Hòa
thượng THÍCH TÂM MINH
1910
– 1997
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TÂM MINH
(1910
– 1997)
Hòa
thượng Thích Tâm Minh, pháp danh Tâm Minh, pháp hiệu Thông Đạt,
thế danh là Đặng Văn Tiến, sinh năm Canh Tuất-1910, tại thôn
Tiên Hội, xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Ngài
sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống nho học và
thuần tín Phật giáo, thân phụ là cụ Đặng Văn Năm, thân
mẫu là cụ Phan Thị Thanh. Ngài là con thứ hai trong gia đình.
Năm
Tân Dậu 1921, như đã có căn duyên với Tam bảo từ thuở
thiếu thời, nên đến năm 11 tuổi, Ngài được song thân cho
phép đến xuất gia cửa Phật, theo hầu Sư tổ Thích Thông
Tụng, trụ trì Tổ đình Liên Phái, phố Bạch Mai - Hà Nội.
Trải qua những năm đầu khai tâm học đạo, Ngài luôn siêng
năng chấp tác hành đạo, hiếu học kinh luật, nghi tắc thiền
môn.
Năm
17 tuổi (Đinh Mão – 1927), Ngài được Sư tổ truyền thụ
Sa di giới tại Tổ đình Liên Phái, tiếp tục trau dồi đức
hạnh để tiến tu đạo nghiệp.
Năm
20 tuổi (Canh Ngọ – 1930), Ngài được đăng đàn thụ giới
Cụ túc tại Tổ đình Liên Phái, do Sư tổ làm Đàn đầu
truyền trao giới pháp, Sư tổ ban cho Ngài pháp tự là Thông
Đạt, để chính thức bước vào hàng Tăng bảo.
Sau
khi đắc pháp, Ngài nỗ lực tu hành, thúc liễm thân tâm, trau
giồi giới đức. Nhận thấy Ngài có tư chất học Phật,
những mong phát túc siêu phương, nghiên tầm giáo điển, nên
Sư tổ đã cho Ngài đến tham học nơi chốn Tổ Bằng Sở,
một đạo tràng đào tạo Tăng tài danh tiếng lúc bấy giờ
do Hòa thượng Thích Trung Thứ giảng dạy. Ngài theo học nơi
đây trong nhiều năm liền.
Đến
năm Giáp Thân – 1944, sau 14 năm hầu cận bên Thầy, Ngài được
Sư tổ cùng chư Tăng trong Sơn môn cử về trụ trì chùa Ông
Đình, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Giai đoạn này; một
mặt Ngài lo hoằng dương Phật pháp, cùng với tín đồ trùng
tu lại ngôi chùa cho Tăng Ni, Phật tử tu học; một mặt vận
động Phật tử và nhân dân tham gia vào công cuộc kháng chiến
giành độc lập của Tổ quốc.
Cách
mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Ngài đã tham gia cuộc đấu
tranh bảo vệ chính quyền nhân dân vừa thành lập. Năm 1947,
Ngài được bầu vào Ban chấp hành Phật giáo Cứu quốc huyện
Khoái Châu và vận động cứu tế, quyên góp ủng hộ cho trung
đội Tăng Già cứu quốc của huyện.
Từ
năm này cho đến năm 1965, Ngài đã đóng góp công sức rất
nhiều cho đất nước qua các công tác đảm nhiệm: Ủy viên
Mặt trận Liên Xã (1949); Chủ tịch Mặt trận xã Ông Đình
(1953-1955); Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc huyện Khoái
Châu (1956), Đại biểu Hội đồng Nhân dân huyện (1962-1965);
xây dựng đội Phụ lão trồng cây gây rừng trong 9 năm, trở
thành lá cờ đầu của tỉnh Hưng Yên (1962), đúng như tinh
thần Phật giáo: “Phật pháp bất ly thế gian giác”.
Năm
Mậu Thân – 1968, khi tỉnh Hưng Yên và tỉnh Hải Dương hợp
nhất, Ngài được chư Tăng Ni suy cử giữ chức Hội phó Chi
hội Phật giáo Thống nhất tỉnh Hải Hưng; đồng thời suy
tôn Ngài đảm lãnh chức vị trụ trì chốn tòng lâm Côn Sơn.
Tại
chùa Đông Thuần, nơi trụ sở của Tỉnh hội Phật giáo ở
thị xã Hải Dương. Ngài đã vận động trùng tu Tam bảo,
tôn tạo chính điện, Tăng viện, trai đường trở nên khang
trang tráng lệ như ngày nay.
Năm
Bính Thìn – 1976, Ngài được đề bạt chức vụ Phó chủ
tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hải Hưng. Đồng thời,
Ngài được bầu vào Hội đồng Nhân dân thị xã Hải Dương
liên tiếp từ khóa 5 đến khóa 12.
Năm
Tân Dậu 1981, tại Đại hội Đại biểu thống nhất Phật
giáo Toàn quốc được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, Ngài
được cung thỉnh vào Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo
hội Phật giáo Việt Nam và giữ chức vụ Phó Ban Trị sự
Tỉnh hội Phật giáo Hải Hưng.
Là
một vị cao Tăng cống hiến trọn đời cho đạo pháp và dân
tộc, Ngài luôn giữ truyền thống sinh hoạt Phật giáo nghiêm
mật, hàng năm đều đặn tổ chức khóa Hạ an cư, trực tiếp
giảng dạy cho Tăng Ni hậu học và truyền trao giới pháp cho
hàng trăm giới tử được ân triêm pháp nhũ.
Là
một bậc tôn sư đã dày công dìu dắt hàng ngàn môn đồ
Phật tử và hàng trăm Tăng Ni, Cư sĩ; trong đó có nhiều vị
đã trưởng thành, noi theo gương sáng của Ngài, bền vững
đạo tâm, tinh nghiêm giới hạnh, hoằng dương chính pháp.
Thế
nhưng, tuổi càng cao, xác thân tứ đại đến lúc hoàn nguyên,
Ngài đã thu thần thị tịch vào lúc 13 giờ ngày mùng 8 tháng
Giêng năm Đinh Sửu (nhằm ngày 14 tháng 2 năm 1997), Hòa thượng
trụ thế 87 năm, với 50 tuổi đạo.