Hòa
thượng THÍCH HƯNG DỤNG
1915
– 1998
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HƯNG DỤNG
(1915
– 1998)
Hòa
thượng Thích Hưng Dụng pháp danh Trừng Hóa, pháp tự Lương
Bật, nối pháp đời thứ 42 dòng thiền Lâm Tế. Ngài thế
danh Đào Ngọc Thố, sinh ngày mùng 8 tháng 8 năm Ất Mão 1915,
tại làng Trung Kiên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong,
tỉnh Quảng Trị. Song thân là cụ ông Đào Văn Độ và cụ
bà Đỗ Thị Phấn. Ngài là con trưởng trong gia đình có 6
anh em.
Sinh
trưởng trong một gia đình thâm tín Tam bảo. Ngài lớn lên
với tuổi thơ bên dòng sông Thạch Hãn, với tiếng chuông
của ngôi cổ tự Linh Quang trong làng, ngôi chùa đã un đúc
nên các bậc cao Tăng, chính là nhân duyên sớm thuyết phục
đưa Ngài vào chốn không môn.
Năm
12 tuổi (1926), nhân đi xem lễ khánh thành chùa Linh Quang, nhìn
uy phong của Ngài Tăng Cang chùa Diệu Đế là Hòa thượng Tâm
Khoan về dự lễ, thiện duyên này đã đưa Ngài hướng tâm
theo gót Hòa thượng. Sau khi khẩn khoản xin phép, Ngài được
song thân cho rời gia đình vào Huế, đến đồi Hàm Long vào
chùa Báo Quốc bái yết Hòa thượng Tăng Cang xin xuất gia học
đạo.
Năm
Mậu Thìn 1928, trải qua những tháng ngày hành điệu tinh cần,
với bản chất đôn hậu, chất trực, Ngài được Bổn sư
trao truyền Sa di giới tại Tổ đình Báo Quốc để tiếp tục
tu học thiền môn kinh luật.
Năm
Giáp Tuất 1934, nhận thấy Ngài có tư chất pháp khí Đại
thừa, nên khi Đại giới đàn chùa Sắc tứ Thạch Sơn ở
Quảng Ngãi khai mở, Hòa thượng Bổn sư cho phép Ngài được
đặc cách miễn tuổi, thọ Cụ túc giới lúc 19 tuổi. Giới
đàn này do Hòa thượng Hoằng Thạc làm đàn đầu truyền
giới. Sau khi đắc giới, Ngài được Bổn sư trao truyền pháp
kệ :
Trừng
thần quán tưởng định chơn hương
Tuệ
nhật Hưng Dụng đạo mạch trường
Vạn
pháp bản lai chơn thị pháp
Hỏa
đăng kế mỹ mích uy vương.
Từ
đây, Ngài bắt đầu tham phương tu học và hành đạo nơi
các đạo tràng Phật học khắp xứ kinh kỳ đang nở rộ từ
phong trào chấn hưng Phật giáo, cho đến khi các trường lớp
đình giáo do phong trào kháng chiến chống Pháp bùng nổ khắp
nơi, khiến thực dân Pháp trở lại càn bố vì nghi ngờ chùa
chiền, Tăng Ni là cơ sở của kháng chiến.
Đầu
năm 1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chính thức
bùng nổ, chư Tăng cũng phải theo đồng bào đi tản cư trước
sự tái chiếm của quân Pháp. Ngài trở về quê nhà tạm ở
trong gia đình ẩn náu khói lửa chiến tranh, cùng phụ giúp
cha già trồng tỉa ruộng vườn một thời gian. Trong tình cảnh
ấy, Ngài vẫn một lòng chay tịnh giữ giới thanh nghiêm.
