Hòa
thượng THÍCH THIỆN HÀO
1911
– 1997
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THIỆN HÀO
(1911
– 1997)
Hòa
thượng Thích Thiện Hào thế danh là Trương Minh Đạt, sinh
ngày 15 tháng 2 năm Tân Hợi 1911 tại làng An Phú Đông, huyện
Hóc Môn, tỉnh Gia Định – nay là quận 12, thành phố Hồ
Chí Minh. Thân phụ Ngài là cụ Trương Minh Phát, hiệu Đạt
Vinh, thân mẫu là cụ Đinh Thị Cang, Ngài là con một trong
gia đình.
Được
sinh ra và lớn lên trong một gia đình tin Phật, và như đã
có sẵn hạt giống xuất trần từ nhiều kiếp, nên Ngài sớm
nhận thức được cõi đời là giả tạm, thế sự phù vân,
chỉ có đạo giải thoát là cứu cánh. Năm 1927, Ngài xin phép
song thân được xuất gia đầu Phật với Tổ Huệ Đăng nơi
chùa Thiên Thai – Bà Rịa, được Tổ ban pháp danh Trừng Thanh,
năm ấy Ngài vừa tròn 16 tuổi. Sau khi xuất gia Ngài đã nỗ
lực tinh cần tu học, dũng mãnh vượt xa các bạn đồng môn,
được Bổn sư và huynh đệ vô cùng yêu mến.
Năm
Canh Ngọ 1930, Ngài được Tổ cho đặc cách thọ tam đàn Cụ
túc giới tại giới đàn chùa Giác Hoằng - Bà Điểm - Hóc
Môn, và được ban pháp tự Pháp Quang, pháp hiệu Thiện Hào,
nối pháp đời thứ 42 dòng Thiên Thai Thiền Giáo Tông.
Từ
năm 1931 đến năm 1939, Tổ mở trường Gia giáo tại Tổ đình
Thiên Thai, Ngài đã cùng với các pháp huynh: Hòa thượng Minh
Nguyệt, Pháp Dõng, Pháp Lan, Minh Tâm, Pháp Hội v.v... tu học
ở đây trong một thời gian gần 10 năm.
Trong
thời gian tu học tại Tổ đình Thiên Thai, ngoài những thời
khóa tu học, Ngài còn được gần gũi, hầu cận bên Tổ sư
Huệ Đăng. Qua đó, Ngài đã nghe được nội dung những buổi
tọa đàm giữa Tổ và cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của
Hồ Chủ tịch về tình hình đất nước. Từ ấy, Ngài đã
bắt đầu có ý thức về tinh thần yêu nước, độc lập
dân tộc, giải phóng quê hương và có dự hướng cho tương
lai khi đủ điều kiện.
Năm
Canh Thìn 1940, Ngài trở về quê nhà, xây dựng ngôi chùa Tường
Quang tại xã An Phú Đông, do Ngài làm trụ trì và cùng Pháp
huynh là Hòa thượng Pháp Dõng chung lo phát triển ngôi Tam bảo
này.
Năm
Ất Dậu 1945, Ngài tham gia hoạt động cách mạng khi Hội Phật
giáo Cứu quốc Nam bộ ra đời do Hòa thượng Minh Nguyệt làm
Hội trưởng. Kế tiếp, Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Gia
Định được thành lập, ban lãnh đạo gồm có Hòa thượng
Bửu Đăng làm Hội trưởng, Hòa thượng Pháp Dõng làm Phó
Hội trưởng, Hòa thượng Bửu Ý làm Thư ký và Ngài làm Ủy
viên Kinh tài, trụ sở đặt tại chùa Tường Quang, xã An Phú
Đông.
Năm
Đinh Hợi 1947, do giặc Pháp càn quét, để bảo toàn lực lượng
Ngài phải lánh sang chùa Long Huê - Gò Vấp, rồi đến tá túc
tại chùa Thiên Phước-Cầu Kho - Sài Gòn, đồng thời được
Hòa thượng Thiên Phước giới thiệu Ngài theo học tại trường
Phật học Giác Nguyên ở Khánh Hội do Hòa thượng Hành Trụ
chủ giảng.
Năm
Mậu Tý 1948, Ngài đến nhập chúng nơi trường Hạ chùa Hưng
Long - Chợ Lớn, do Hòa thượng Huệ Chánh làm Chủ Hương.
Năm
Kỷ Sửu 1949, Ngài được Hòa thượng Pháp sư Kiểu Lợi mời
về giảng pháp tại trường Hương chùa Linh Quang – Mỹ Tho.
