Hòa
thượng THÍCH HOẰNG TU
1913
– 1999
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HOẰNG TU
(1913
– 1999)
Hòa
thượng Thích Hoằng Tu, pháp tự Tông Tế, pháp hiệu Kim Tế,
xuất gia thuộc dòng Lâm Tế, sau nối pháp đời thứ 50 dòng
Tào Động.
Ngài
thế danh Từ Khải Niên, sinh giờ Ngọ, ngày mùng 4 tháng Chạp
năm Quí Sửu 1913 (nhằm Trung Hoa Dân Quốc năm thứ 2) tại
thôn Tú Thủy, làng Thang Khanh, huyện Phong Thuận, phủ Triều
Châu, tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc, thân phụ là cụ Từ
Thể Nhạc, thân mẫu là bà Sô Thị. Ngài sinh trưởng trong
một gia đình nông dân, nhiều đời sùng kính Tam bảo, giàu
lòng nhân ái.
Tuổi
ấu thơ của Ngài sống trong bối cảnh đất nước Trung Quốc
sau cuộc cách mạng Tam Dân, và lớn lên trong thời ly loạn
bởi sự xâm lăng của quân phiệt Nhật chiếm đóng tỉnh
Quảng Đông, nên Ngài sớm thấy rõ cảnh đời là vô thường,
khổ không. Nhờ sống trong sự dạy dỗ của một gia đình
thuần thành Phật đạo, Ngài có dịp gần gũi Tam bảo, thấm
nhuần giáo lý từ bi, là nhân duyên để hạt giống Phật
đà trong Ngài được nẩy mầm tăng trưởng.
Năm
Kỷ Tỵ – 1929, lúc lên 16 tuổi, Ngài xin phép song thân đến
xuất gia tại chùa Thái Bình, huyện Phong Thuận, phủ Triều
Châu, được Hòa thượng Bổn sư húy Tập Cảnh thế độ,
ban cho pháp danh là Hoằng Tu, pháp tự Tông Tế, nối pháp dòng
Lâm Tế. Với đức tính cần mẫn siêng năng, Ngài nỗ lực
công phu học đạo với Bổn sư trong suốt sáu năm, luôn được
Tăng chúng kính mến.
Năm
Ất Hợi – 1935, Ngài được Bổn sư cho thọ Tam đàn đại
giới tại Trấn Quốc Thiền Tự, thuộc trấn Khai Nguyên, phủ
Triều Châu, do Ngài Phúc Lai Luật sư làm Hòa thượng truyền
giới. Sau đó, Ngài đến cầu pháp với Hòa thượng Cao Tham-Đằng
Tánh, được ban pháp hiệu là Kim Tế, nối pháp dòng Tào Động
Chánh Tông đời thứ 50.
Năm
Ất Dậu – 1945, người Trung Quốc ở hai tỉnh Quảng Đông
và Phúc Kiến di cư sang Việt Nam lập nghiệp làm ăn khá đông,
nhất là tập trung ở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn. Cùng theo đó,
là nền văn hóa tín ngưỡng bản địa Đền, Từ, Miếu, Phủ
được lần lượt kiến tạo ở các cộng đồng dân cư người
Hoa. Dần dà, cuộc sống ổn định và trù phú, nhu cầu về
tôn giáo được phát triển lên, Phật giáo Hoa Tông được
mời từ Trung Quốc sang để hoằng hóa đáp ứng nhu cầu những
Hoa kiều ở đây.
Năm
Đinh Hợi – 1947, nhận được lời thỉnh cầu của cộng
đồng người Hoa tại Sài Gòn - Chợ Lớn, Ngài là một trong
số bốn Tăng sĩ Trung Quốc sang Việt Nam thời kỳ đầu tiên:
Thanh Thuyền (1944); Diệu Duyên; Lương Giác; Hoằng Tu (1947).
Lúc đầu mới sang, các Ngài đều ở tạm nơi Quan Âm Miếu,
cũng là Hội quán Phúc Kiến nằm trên đường Lão Tử - Chợ
Lớn.