Cuối
năm 1946, Ngài được Giáo hội Tăng Già Trung Việt cử giữ
chức trụ trì Hội quán Phật học tỉnh Quảng Trị. Giai đoạn
này chiến tranh ngày càng khốc liệt, nhân sự Giáo hội Quảng
Trị thiếu thốn, công việc Phật sự của Ngài phải tùy
duyên trước những khó khăn mọi bề. Từng bước, Ngài xây
dựng hạ tầng cơ sở Giáo hội từ những vùng đồi núi
cao xa như Ba Lòng, Khe Sanh đến tận các vùng duyên hải Gia
Đẳng, Gia Độ... đến đâu Ngài cũng chủ trì đặt đá xây
dựng Niệm Phật Đường. Từ chỗ vài chục Niệm Phật Đường
trong thị xã, đã nhân rộng lên vài trăm đơn vị khắp các
địa phương, tạo cho Phật giáo Quảng Trị một bộ mặt
khá vững vàng sánh cùng Phật giáo các tỉnh bạn, góp phần
cho sự nghiệp xây dựng Phật giáo Việt Nam.
Nét
nổi bật và chuyên nhất của đời Ngài là sự nhiệt tâm
tinh cần, tôn trọng học hỏi với bất cứ người nào hơn
mình dù lớn hay nhỏ. Không năm nào Ngài không rời trú xứ
để trở về Tổ đình Báo Quốc nương tựa các bậc cao đức
an cư kiết Hạ. Với hoài bão đào tạo thế hệ kế thừa,
Ngài khuyến khích dìu dắt những bước đầu cho nhiều Phật
tử xuất gia, khuyến hóa Phật tử hỗ trợ tài chánh cho chúng
điệu được Ngài gởi theo học tại các Phật học đường
ở Huế, Nha Trang. Một số vị Tăng Ni đã thành đạt như
ý nguyện của Ngài.
Năm
Giáp Thìn 1964, Sư huynh Ngài là Hòa thượng Thích Hưng Mãn,
trú trì Tổ đình Kim Tiên viên tịch. Ngày 21 tháng 6 năm nầy,
chư tôn đức trong môn phái Báo Quốc họp cung cử Ngài kế
nhiệm trú trì. Dù một cảnh hai quê khó khăn, Ngài cũng tuân
thủ tôn ý môn phái, dần dần giao phó Phật sự ở Quảng
Trị cho đệ tử lớn là Thượng tọa Thích Chánh Trực đảm
nhận, để Ngài làm tròn trách nhiệm ở Tổ đình Kim Tiên.
Năm
Ất Tỵ 1965, Ngài được cung thỉnh làm Đệ thất Tôn chứng
trong Đại giới đàn Vạn Hạnh tổ chức tại Tổ đình Từ
Hiếu.
Năm
Canh Tuất 1970, Ngài được cung thỉnh làm Đệ lục Tôn chứng
trong Đại giới đàn Vĩnh Gia tổ chức tại Đà Nẵng.
Tại
hai giới đàn tổ chức ở Tổ đình Báo Quốc vào năm 1977
và 1981, Ngài được cung thỉnh làm Đệ nhị Tôn chứng.
Năm
Mậu Thìn 1988, Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A Xà Lê
trong giới đàn Tổ đình Báo Quốc.
Năm
Nhâm Thân 1992, trong Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc
nhiệm kỳ III tại Hà Nội, Ngài được cung cử làm Thành
viên Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo
Việt Nam.
Năm
Giáp Tuất 1994, Ngài được cung thỉnh làm Đường đầu Hòa
thượng trong Đại giới đàn tổ chức tại Tổ đình Báo
Quốc.
Ngài
là vị cao Tăng đức độ khả kính, là Y chỉ sư của Tăng
Ni Phật giáo Thừa Thiên - Huế cho đến khi tuổi già sức
yếu. Đời Ngài là cuộc sống bình dị rất thân gần quần
chúng Phật tử tại gia ở Quảng Trị và Thừa Thiên. Hàng
Tăng Ni đệ tử xuất gia của Ngài đã trưởng thành rất
đông, nhiều vị đã đóng góp công sức tài năng cho sự nghiệp
Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Năm
1998, Ngài an nhiên thâu thần thị tịch vào lúc 12 giờ ngày
mùng 7 tháng 11 năm Mậu Dần giữa tiếng niệm Phật của chư
Tăng Ni Phật tử. Ngài trụ thế 84 năm, trên 70 năm tu tập
với 65 Hạ lạp.