Năm
Canh Dần 1950, uy tín lan rộng sau khóa An cư ở Mỹ Tho, Ngài
được Phật tử thỉnh về trụ trì chùa Phước Nguyên –
Bến Tre và cuối năm 1950 về trụ trì chùa Bửu An – Mỹ
Tho.
Năm
1951 đến năm 1954, khi Giáo hội Tăng Già Nam Việt được thành
lập, Ngài được chư Sơn thiền đức suy cử làm Trị sự
trưởng Giáo hội Tăng Già tỉnh Mỹ Tho.
Trong
thời gian hoạt động tại Mỹ Tho và Bến Tre, Ngài đã có
nhân duyên hội kiến với các bậc cao Tăng thạc đức, giàu
lòng cách mạng và yêu nước lãnh đạo Hội Phật giáo Cứu
quốc tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Bến Tre như Hòa thượng Thái Không,
Phước Chí, Thành Lệ, Niệm Nghĩa v.v...
Năm
Nhâm Thìn 1952, Ngài được Hòa thượng Minh Nguyệt, Ủy viên
Mặt trận Liên Việt mời dự Đại hội Liên hoan Tôn giáo
Dân tộc tại chiến khu Đồng Tháp Mười và theo học chương
trình 3 tháng về chính sách của Đảng Lao Động Việt Nam
để tham gia công tác tôn giáo vận.
Năm
Ất Mùi 1955, Ngài được tổ chức điều trở về hoạt động
tại vùng Sài Gòn - Gia Định. Trở về Sài Thành, Ngài trú
xứ tại chùa Giác Ngạn - Phú Nhuận.
Năm
Đinh Dậu 1957, Ngài đã được Tăng Ni Phật tử suy cử làm
Tổng Thư ký Giáo hội Lục Hòa Tăng và Lục Hòa Phật Tử.
Trụ sở Giáo hội đặt tại chùa Long Vân – Bình Thạnh.
Năm
Kỷ Hợi 1959, chư Sơn thiền đức suy cử Ngài làm Hội trưởng
Hội Lục Hòa Tăng và Lục Hòa Phật Tử.
Giữa
năm 1960, một cơ sở cách mạng bị lộ khiến nhiều người
bị bắt, Ngài phải rời chùa Giác Ngạn lánh về miền Tây
và được Hòa thượng Pháp Tràng liên lạc với tổ chức
đưa Ngài vào chiến khu Đồng Tháp Mười. Đồng thời năm
này, Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam được thành
lập, Ngài được mời làm Ủy viên Ủy ban Mặt trận Dân
tộc Giải phóng miền Tây Nam bộ.
Năm
Tân Sửu 1961, tại Đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng
miền Nam Việt Nam lần thứ 1, Ngài được cử làm Ủy viên
Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam.
Năm
Nhâm Dần 1962, Ngài chủ trì Đại hội Tăng Ni tỉnh Bến Tre
đạt kết quả thành công tốt đẹp.
Năm
Quý Mão 1963, Ngài tham dự Đại hội Phật giáo Châu Á tại
chùa Quảng Tế - Bắc Kinh. Tại Đại hội, Ngài đã tố cáo
chính sách đàn áp tôn giáo của chế độ độc tài gia đình
trị Ngô Đình Diệm tại miền Nam Việt Nam. Toàn thể Đại
hội đã vô cùng cảm động và chú ý theo dõi lời phát biểu
của Ngài, đồng thời nhiệt tình ủng hộ các phong trào đấu
tranh giải phóng dân tộc tại miền Nam trong đó có Phật giáo.
Sau đó, Ngài đi thăm một số tỉnh, thành phố của Trung Quốc.
Đại
hội Phật giáo Châu Á kết thúc, Ngài trở về Hà Nội và
đến yết kiến Hồ Chủ Tịch lần đầu tiên. Một tháng
sau, Ngài lên đường đi thăm các nước trong khối Xã hội
chủ nghĩa đã ủng hộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền
Nam Việt Nam.
Năm
Giáp Thìn 1964, tại Đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng
miền Nam Việt Nam lần thứ 2, Ngài được tái cử làm Ủy
viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc
Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Năm
Mậu Thân 1968, tại Đại hội Quốc Dân, thành lập Chính phủ
Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Lộc
Ninh - tỉnh Bình Long, Ngài được cử làm Ủy viên Hội đồng
Cố vấn Chính phủ.
Năm
Kỷ Dậu 1969, Ngài tháp tùng phái đoàn Chính phủ Cách mạng
Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Mặt trận Dân tộc
Giải phóng miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc và yết kiến
Hồ Chủ tịch lần cuối cùng.
