngài được
Đại hội đại biểu Phật giáo Phú Yên cung tôn làm Chánh
đại diện Phật giáo Tỉnh hội.
Năm
Tân Dậu 1981, tất cả 9 giáo phái, hệ phái Phật giáo cả
nước họp tại chùa Quán sứ, thủ đô Hà Nội đồng lòng
thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ngài được bầu
làm Thành viên trong Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội.
Năm
Nhâm Tuất 1982, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Phú Khánh
ra đời, Ngài là một trong bốn vị Phó Trưởng ban Trị sự
phụ trách Phật giáo cánh Bắc (Phú Yên ngày nay).
Sau
khi tách tỉnh, tháng 7 năm 1989, từ nhiệm kỳ đầu của Giáo
hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Phú Yên được thành lập (1991)
cho đến ngày viên tịch, Ngài được Đại hội Đại biểu
Phật giáo khắp toàn tỉnh Phú Yên suy cử làm Trưởng ban
Trị sự.
Với
chức vụ đứng đầu Phật giáo tỉnh Phú Yên, Ngài được
lãnh đạo chính quyền và nhân dân tỉnh Phú Yên bầu vào
Hội đồng nhân dân tỉnh khóa II và là Ủy viên Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Phú Yên suốt 3 nhiệm kỳ (từ
khóa V, VI, VII).
Trong
cuộc đời hoằng pháp độ sanh, Ngài đã truyền cao ngọn
đuốc chánh pháp của riêng mình cho hơn 20 vị đệ tử : Thượng
tọa Quảng Hiển, Quảng Phát, Quảng Đàm, Quảng Mẫn, Quảng
Niệm, Quảng Định... tùy duyên phổ hóa trải dài từ vùng
đất Phú Yên tới thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa-Vũng
Tàu... Và trùng tu, xây dựng những ngôi già lam: Bảo Tịnh,
Bát Nhã, Từ Quang... thành nơi cảnh trí trang nghiêm, cơ ngơi
kỳ vĩ.
Vào
ngày 14 tháng 6 năm 1999, tức mùng 1 tháng 5 năm Kỷ Mão, hóa
duyên đã mãn, Ngài thâu thần thị tịch, với 78 năm trụ
thế, có 52 Hạ lạp.
Trên
40 năm tận tụy phục vụ đạo pháp – nhân sinh, khơi thông
mạng mạch, thắp sáng nguồn thiền, công đức của Hòa thượng
thật mênh mông rộng lớn, làm rạng danh Phật giáo Phú Yên
cho đương thời và hậu thế.