Thượng
tọa THÍCH MINH PHÁT
1956
– 1996
THƯỢNG
TỌA
THÍCH
MINH PHÁT
(1956
– 1996)
Thượng
tọa Thích Minh Phát, pháp danh Nguyên Đức, thế danh Lê Nhựt
Nguyên, sinh ngày 20 tháng 06 năm Bính Thân 1956 tại Chợ Lớn
(nay là quận 10, thành phố Hồ Chí Minh), thân phụ là cụ
ông Lê Thành An, mẫu thân là cụ bà Trương Thị Ba, song thân
đều đã từ trần. Thượng tọa là người thứ tư trong gia
đình, có bảy anh chị em.
Được
sinh ra trong một gia đình nhân hậu, nhiều đời kính tin Tam
bảo và sẵn túc duyên, nên khi vừa biết ăn uống là Thượng
tọa đã ăn chay; lại gia đình may mắn ở gần chùa nên Thượng
tọa thường theo mẹ sang chùa lạy Phật. Nhờ đó mà hạt
giống Bồ đề ngày càng phát triển.
Năm
Giáp Thìn 1964, Thượng tọa được song thân cho xuất gia học
đạo với Hòa thượng Thích Thiện Hòa, Viện chủ Tổ đình
Ấn Quang – Giám đốc Phật học đường Nam Việt. Kể từ
đó, hôm sớm kệ kinh siêng năng hành đạo, Thượng tọa cùng
sư huynh Minh Thành giữ chức thị giả hầu cận Hòa thượng
Bổn sư; Nhờ gần gũi chư vị cao Tăng tôn đức nên chủng
trí vô sư nhiều đời huân tập nhân đây mà tăng trưởng.
Năm
Tân Hợi 1971, Thượng tọa được thọ giới Sa di lúc 15 tuổi
với Hòa thượng Thích Trí Thủ tại giới đàn ở Tu viện
Quảng Đức (Thủ Đức).
Năm
Ất Mão 1975, với hạnh nguyện sâu dầy, oai nghi đĩnh đạc,
đáng làm pháp khí Đại thừa, Thượng tọa được Hòa thượng
Bổn sư cho thọ giới Tỳ kheo và Bồ tát tại giới đàn chùa
Pháp Giới (Cầu Tre – Tân Bình) do Hòa thượng Thích Hành
Trụ làm Đường đầu Hòa thượng.
Năm
Bính Thìn 1976, khi Hội đồng Quản trị Tổ đình Ấn Quang
và các cơ sở trực thuộc được thành lập, Thượng tọa
được cử giữ chức phó Tổng quản sự, kiêm chức tri khố
Tổ đình Ấn Quang, chăm lo công việc ăn ở cho đại chúng
một cách chu toàn.
Năm
Đinh Tỵ 1977 , vâng lệnh Hòa thượng Bổn sư và theo sự tha
thiết thỉnh cầu của Phật tử chùa Viên Giác, Thượng tọa
kiêm nhận chức trụ trì chùa Viên Giác, quận Tân Bình; đây
cũng là nơi thế độ chúng đệ tử Ưu Bà Tắc xuất gia của
Thượng tọa.
Năm
Mậu Ngọ 1978, sau khi Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Thượng
tọa được cử làm chức Phó giám đốc Đại Tòng Lâm Phật
giáo ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Cùng năm này, Thượng tọa
xây dựng chùa Viên Dung ở xã Linh Đông, huyện Thủ Đức
trên phần đất do Phật tử Diệu Hạnh dâng cúng, là nơi
tiếp nhận chúng đệ tử Ưu Bà Di xuất gia.
Năm
Nhâm Thân 1992, theo lời thỉnh cầu của Hòa thượng Phước
Quang – trụ trì chùa Phụng Sơn. Thành hội Phật giáo thành
phố Hồ Chí Minh bổ nhiệm Thượng tọa kiêm nhiệm trụ trì
chùa Phụng Sơn (chùa Gò) ở quận 11, thành phố Hồ Chí Minh.
Năm
Quý Dậu 1993, sau Đại hội Phật giáo toàn quốc kỳ III, rồi
Đại hội Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh lần
thứ IV, Thượng tọa được mời làm Ủy viên Ban Từ thiện
Xã hội Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ủy viên
Tiểu ban Từ thiện Xã hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh
và Ủy viên Ban Từ thiện Xã hội Phật giáo quận 10.
Năm
Quý Dậu 1993, Hòa thượng Minh Hạnh, Tổng quản sự Tổ đình
Ấn Quang viên tịch. Là một trong bốn vị lãnh đạo của
Tổ đình Ấn Quang, Thượng tọa đã đảm nhận chức phó
Ban quản trị kiêm trị sự, điều hành mọi sinh hoạt của
Tổ đình.
Bằng
giới đức trang nghiêm thanh tịnh, bậc mô phạm chốn tòng
lâm, nơi quy hướng cho Tăng Ni, Phật tử, trong những thập
niên 1975 – 1995, Thượng tọa đã từng đảm nhận các chức
vụ Phó ban Kiến Đàn, Dẫn Thỉnh sư trong các Đại giới
đàn để truyền trao giới pháp cho các giới tử. Qua đó từng
hàng lớp giới tử đạo thể trang nghiêm trở thành người
hữu ích cho đạo pháp và cho xã hội.