Năm
Nhâm Tý 1972, Ngài dự kiến tham gia Đại hội Phật giáo Châu
Á tại Nhật Bản nhưng không thành. Sau đó, Ngài đã đi thăm
một số nước : Ấn Độ, Népal, Mông Cổ và Liên Xô và trở
về nước trong thời điểm hiệp định chấm dứt chiến tranh,
lập lại hòa bình tại Việt Nam được ký kết ở Paris.
Năm
Quý Sửu 1973, tỉnh Quảng Trị được giải phóng hơn phân
nửa, văn phòng và nhà khách Chính phủ Cách mạng Lâm thời
Cộng hòa miền Nam Việt Nam đặt tại Cam Lộ, Ngài được
cử làm Ủy viên Thường trực để đón tiếp các phái đoàn
khách quốc tế đến thăm Chính phủ và văn phòng.
Cuối
năm 1973, Ngài được cử làm Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Tù
chính trị miền Nam Việt Nam để đôn đốc việc thi hành
Hiệp định Paris về tù binh.
Năm
Ất Mão 1975, sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước
thống nhất, Ngài trở về thành phố Hồ Chí Minh, phụ trách
công tác dân vận về tôn giáo của Chính phủ. Tháng 8 năm
1975, Ngài tích cực vận động thành lập Ban Liên lạc Phật
giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh do Hòa thượng Minh Nguyệt
làm Chủ tịch. Đến năm 1977, Ngài được suy cử bổ sung
làm Phó chủ tịch Thường trực Ban liên lạc Phật giáo yêu
nước thành phố Hồ Chí Minh.
Đầu
năm 1976, Ngài là đại biểu tham dự Đại hội Phật giáo
châu Á lần thứ 4 được tổ chức tại Nhật Bản.
Giữa
năm 1976, trong cuộc bầu cử Quốc hội chung cả nước, Ngài
đã đắc cử đại biểu Quốc hội khóa VI, đồng thời được
cử làm Ủy viên Ủy ban Văn hóa Giáo Dục, Ủy viên Ủy ban
Soạn thảo Hiến pháp của Quốc hội.
Cuối
năm 1976, Ngài tham dự Hội nghị Hiệp thương thống nhất
3 tổ chức : Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (miền Bắc), Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các
lực lượng dân chủ và hòa bình thành một tổ chức thống
nhất là Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam; Ngài được cử làm
Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong
nhiều nhiệm kỳ.
Năm
Canh Thân 1980, Ngài được tái đắc cử làm Ủy viên Thường
vụ Quốc hội.
Cùng
năm, trong bối cảnh đất nước được thống nhất, giang
sơn nối liền một cõi, Bắc Nam sum họp một nhà, để
đáp ứng nguyện vọng thống nhất Phật giáo Việt Nam của
Tăng Ni Phật tử cả nước, Ban vận động thống nhất Phật
giáo Việt Nam được thành lập, gồm chư tôn giáo phẩm của
9 tổ chức hệ phái Phật giáo Việt Nam do Hòa thượng Thích
Trí Thủ làm Trưởng ban; Ngài được cử làm Ủy viên Thường
trực của Ban vận động.
Năm
Tân Dậu 1981, Ngài làm Trưởng đoàn đại biểu Ban Liên lạc
Phật giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh, tham dự Đại
hội đại biểu Phật giáo Thống nhất Việt Nam tại Hà Nội.
Tại Đại hội, Ngài được suy tôn làm Thành viên Hội đồng
Chứng minh và suy cử làm Phó chủ tịch Hội đồng Trị sự
Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Vào
năm 1982, Đại hội thành lập Phật giáo thành phố Hồ Chí
Minh được tổ chức. Ngài được Đại hội suy cử làm Phó
Ban thường trực và Hòa thượng Thích Trí Tịnh làm Trưởng
ban Trị sự.
Năm
Giáp Tý 1984, theo sự thỉnh cầu của Ban Quản trị và Phật
tử chùa Xá Lợi; Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí
Minh đã bổ nhiệm Ngài làm Viện chủ chùa Xá Lợi - quận
3 cho đến ngày viên tịch.
Năm
Đinh Mão 1987, Đại hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh
nhiệm kỳ II được tổ chức. Tại Đại hội, Ngài được
suy cử làm Trưởng Ban trị sự Thành hội Phật giáo thành
phố Hồ Chí Minh cho đến ngày xả bỏ báo thân.