Các
Ngài thấy vùng đất này có đủ nhân duyên phát triển Phật
giáo lâu dài, nên mỗi vị mỗi hướng tìm nơi tạo lập chùa
cảnh để hoằng hóa lợi sanh và tu hành giải thoát. Hòa thượng
Thanh Thuyền lập chùa Nam Phổ Đà; Hòa thượng Diệu Duyên
lập chùa Thảo Đường; Hòa thượng Lương Giác lập chùa
Quan Âm Tử Trúc Lâm; còn Ngài chọn khu đất vốn là vườn
rau Bình Thới, quận 11 - Chợ Lớn, lập một am nhỏ bằng
nhà sàn, làm nơi dừng chân tu hành suốt 10 năm trường, sống
đời đạm bạc của bậc chân tu thạc đức.
Năm
Đinh Dậu – 1957, với sự thỉnh cầu và ủng hộ của đàn
na tín chủ khắp nơi trong cộng đồng người Hoa, Ngài đứng
ra khai sáng và tạo dựng ngôi Tam bảo Từ Ân Thiền Tự, một
phạm vũ trang nghiêm tráng lệ của Phật giáo Hoa Tông mà Ngài
dành trọn cuộc đời vừa tu hành vừa xây dựng, phải mất
35 năm để hoàn thành tâm nguyện. Chùa được hoàn thành vào
ngày mùng 4 tháng Chạp năm Canh Thân 1992, và cũng là lần sinh
nhật thứ 79 của Ngài.
Trong
sự nghiệp tiếp Tăng độ chúng, Ngài đã đào tạo nhiều
vị đệ tử xuất chúng phụng sự cho hệ phái Phật giáo
Hoa Tông và trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam như : Hòa thượng
Duy Lực, Duy Nhật, Ngộ Chân...
Về
công hạnh, Ngài là một bậc cao Tăng giàu lòng từ mẫn, vô
ngã vị tha trong công tác từ thiện. Hầu hết các ban, hội
, phong trào cứu tế, cứu trợ, đều được Ngài chứng minh,
kêu gọi lòng hảo tâm của tín đồ người Hoa, và tự mình
Ngài toàn sức toàn ý ủng hộ giúp đỡ.
Bằng
kinh nghiệm trong cả cuộc đời tu hành của mình, Ngài đã
trích dẫn những ý chỉ tâm đắc biên soạn thành tập sách
“Thiền môn Chư kinh Yếu chỉ” (cảo bản), mà mãi đến
sau khi Ngài khuất bóng mới tìm thấy trong hành trang để lại.
Từ
năm 1993 đến năm 1997, Ngài được suy cử làm Chứng minh Ban
Trị sự Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh trải
qua 2 kỳ đại hội lần IV và lần V.
Năm
Đinh Sửu 1997, tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc
kỳ V ở thủ đô Hà Nội, Ngài được suy tôn làm Thành viên
Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt
Nam cho đến ngày viên tịch.
Năm
Kỷ Mão 1999, cảm thấy tuổi cao sức yếu, nhiều bệnh duyên,
vô thường sắp đến, Ngài phó chúc việc Tam bảo lại cho
môn đồ trông nom điều hành Từ Ân Thiền Tự. Ngài lui về
nhập thất hành trì tịnh nghiệp, cùng dưỡng bệnh đợi
ngày mãn duyên.
Vào
lúc 18 giờ ngày 30 tháng 7 năm Kỷ Mão (nhằm ngày 9 tháng 9
năm 1999), Ngài nhẹ nhàng xả bỏ báo thân, thân thần về
cõi tịch tịnh, trụ thế 87 mùa đông, giới lạp 64 mùa hạ.
Môn đồ pháp quyến trà tỳ nhục thân, xây Bảo tháp tôn
thờ trong khuôn viên Từ Ân Thiền Tự.
Cuộc
đời tu hành của Hòa thượng thật đơn sơ mà đức độ,
thế nhưng việc làm mà Ngài để lại là công đức vô cùng
: một đời kiến tạo nên ngôi Từ Ân Thiền Tự trang nghiêm
tráng lệ còn mãi với đời, cùng dấu ấn lớp người đầu
tiên hoằng khai Phật giáo Hoa Tông tại miền đất này và
tỏa rộng muôn nơi.