Hòa
thượng THÍCH TRÍ ĐỨC
1915
– 1999
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TRÍ ĐỨC
(1915
– 1999)
Hòa
thượng Thích Trí Đức, pháp danh Hồng Phương, pháp hiệu
Huệ Phước, pháp húy Chơn Bảo, nối dòng Lâm Tế đời thứ
40, thế danh là Nguyễn Thuần Nam, sinh năm Ất Mão (1915) tại
Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, sau dời về xã Vĩnh Hưng, nay thuộc
huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Thân phụ là cụ ông Nguyễn
Thuần Hậu, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Thanh.
Ngài
sinh ra và lớn lên trong một gia đình có 9 anh chị em, với
truyền thống nho phong nề nếp. Năm lên 8 tuổi, cha lìa trần.
Ngài theo mẹ vào chùa Châu Viên (xã Châu Thới – Bạc Liêu)
làm lễ kỳ siêu cho hương linh thân phụ; tiếng mõ, hồi chuông,
câu kinh, lời kệ làm Ngài từ đó tâm niệm muốn xuất gia
và được Hòa thượng cho thọ tam quy, pháp danh là Hồng Phương.
Năm
10 tuổi, đạo tâm càng phát, Ngài được mẹ cho phép thế
phát xuất gia tại chùa Châu Viên và được Hòa thượng Bổn
sư trụ trì húy Tâm Viên, tự Ngộ Chỉ thu nạp làm đệ
tử.
Sau
3 năm chấp tác, phụng Phật sự Sư, Ngài được Hòa thượng
Bổn sư cho đi tham học với Hòa thượng Giác Thiên (Sài Gòn)
một năm và sau đó tham học nơi Hòa thượng Phổ Huệ –
người kế tục trụ trì chùa Châu Viên. Còn Hòa thượng Bổn
sư chuyển về chùa Vĩnh Hòa (Bạc Liêu) để hoằng hóa độ
sanh. Lúc ấy, tuy là thị giả nhỏ tuổi, nhưng Ngài đã tỏ
rõ tư cách đạo phong khả kính, được cử làm trưởng tràng
trong số huynh đệ môn sinh, và được Hòa thượng Phổ Huệ
ban cho pháp hiệu là Huệ Phước.
Năm
Quí Dậu (1933), Ngài thọ giới Sa di tại chùa Vĩnh Hòa và
được Hòa thượng Phổ Huệ (chùa Châu Viên) gởi đi y chỉ
nơi Hòa thượng Quảng Sơn chùa Giác Hoàng (Bà Điểm). Hai
năm sau, Ngài đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Đại giới
đàn chùa Giác Lâm (Phú Thọ) do Hòa thượng Hoằng Nghĩa làm
Đường đầu truyền giới (Ất Hợi – 1935).
Từ
đó, Ngài vân du tham học và hành đạo, đầu tiên Ngài ở
chùa Giác Linh (Tân Hòa - Sa Đéc) một năm. Nơi đây, Ngài đã
nhận lời thỉnh cầu của đại thí chủ là bà Ban Xoàn để
chứng minh chủ trì khai hội Pháp Hoa.
Năm
Mậu Dần 1938, Ngài trở về chùa Vĩnh Hòa (Bạc Liêu) và được
Hòa thượng Bổn sư Thích Tâm Viên truyền pháp ấn, ban pháp
húy là Chơn Bảo và dự vào hàng Đệ tứ Tôn chứng tại
trường Hương của chùa. Năm sau, Ngài xin phép Bổn sư đi
trùng tu chùa Long Phước, nay thuộc xã Hội An Đông (Đồng
Tháp) và làm trụ trì nơi này.
Năm
Tân Tỵ 1941, Ngài được tứ chúng đề cử làm Giáo thọ
A Xà Lê tại Đại giới đàn chùa Phước Hội, xã Hội An
(An Giang).
Từ
năm 1945 đến 1954, trong bối cảnh toàn quốc kháng chiến,
một mặt vừa tu học, hoằng dương đạo pháp, một mặt Ngài
tham gia kháng chiến chống Pháp. Ngài là Ủy viên Ban vận động
phong trào Phật giáo Cứu quốc tỉnh Long Châu Sa. Sau đó, Ngài
được cử làm Chủ tịch Liên Việt huyện Lấp Vò; do vì
lấy trụ xứ chùa Long Phước làm cơ sở hoạt động cách
mạng, nên đã bị thực dân Pháp và tay sai hai lần đốt phá
chùa.
Năm
Canh Dần 1950, Ngài được cử làm Tuyên luật sư tại Đại
giới đàn Phước Hòa Ni Tự (Thốt Nốt, An Giang).