Năm
Nhâm Thân 1992, tại Đại hội Phật giáo tòan quốc lần III,
Ngài được Đại hội suy cử làm Phó Chủ tịch Thường trực
Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho đến
ngày trở về cõi Phật.
Năm
Quý Dậu 1993, sau khi Giáo hội tiếp nhận cơ sở Quảng Đức,
văn phòng 2 Trung ương Giáo hội được dời từ chùa Xá Lợi
về trụ sở mới – Thiền viện Quảng Đức - quận 3, Ngài
đã được Giáo hội bổ nhiệm làm Viện chủ Thiền viện
Quảng Đức.
Trong
những năm từ 1983 đến 1990, Ngài được Thành hội Phật
giáo cử làm Thiền chủ các khóa Hạ do Thành hội tổ chức
tại chùa Xá Lợi và Vĩnh Nghiêm để hướng dẫn chư Tăng
tu học và làm Trưởng Ban chỉ đạo An cư kiết Hạ hàng năm.
Từ
năm 1985, sau khi Hòa thượng Thích Minh Nguyệt viên tịch, Ngài
đảm nhận chức vụ Chủ nhiệm Báo Giác Ngộ – Cơ quan ngôn
luận của Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh cho
đến năm 1997.
Từ
năm 1987 đến 1997, Ngài luôn được cử làm Trưởng Ban Tổ
chức các Đại giới đàn do Thành hội Phật giáo thành phố
Hồ Chí Minh tổ chức, để truyền trao giới pháp cho Tăng
Ni tu học và hành đạo.
Đối
với Tổ đình Thiên Thai, Ngài đã cùng với môn hạ, Tăng
Ni, Phật tử nỗ lực trùng tu ngôi Tổ đình và tái thiết
ngôi Thiên Bửu Tháp, là dấu ấn của Tổ Huệ Đăng đã dày
công xây dựng; công trình được thành tựu viên mãn trở
thành thắng cảnh trang nghiêm, xứng đáng vị trí ngôi Tổ
đình lịch sử. Qua đó hàng năm đều mở khóa An cư kiết
Hạ để Tăng Ni tựu về tu học, đồng thời thành lập trường
Sơ cấp Phật Học để đào tạo Tăng Ni tài đức của Phật
giáo tại địa phương.
Từ
năm 1981 đến năm 1996, Ngài luôn luôn là bóng cây đại thụ
che mát Tăng Ni Phật tử, thường xuyên tham dự và Chứng minh
các Đại hội, các Lễ hội cũng như sinh hoạt Phật sự tại
các tỉnh, Thành hội Phật giáo trong cả nước, góp phần
xây dựng phát triển Giáo hội ngày càng trang nghiêm, vững
mạnh trong lòng dân tộc .
Với
công đức cao dày đã hiến dâng cho đạo pháp và dân tộc,
Ngài đã được Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tặng thưởng
các huân chương cao quý :
- Huân
chương Hồ Chí Minh.
-
Huân chương Độc Lập hạng Nhì.
-
Huân chương Kháng Chiến hạng Nhất.
-
Huy chương Vì Sự Nghiệp Đại Đoàn Kết Toàn Dân.
Năm
Bính Tý 1996, Ngài lâm bệnh hiểm nghèo, mặc dù cơn bệnh
hoành hành, nhưng Ngài vẫn sáng suốt và nhất niệm, nhớ
kỹ và nhớ rõ tất cả Phật sự, thường xuyên nhắn nhủ
chư tôn Giáo phẩm, Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử trong Giáo hội,
Thành hội Phật giáo và môn hạ hãy hòa hợp đoàn kết phát
huy truyền thống phụng đạo yêu nước của Phật giáo Việt
Nam, góp phần làm tốt đạo đẹp đời.
Sức
khỏe của Ngài càng lúc càng giảm dần như dầu hết, đèn
tắt. Ngài xả báo thân và an tường thị tịch vào lúc 9 giờ
sáng ngày 20 tháng 7 năm 1997 (nhằm ngày 16 tháng 6 năm Đinh
Sửu) tại chùa Xá Lợi, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Ngài
trụ thế 86 năm, Hạ lạp trải qua 66 mùa An cư kiết Hạ.
Hòa
thượng Thích Thiện Hào, là một hình ảnh biểu hiện trọn
vẹn sự gắn bó hài hòa giữa đạo pháp và dân tộc. Một
chuỗi đời hành đạo hy sinh, phục vụ vị tha vô ngã, một
nhân cách lớn của Tăng sĩ Việt Nam, đã thắp sáng truyền
thống yêu nước, trí dũng bất khuất của lịch sử Phật
giáo Việt Nam.