Hòa
thượng THÍCH TÂM THÔNG
1916
– 1999
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TÂM THÔNG
(1916
– 1999)
Hòa
thượng Thích Tâm Thông, thế danh là Nguyễn Văn Tiến, sinh
ngày 27 tháng 11 năm Bính Thìn – 1916 tại thôn An Ninh, xã Hải
Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ngài là con thứ hai
của một gia đình có truyền thống lễ giáo và kính tín Tam
bảo, nên đã sớm chịu ảnh hưởng cuộc sống thiền gia
thanh đạm.
Năm
Tân Mùi – 1931, lúc 15 tuổi, Ngài xin phép từ biệt song thân
xuất gia đầu Phật, đến cầu pháp với Sư tổ Thích Thanh
Lịch trụ trì chùa Lam Cầu, tỉnh Hà Nam. Sư tổ xét thấy
Ngài có tư chất thông minh, tính tình hòa nhã, diện mạo khôi
ngô nên đã hứa khả.
Năm
Giáp Tuất – 1934, sau ba năm tu học, Ngài được thụ giới
Sa di tại giới đàn chùa Đông An, huyện Xuân Thủy, do Tổ
sư Thích Quảng Lãm làm Hòa thượng Đàn đầu.
Năm
Kỷ Mão – 1939, Ngài đăng đàn thọ giới Cụ túc tại chùa
Quán Sứ – Hà Nội, trụ sở Hội Phật giáo, cùng với 50
vị giới tử khác trúng tuyển sau kỳ khảo hạch giới đàn
về lễ sám 21 ngày do Hòa thượng Thích Tố Liên làm chủ
sám. Trong giới đàn này, sư tổ Trung Hậu là Hòa thượng
Đàn đầu cùng chư vị giới sư cao thiền thạc đức trong
các sơn môn lớn ở miền Bắc chứng đàn. Từ đây Ngài thực
sự dự vào hàng Tăng bảo, là Sứ giả của đức Như Lai
với trọng trách : “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng
sinh”.
Sau
khi thụ đại giới, với đức tính khiêm cung, chăm chỉ hiếu
học, Ngài đã tu học ở các chốn Tổ Tế Xuyên (huyện Lý
Nhân, tỉnh Hà Nam), trường Phật học Quán Sứ – Hà Nội,
chốn Tổ Trung Hậu, chốn Tổ Cao Phong (huyện Mê Linh, tỉnh
Vĩnh Phúc), chùa Cồn (huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định). Ở
đâu Ngài cũng được thầy thương, bạn mến bởi sự hiền
hòa, chân thật, nghiêm trì giới luật.
Năm
Nhâm Ngọ – 1942, Ngài được Hội Phật giáo Chấn hưng cử
vào Huế tu học tại Phật học đường Báo Quốc - Huế. Đến
năm 1945 lại trở về chùa Quán Sứ – Hà Nội, bắt đầu
dấn bước trên con đường phụng sự đạo pháp - dân tộc.
Năm
Bính Tuất – 1946, Ngài về chùa Lam Cầu làm Thư ký Hội Phật
giáo Cứu quốc, tham gia công tác bình dân học vụ và cô nhi
viện ở chùa Lam Cầu, huyện Lý Nhân.
Năm
Đinh Hợi – 1947, Ngài bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà
giam Nam Định, đến năm 1948 trốn thoát và về công tác tại
chùa Cồn, nơi Tổ Tuệ Tạng trụ trì.
Năm
Kỷ Sửu – 1949, giặc Pháp tiến công chiếm đánh Nam Định,
Ngài lại trở về chùa Quán Sứ. Thời gian này, Ngài được
Hội Phật giáo cử về chùa Đông Kết, huyện Khoái Châu,
tỉnh Hưng Yên tham gia giảng dạy Phật pháp cho Tăng Ni Phật
tử và vận động nhân dân tham gia cứu quốc.
Năm
1951, khi Tổ Tuệ Tạng – Thượng thủ Giáo hội Tăng Già
Việt Nam nhận lãnh trụ trì chùa Vọng Cung, tỉnh Nam Định,
Ngài trở về phụng sự Tổ và được giữ chức vụ Giám
viện.
Với
cương vị trên, Ngài luôn tinh tiến trong mọi công việc phụng
sự Tam bảo, giúp dân, giúp nước, đã cùng với chư Tăng
trụ xứ kế thừa đức nghiệp lớn lao của sư tổ truyền
lại. Dù trải biết bao thăng trầm của đất nước Ngài luôn
nghiêm trì phạm hạnh, tiến tu Tam vô lậu học, giữ gìn thanh
quy môn tự như ngày chư Tổ còn tại thế.
Từ
đức độ và uy tín ấy, Ngài luôn được suy cử nhiều chức
vụ và tham gia nhiều hoạt động quan trọng trong Phật giáo
và ngoài xã hội. Năm 1959, sau khi thành lập Hội Phật giáo
Thống nhất Việt Nam ở miền Bắc, Ngài được cử làm Ủy
viên Thường trực Chi hội Phật giáo Thống nhất tỉnh
Nam Định và là Ủy viên Liên lạc Mặt trận Tổ quốc thành
phố Nam Định.
Năm
Nhâm Tý – 1972, Ngài được suy cử làm Ủy viên Thường trực
Ban Trị sự Trung ương Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam
(miền Bắc). Cũng trong thời gian này, giặc Mỹ leo thang đánh
phá miền Bắc, bom giặc Mỹ đã phá hủy toàn bộ ngôi chùa
Vọng Cung nơi Ngài trụ trì trước đây thành đống gạch
vụn. Ngay sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Ngài đã
khuyến hóa Phật tử trong cũng như ngoài tỉnh cùng với chư
Tăng trong trụ xứ dốc lòng xây dựng lại ngôi Tam bảo. Công
việc tái thiết bắt đầu từ năm 1972 cho đến năm 1988 thì
hoàn tất như ngày nay, và chùa Vọng Cung trở thành nét đặc
trưng tiêu biểu của thành phố Nam Định.
