Hòa
thượng THÍCH HOÀN KHÔNG
1900
– 1997
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HOÀN KHÔNG
(1900
– 1997)
Hòa
thượng Thích Hoàn Không, thế danh Phạm Tùng Minh, sinh năm
Canh Tý 1900 tại quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền
Giang) trong một gia đình trung nông. Thân phụ Ngài là cụ ông
Phạm Văn Lê, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Nga. Ngài là
con út trong gia đình có 8 anh chị em, người anh thứ 3 của
Ngài xuất gia đầu Phật từ nhỏ.
Thiếu
thời, Ngài thường theo mẹ đến chùa lễ Phật, thăm anh.
Nhân duyên với Tam bảo buổi đầu chỉ có thế, nào ngờ
câu kinh tiếng kệ đượm thắm tâm thiền, hoa giác ngộ dần
dần kết nụ. Năm 20 tuổi (1919-Kỷ Mùi), rũ bỏ trần duyên,
Ngài vào chùa Sắc tứ Linh Thứu (Mỹ Tho) xin xuất gia với
Ngài Thiện Huệ – Giáo thọ chùa Sắc tứ.
Năm
Kỷ Tỵ 1929, Hòa thượng Khánh Hòa khởi xướng phong trào
chấn hưng Phật giáo ở miền Nam, đến năm 1930 (Canh Ngọ),
Hòa thượng kiêm trụ trì cả hai chùa Tuyên Linh (Mỏ Cày,
Bến Tre) và Sắc tứ Linh Thứu, đặt trụ sở cho tạp chí
Pháp Âm tại chùa Sắc tứ, và nơi đây cũng là trụ sở báo
Dân Cày của Tỉnh ủy Mỹ Tho. Không khí cách mạng, đấu
tranh giành độc lập hòa quyện với cao trào chấn hưng Phật
giáo đang bừng bừng khí thế, lôi cuốn tầng lớp thanh niên
nhiệt huyết nhập cuộc và Ngài cũng tham gia cách mạng, cơ
sở hoạt động đặt ngay tại chùa. Tháng 2 năm 1930, cơ sở
bị mật thám Pháp phát hiện bao vây chùa. Ngài phải bỏ trốn
sang Bến Tre.
Năm
Giáp Tuất 1934, Hòa thượng Khánh Hòa cùng chư vị tôn túc
thành lập Hội Lưỡng Xuyên Phật học tại Trà Vinh, Ngài
về đây nương chư Tổ để tu học. Được một thời gian,
chư tôn đức cử Ngài về trụ trì chùa Long Hội (Ấp Long
Thạnh, xã Huyền Hội, huyện Càng Long). Trong thời gian trụ
trì ở đây Ngài luôn âm thầm giúp đỡ cách mạng, tiếp
tế lương thực, thuốc men... lại bị địch phát hiện, Ngài
rời chùa, ra tham gia kháng chiến và được bầu làm Chủ tịch
Liên xã Tân An – Huyền Hội, huyện Càng Long.
Sau
hiệp định Genève (1954), Ngài trở về xã Tân An, làm công
tác từ thiện, giúp đỡ đồng bào nghèo sau chiến tranh, và
trở lại cửa thiền như bản nguyện ban đầu.
Đầu
năm Quý Mão 1963, Ngài được Hòa thượng trụ trì chùa Phước
Thanh (xã Mỹ Hòa, huyện Cầu Ngang - Trà Vinh) mời về trợ
giúp Phật sự và Ngài An cư kiết Hạ tại đây. Cuối năm
1963, Ngài được Phật tử thỉnh về trụ trì chùa Phật Bửu,
xã Huyền Hội, huyện Càng Long.
Năm
Đinh Mùi 1967, chùa Phật Bửu bị chiến tranh thiêu rụi, Ngài
được Giáo hội mời về chùa Phước Hòa, thị xã Trà Vinh
để cùng quý tôn túc điều hành Phật học viện Phước Hòa.
Năm
Nhâm Tý 1972, Ngài được chư Sơn thiền đức cung thỉnh làm
Thiền chủ trường Hạ chùa Phước Thanh. Sau khóa Hạ này,
Ngài được cung thỉnh ở lại nhận chức trụ trì chùa Phước
Thanh.
Năm
Quý Sửu 1973, uy tín và đức độ ngày một tăng cao, Ngài
được cung thỉnh làm Thiền chủ khóa An cư kiết Hạ tại
chùa Phật Tâm (xã Phước Hảo).
Năm
Giáp Dần 1974, Ngài lại được cung thỉnh làm Thiền chủ
trường Hạ chùa Phổ Quang (xã Long Thới).
Đầu
năm Ất mão 1975, Ngài được Hòa thượng Thích Hoàn Thông,
Chánh đại diện Phật giáo tỉnh Vĩnh Bình mời về trụ trì
chùa Long Khánh, trụ sở của Tỉnh hội Phật giáo tại thị
xã Trà Vinh. Và cũng trong năm này, Ngài được Viện Hóa Đạo
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất suy cử làm Chánh
đại diện Phật giáo tỉnh Vĩnh Bình thay cho Hòa thượng Hoàn
Thông bị bệnh duyên.
Năm
Bính Thìn 1976, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tổ
chức Đại hội Phật giáo nhiệm kỳ 7. Ngài được mời dự
Đại biểu chính thức đơn vị Trà Vinh. Do đường xá trắc
trở, và muốn thể hiện tấm lòng vì đạo pháp của mình,
Ngài đã thực hiện chuyến đi về dự Đại hội bằng xe
đạp với cả ý chí ở độ tuổi 76, và Ngài đã đến đích
đúng ngày khai mạc Đại hội tại chùa Ấn Quang, quận 10,
Tp. Hồ Chí Minh.
Năm
Tân Dậu 1981, Phật giáo ba miền đất nước được thống
nhất, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời. Ngài được suy
cử làm Thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội
Phật giáo Việt Nam nhiệm kỳ I. Sau đó, Ban Trị sự Phật
giáo tỉnh Trà Vinh được thành lập, Ngài được cung thỉnh
Chứng minh Ban Trị sự Tỉnh hội cho đến ngày viên tịch.
Năm
Canh Ngọ 1990, tuổi cao sức kém và thường hay đau bệnh, Ngài
được đệ tử là Thượng tọa Thích Lệ Sỹ, trụ trì chùa
Phước Thanh cung thỉnh Ngài về chùa để phụng dưỡng.
Ngày
mùng 6 tháng 2 năm Đinh Sửu, nhằm ngày 14 tháng 3 năm 1997,
vào lúc 15 giờ 30 phút, Ngài an nhiên thị tịch tại chùa Phước
Thanh, trụ thế 98 tuổi đời, với gần nửa thế kỷ dành
cho đạo pháp.
Một
đời đem hết tâm lực vừa phụng sự đạo pháp – vừa
cống hiến cho đất nước dân tộc. Ngài là tấm gương phương
tiện thể nhập tự tại, để cho Tăng bảo được trùng hưng
trong từng giai đoạn lịch sử dân tộc.