Hòa
thượng SIÊU VIỆT
1934
- 1997
HÒA
THƯỢNG
SIÊU
VIỆT
(1934
– 1997)
Hòa
thượng Siêu Việt, pháp danh Ulàro Mahàthera. Ngài thế danh
là Trần Siêu Việt, sinh năm Giáp Tuất (1934) tại quận Trà
Bek, tỉnh Prey Veng, nước Cao Miên, thân phụ là cụ Trần Văn
Lũy; thân mẫu là cụ Dương Thị Hoa. Ngài là con trưởng trong
gia đình có 6 anh chị em.
Ngài
xuất thân từ một gia đình nông dân nhân hậu, có truyền
thống đạo Phật lâu đời và lớn lên tại đất nước chùa
tháp - một đất nước chọn Phật giáo làm quốc giáo. Sống
trong một gia đình đạo đức, cộng thêm môi trường xã hội
kính tín Tam bảo, là nguồn vốn tinh thần quý giá cho Ngài
bước đến ngưỡng cửa Từ bi.
Năm
13 tuổi (1947), theo truyền thống gia tộc và tập tục đất
nước Cao Miên, Ngài vâng lệnh song thân vào chùa Preypasarì
làm giới tử Sa di để rèn luyện kỷ cương đạo đức làm
người, ngõ hầu phục vụ gia đình, xã hội mai sau. Thế nhưng,
như có túc duyên sâu dày đối với Phật pháp, Ngài quyết
chí chọn đời sống xuất gia theo con đường giải thoát của
đức Bổn sư.
Hơn
6 năm tinh tấn tu học, phụng Phật sự Sư tại chùa Preypasarì,
Ngài thông suốt được Pàlì ngữ và Kinh Tạng Pàli, trở
thành một vị Sa di có học hạnh ø khiêm cung được thầy
yêu, bạn quý.
Năm
20 tuổi (1954) do tinh tấn tu học, giới hạnh trang nghiêm, nên
Ngài được đăng đàn thọ Cụ túc giới nơi Hòa thượng
Tế độ Pavaraveti, và hai vị Thầy Yết ma : Dhammathera và Indathera,
cùng với 21 vị Tỳ kheo chứng minh tại chùa Sirisagar, quận
Tràbek. Ngài nhận pháp danh là Ulàro Bhikkhu (nghĩa là Tỳ kheo
Siêu Việt).
Sau
khi thọ đại giới, Ngài được Thầy tế độ giới thiệu
lên thủ đô Phnôm Pênh tu học. Nơi đây, Ngài vừa trau dồi
giáo lý, vừa hướng dẫn người Việt ở Cao Miên tu hành
theo Nguyên thủy Phật giáo. Không bao lâu, Ngài trở thành vị
Pháp sư lỗi lạc được chư Tăng Phật tử Việt Nam và Cao
Miên kính trọng. Đồng thời trong giai đoạn này, Ngài hướng
dẫn phái đoàn chư Tăng và Phật tử Việt-Khmer sang hành hương
Ấn Độ, chiêm bái Phật tích...
Năm
1970, Ngài trở về Việt Nam cùng với Hòa thượng Hộ Tông,
Hòa thượng Bửu Chơn, Hòa thượng Giới Nghiêm . . . truyền
bá giáo lý Nguyên thủy, Ngài đem theo một bộ Tam tạng kinh
bằng tiếng Pàli-Khmer và cư ngụ tại chùa Giới Minh - Thủ
Đức. Bộ Tam tạng kinh này, Ngài đã cúng lại cho Giáo hội
Phật giáo Campuchia (Cao Miên) khi đất nước này được hồi
sinh sau quốc nạn Pôn Pốt năm 1979.
Vài
năm sau, Ngài được chư Tăng Phật tử cung thỉnh về Trung
tâm Văn hóa Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam để điều hành
Phật sự và hoằng dương giáo pháp tại đây (nay là chùa
Nam Tông - Bình Chánh).