Năm
Giáp Ngọ 1954, Ngài làm Giáo thọ sư tại trường Hương chùa
Khánh Sơn (Sóc Trăng).
Năm
Tân Sửu 1961, thể theo di chúc của Hòa thượng Bổn sư, Ngài
được cử làm Phó trưởng tử, truyền đăng đời thứ 40
dòng Thiền Lâm Tế, kế thế tông môn, nối truyền Tổ ấn
làm trụ trì chùa Vĩnh Hòa (Bạc Liêu) cho đến ngày viên tịch.
Năm
Nhâm Dần 1962, Ngài được cử làm Yết ma A Xà Lê tại giới
đàn chùa Vạn Phước (Sóc Trăng) và là Trị sự trưởng Giáo
hội Tăng Già quận Vĩnh Lợi (lúc đó còn thuộc tỉnh Sóc
Trăng).
Năm
Giáp Thìn 1964, Ngài được suy cử làm Chánh đại diện Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Bạc Liêu cũ, liên
tục các nhiệm kỳ đến năm 1976. Trong những năm này, Ngài
tích cực hoạt động trong Phật sự và ngoài xã hội, Ngài
sửa sang, kiến thiết lại chùa Vĩnh Hòa, xây dựng thêm Tăng
xá làm nơi tu học cho Tăng Ni Phật tử. Ngoài ra, hàng năm
khai giảng các khóa An cư kiết Hạ, khai đàn truyền giới,
tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức.
Năm
Ất Tỵ 1965, song song với việc hoằng pháp tại trụ xứ,
Ngài còn ứng cơ độ thế, lập ký nhi viện, trường mẫu
giáo Vĩnh Hòa. Năm 1968, sáng lập trường Trung học Bồ Đề
giáo dục học sinh theo tinh thần “trí đức dũng nhân” của
đạo pháp và dân tộc.
Vào
các dịp lễ truyền thống Phật giáo lớn như Vu Lan, Phật
Đản, tết Nguyên đán, Ngài còn đi thăm viếng ủy lạo các
trại tập trung cải huấn tỉnh Bạc Liêu đa phần là tù chính
trị trước giải phóng, và các bệnh viện, trại dưỡng lão,
cô nhi... thể hiện tấm lòng Từ bi cứu khổ của một vị
Bồ tát giáo hóa chúng sanh.
Năm
Tân Hợi 1971, Ngài được suy tôn làm Đường đầu Hòa thượng
tại giới đàn chùa Quan Âm (Cà Mau) do Giáo hội tổ chức
và hàng năm được mời dự vào hàng Tam sư truyền giới tại
giới đàn các tỉnh miền Tây Nam bộ.
Năm
Quý Mão 1973, Ngài được suy cử làm Thành viên Hội đồng
Trưởng lão Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thống nhất.
Từ
năm Canh Ngọ 1990, dù tuổi cao sức yếu nhưng khi Giáo hội
cần cầu, Ngài vẫn hoan hỷ nhận nhiệm vụ Chứng minh Ban
trị sự Phật giáo tỉnh Minh Hải, kiêm chánh đại diện Phật
giáo thị xã Bạc Liêu.
Năm
Đinh Sửu 1997, Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV
tổ chức Ngài được suy tôn làm Thành viên Hội đồng Chứng
minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho đến ngày
viên tịch.
Đầu
năm Kỷ Mão 1999, nhận thấy tứ đại suy yếu trần duyên
sắp mãn, Ngài đã cho họp tứ chúng công bố đề cử Ban
trưởng tử kế thừa truyền đăng tông môn chùa Vĩnh Hòa
và dặn dò, nhắc nhở chúng thường trụ tinh tấn tu trì,
đóng góp cho đạo pháp và dân tộc nhiều hơn.
Ngày
26 tháng 5 năm Kỷ Mão, nhằm ngày 09 tháng 6 năm 1999, vào lúc
19 giờ, Ngài đã an nhiên thị tịch trong sự kính tiếc của
môn đồ pháp quyến và toàn thể Giáo hội địa phương. Ngài
trụ thế 84 tuổi đời, với 64 Hạ lạp.
Hòa
thượng Thích Trí Đức là một bậc cao Tăng thạc đức, giới
hạnh uy nghi, phúc tuệ vẹn toàn. Ngài là Tôn chứng sư tại
các Đại giới đàn ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau... ấn
chứng thọ giới cho biết bao giới tử, môn đồ phục vụ
cho đạo pháp và dân tộc cho đến nay. Cả cuộc đời hoằng
pháp lợi sanh, công hạnh viên minh thật đáng để hàng hậu
tấn noi gương, và ghi nhớ một bậc danh Tăng đức độ của
Phật giáo Việt Nam trong thế kỷ XX.