Năm
Tân Dậu – 1981, tại Hội nghị thống nhất Giáo hội Phật
giáo Việt Nam tại Hà Nội, Ngài được suy cử làm Thành viên
Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Năm
Đinh Mão – 1987, Đại hội Đại biểu toàn quốc Giáo hội
Phật giáo Việt Nam lần thứ II, Ngài được Đại hội suy
cử giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự Giáo
hội Phật giáo Việt Nam, Ngài đã đảm đương chức vụ này
2 khóa cho đến Đại hội Đại biểu lần thứ IV.
Năm
Kỷ Tỵ – 1989, Ngài được Giáo hội Phật giáo Việt Nam
cử làm Phó đoàn Đại biểu Giáo hội Phật giáo Việt Nam
sang thăm và làm việc với Hiệp hội các tông phái Phật giáo
Nhật Bản, Ngài cũng được phía bạn đón tiếp nồng hậu
và kính trọng, đã để lại trong lòng Phật giáo Nhật Bản
một ấn tượng đẹp đẽ về vị cao Tăng Việt Nam và thắt
chặt thêm mối quan hệ giữa hai nước.
Ngài
còn có nhiều đóng góp trong công tác quốc tế của Phật
giáo, đón tiếp nhiều đoàn Phật giáo quốc tế của nhiều
nước đến thăm và làm việc với Phật giáo Việt Nam. Trong
các buổi tiếp xúc làm việc, Ngài luôn làm cho bạn bè quốc
tế hiểu được về Phật giáo Việt Nam.
Năm
Canh Ngọ – 1990, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cử Ngài tham
dự lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Tổ chức Phật giáo châu
Á vì hòa bình (ABCP) tại Ulanbator – Mông Cổ. Sau hội nghị,
Ngài cùng phái đoàn thăm hữu nghị Liên Xô.
Năm
Quí Dậu – 1993, Ngài tham dự Hội nghị giải trừ quân bị
do Tổ chức Phật giáo châu Á vì hòa bình (ABCP) tổ chức
tại Hà Nội.
Trong
quá trình hoạt động Phật sự, Ngài luôn quan tâm đến việc
đào tạo Tăng tài cho Giáo hội, được Giáo hội Phật giáo
Việt Nam cử giữ chức Phó Viện trưởng Học viện Phật
giáo Việt Nam tại Hà Nội, và giữ chức Phân viện Phó Phân
viện Nghiên cứu Phật học.
Ngoài
việc tham gia Phật sự ở trung ương Giáo hội, Ngài còn quan
tâm đến Phật giáo ở địa phương, trực tiếp làm Phó ban
rồi Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh cho đến khi viên
tịch. Trong Phật sự tại tỉnh nhà, Ngài cũng chăm lo đào
tạo Tăng tài kế vãng khai lai bằng việc mở trường Cơ bản
Phật học và trực tiếp làm Hiệu trưởng.
Trong
mấy mươi năm qua, tại các khóa Hạ an cư của Phật giáo
tỉnh Nam Định, Ngài luôn là bậc Thiền chủ mô phạm, là
ngôi Chủ hạ của trường Hạ chùa Cả – trụ sở Tỉnh
hội Phật giáo Nam Định, bậc đạo đức khả kính của Tăng
Ni Phật tử trên con đường tu thân hành đạo.
Tháng
11 năm Đinh Sửu – 1997, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ IV Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ngài được suy tôn ngôi
vị Phó Pháp chủ kiêm Chánh Thư ký Hội đồng Chứng minh
Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Ngoài
những trọng trách mà một vị sứ giả của Đức Phật phải
đảm nhận, Ngài còn tham gia Hội đồng Nhân dân, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam của tỉnh nhiều khóa và nhiều hoạt động
xã hội khác để góp phần phụng sự Tổ quốc, phụng sự
nhân dân.
Để
tuyên dương những công lao to lớn mà Ngài đã cống hiến,
Nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
đã trao tặng cho Ngài : Huân chương Kháng chiến chống Mỹ
cứu nước hạng nhì, Huy chương Vì sự nghiệp đại đoàn
kết toàn dân, Bằng khen hạng nhất, Huy chương vì sự nghiệp
đại đoàn kết toàn dân, Bằng khen hạng nhất, Huy chương
vì sự nghiệp Chữ thập đỏ Việt Nam và nhiều danh hiệu
cao quý khác.
Tuổi
cao lão bệnh, Ngài đã thị tịch vào lúc 4 giờ 30 phút, ngày
25 tháng 8 năm 1999 (nhằm ngày Rằm tháng Bảy năm Kỷ Mão)
tại Hà Nội, trụ thế 84 năm, 60 Hạ lạp. Nhục thân Ngài
được đưa về nhập Bảo tháp tại Tổ đình Vọng Cung, thành
phố Nam Định.
Cả
cuộc đời Ngài, từ buổi sơ tâm cho đến lúc hóa duyên mãn
tận là một tấm gương sáng, lấy việc nghiêm trì giới luật
làm thân giáo để sách tấn hàng môn đồ, Phật tử. Ngài
là một trong những vị cao Tăng giới hạnh tinh nghiêm, tiêu
biểu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam để hậu thế quy
ngưỡng.