Năm
1979, do đạo học uyên thâm, đức hạnh trang nghiêm nên uy
tín của Ngài vang dội không những ở Việt Nam mà còn ở
đất nước Campuchia (Cao Miên). Ngài được chư Tăng tín nhiệm,
thỉnh cử chức vụ Phó Tăng thống Ban Chưởng quản Giáo
hội Tăng Già Nguyên thủy Việt Nam, và là thành viên trong
phái đoàn Phật giáo Việt Nam do Hòa thượng Bửu Chơn làm
Trưởng đoàn sang Campuchia (Cao Miên) phục hồi Tăng tướng
cho chư Tăng ở nước này. Đồng thời, Ngài làm Yết ma truyền
giới cho 7 giới tử Tỳ kheo đầu tiên của Giáo hội Phật
giáo Campuchia (Cao Miên) lúc bấy giờ.
Năm
1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, Ngài được đề
cử chức vụ Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo
hội Phật giáo Việt Nam. Đến năm 1982, Ngài được bầu làm
Ủy viên Ban Trị sự Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí
Minh.
Năm
1987, tại Đại hội Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ II, Ngài
được đề cử đảm nhận liên tiếp các công việc Giáo
hội giao phó như :
- Phó
chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo
Việt Nam.
-
Phó Ban Trị sự Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh
kiêm Tăng trưởng Phật giáo Nam Tông.
-
Phó Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
-
Phó Ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
-
Phó Ban Phật giáo Quốc tế Trung ương Giáo hội Phật giáo
Việt Nam.
Cuối
năm 1987, Ngài được Ban Trị sự Thành hội Phật giáo thành
phố Hồ Chí Minh quyết định bổ nhiệm trụ trì chùa Kỳ
Viên, trụ sở Trung ương của hệ phái Phật giáo Nam Tông
Việt Nam.
Năm
1988, Ngài được mời tham gia làm Ủy viên Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh.
Đến
năm 1990, Ngài nhận lại thánh tích Thích Ca Phật Đài (Vũng
Tàu) về cho Phật giáo Nam Tông và được Hội đồng Trị
sự Trung ương Giáo hội quyết định cử Ngài kiêm trụ trì
cơ sở Phật giáo này.
Trong
những năm này, Ngài làm việc Phật sự không ngưng nghỉ,
lúc giảng dạy Tăng Ni tại các trường Hạ Phật giáo Bắc
Tông, lúc thuyết pháp giáo lý cho các lớp học chư Tăng Nam
Tông, Ngài còn hướng dẫn giáo lý cho các tín đồ Phật tử
ở các tự viện như : Ấn Quang, Xá Lợi, Kỳ Viên... Ngoài
ra, Ngài còn giảng dạy Tăng Ni sinh trường Cao cấp Phật học
Việt Nam Khóa I, cơ sở II tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngài
cũng để tâm nâng đỡ các tu nữ trong cộng đồng Phật giáo
Nam Tông. Về giáo điển, Ngài thành lập Ban Tu thư tại chùa
Nam Tông và chỉnh đốn lại Tạng Vi Diệu Pháp của Hòa thượng
Tịnh Sự, cũng như làm Đàn đầu Hòa thượng rất nhiều
giới đàn tại chùa Kỳ Viên.
Tuổi
Ngài càng cao, công việc Phật sự gánh vác càng nhiều, sự
nỗ lực hy sinh cho sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh của Ngài
càng thêm quý giá và đáng trân trọng. Sứ mệnh của một
sứ giả Như Lai là vô tận, nhưng báo thân huyễn hóa cõi
người là hữu hạn. Ngài đã dừng chân hóa đạo ở cõi
Sa bà, thân thần tịch diệt tại chùa Nam Tông, vào lúc 3 giờ
32 phút ngày 2 tháng 9 năm Đinh Sửu (nhằm ngày 2 tháng 11 năm
1997), Ngài trụ thế 64 năm và được 44 tuổi Hạ.
Hòa
thượng Siêu Việt – một vị cao Tăng Phật giáo Nam Tông
đã cống hiến trọn cuộc đời cho sự nghiệp Giáo hội và
lý tưởng hoằng pháp độ sanh. Ngài là một vì sao tỏa sáng
trên bầu trời Phật giáo Việt Nam ở cuối thế kỷ XX.