Trong
sự nghiệp kế thừa đạo mạch, tiếp dẫn hậu lai báo Phật
ân đức, Thượng tọa đã thế độ cho hơn một trăm Tăng
Ni xuất gia tu học và hàng ngàn Phật tử quy y Tam bảo, thực
hiện hạnh nguyện lợi tha, tu tâm hành thiện, đẹp đạo
tốt đời. Ngoài trọng trách vận động tài chánh, ẩm thực
cho trường Cơ bản Phật học Đại Tòng Lâm, Ni viện Thiện
Hòa, Thượng tọa còn nỗ lực yểm trợ cho các trường Cơ
bản Phật học các tỉnh, thành tại một số đại phương,
góp phần đào tạo Tăng Ni tài đức cho Giáo hội và cho các
Tỉnh hội, Thành hội Phật giáo trong cả nước.
Bằng
công đức trang nghiêm Tam bảo là trang nghiêm tịnh độ của
chư Phật, Thượng tọa đã kế thừa sự nghiệp của Hòa
thượng Bổn sư, nỗ lực vận động tài chánh trùng tu Tổ
đình Ấn Quang (quận 10), chùa Long Triều (Bình Chánh), kiến
thiết Đại Tòng Lâm Phật giáo (Bà Rịa-Vũng Tàu), chùa Huệ
Nghiêm (Phú Lâm), chùa Dược Sư (Bình Thạnh), chùa Viên Giác
(Tân Bình), chùa Phụng Sơn (quận 11) và chùa Khánh Đức (Sông
Bé), làm trang nghiêm đạo tràng xứng đáng là cơ sở sinh
hoạt tín ngưỡng của nhân dân và Phật tử. Ngoài ra Thượng
tọa còn ủng hộ công tác trùng tu, xây dựng một số lớn
cơ sở tự viện tại các tỉnh, thành trên địa bàn cả nước.
Nêu
cao tinh thần vô ngã vị tha, từ bi cứu khổ của đạo Phật,
Thượng tọa đã thể hiện tinh thần ưu thời mẫn thế, hạnh
nguyện từ bi vô hạn, qua các mặt công tác từ thiện xã
hội trên khắp mọi miền đất nước; nơi nào có thiên tai,
lũ lụt, hỏa hoạn, bệnh tật, đói khát là nơi đó có hình
ảnh và tài vật cứu trợ của Thượng tọa. Có thể nói
Ngài là biểu hiện của tình thương, là sự vui sống của
người đau khổ, trong ý nghĩ và hạnh nguyện của một vị
Bồ tát hiện thân.
Qua
phúc đức trang nghiêm, túc duyên thù thắng, hạnh nguyện kỳ
diệu, năng lực phi thường, Thượng tọa còn là Y chỉ sư
của số đông Ni giới trị ngộ. Ngôn từ thanh nhã, cử chỉ
nhẹ nhàng, tâm hồn thuần hậu, Thượng tọa đã làm tất
cả người diện kiến đều được an lạc, thỏa mãn mong
cầu và phước lành thêm lớn từ diệu lực thù thắng bất
khả tư nghì của Phật đạo.
Ngoài
ra, Thượng tọa còn dành một số thời gian để biên soạn
những tác phẩm, gồm có :
- Đời
sống Đức Điều Ngự.
-
Xuân Vô Năng Thắng.
-
Giai thoại nhà Thiền.
-
Các Nghi thức tụng niệm và chúc tán.
-
Khoa cúng Tổ Kiều Đàm Di Mẫu.
-
Tu chỉnh Giới Đàn Ni.
-
Các tập thi phú v.v...
Với
tinh thần hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần sanh, hơn
nửa cuộc đời phụng sự đạo pháp và nhân sinh. Thượng
tọa đã được Giáo hội, Thành hội Phật giáo, Ủy ban Nhân
dân, Mặt trận Tổ quốc thành phố và quận 10 tặng bằng
Tuyên dương công đức, các bằng khen và giấy khen.
Từ
cuối năm Giáp Tuất 1994, sức khỏe Thượng tọa kém dần
theo chứng bệnh nan y, nhưng Người vẫn tỉnh giác chánh niệm
an nhiên tự tại, sinh hoạt bình thường với ý niệm sinh
tử nhàn nhi dĩ.
Sau
một cơn bệnh tái phát, Thượng tọa đã xả báo an tường,
thu thần thị tịch vào lúc 6 giờ 49 phút ngày 21 tháng 3 năm
Bính Tý (nhằm ngày 8 tháng 5 năm 1996), trụ thế 41 năm, Hạ
lạp trải qua 21 mùa An cư kiết Hạ.
Thượng
tọa đã quảy gót về Tây vĩnh viễn, bỏ lại các pháp hữu
vi giả tạm, trên đường phụng sự nhân sanh còn nhiều hạnh
nguyện chưa tròn. Công đức của người đã cống hiến cho
đạo pháp và nhân sinh sẽ còn được lưu mãi trong tâm tư
những người con Phật và trong pháp giới viên dung vô ngại,
qua những kiếp lai sinh cho đến khi chứng quả Bồ đề.