Hòa
thượng THÍCH KẾ CHÂU
1922
– 1996
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
KẾ CHÂU
(1922
– 1996)
Hòa
thượng Thích Kế Châu, pháp danh Không Tín, pháp tự Giải
Thâm. Ngài họ Nguyễn, sinh năm Nhâm Tuất 1922 tại thôn Nhạn
Tháp, xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, trong một
gia đình nho phong y học và thấm nhuần Phật giáo. Song thân
Ngài là Phật tử thuần thành. Anh cả Ngài là Thiền sư Trí
Diệu, học hạnh kiêm toàn, trụ trì và tịch tại chùa Phước
Long, Tây Sơn, Bình Định.
Ngài
tư chất thông minh, nội ngoại điển đều thông suốt, thế
học; y học và võ thuật cũng đều thông suốt. Ngài sớm
hiểu được lý đạo qua kinh điển, nhận chân được lẽ
vô thường của cuộc đời, và phát ý chí xuất trần vững
mạnh. Năm 14 tuổi (1936), được phép song đường, Ngài xin
thế phát xuất gia với Quốc sư Phước Huệ tại Tổ đình
Thập Tháp Di Đà, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, được Quốc
sư ban pháp danh là Không Tín.
Kể
từ đó, Ngài chăm lo học tập thiền môn, dốc chí tu trì
Phật pháp. Vốn sẵn tính thông minh hiếm có học một hiểu
mười, nên khi nghe Quốc sư lên lớp giảng dạy những bộ
kinh Đại thừa, có đoạn Ngài đọc thuộc lòng không cần
nhìn sách. Ngài còn trau giồi thêm Hán học : Tứ thư; Ngũ
kinh; Thi văn; điển cố; thảy đều làu thông, và còn viết
thạo cả bốn thư pháp: chân; thảo; lệ; triện, có thể sánh
vai với các nhà bút thiếp lừng danh của Trung Quốc xưa nay.
Năm
Nhâm Ngọ 1942, Ngài được phép đăng đàn thọ Đại giới
tại giới đàn chùa Hưng Khánh do Hòa thượng Chí Bảo làm
Đường đầu truyền giới. Ở giới đàn này, Ngài là Vĩ
Sa di.
Năm
Quý Mùi 1943, sau khi thọ giới, Ngài được Hòa thượng Bổn
sư là Quốc sư Phước Huệ truyền pháp phái Sơn môn, Ngài
đắc pháp với pháp tự Giải Thâm, hiệu là Kế Châu.
Năm
Đinh Hợi 1947, với khả năng xuất chúng, Ngài được mời
vào Giáo sư đoàn của Phật học đường Phật giáo Cứu quốc
tỉnh Bình Định.
Năm
Canh Dần 1950, Ngài được cung thỉnh trụ trì chùa Bảo Sơn,
xã Mỹ Thành, huyện Phù Mỹ. Tại đây, Ngài kiết thất tu
hành, hóa độ đông đảo quần chúng, và vận động tái thiết
ngôi chùa trở nên trang nghiêm tú lệ hơn xưa.
Năm
Mậu Tuất 1958, Ngài được chư tôn đức cử làm Giám đốc
Phật học đường thuộc Giáo hội Tăng Già Bình Định. Cảm
mến tài đức của Ngài, Hòa thượng Quy Thiện đã tặng Ngài
bài thơ nhân lễ nhậm chức Giám đốc Phật học viện, trong
đó có câu:
Bảo
khí kết thành sơn thượng ngọc
Kim
luân tự hữu kế trung châu
Cùng
thời gian này, Ngài khai sơn chùa Bảo Châu, xã Mỹ Thọ, huyện
Phù Mỹ, sau đó Ngài giao lại cho đệ tử trụ trì.
Năm
Quý Mão 1963, Ngài tham gia phong trào chống chính sách kỳ thị
tôn giáo, đàn áp Phật giáo của chế độ Ngô Đình Diệm
và được mời vào Ban lãnh đạo Phật giáo Bình Định.
Năm
Ất Tỵ 1965, khi Hòa thượng Thích Huê Chiếu, trụ trì Tổ
đình Thập Tháp – pháp huynh của Ngài viên tịch, chư tôn
đức trong Sơn môn đã suy cử Ngài kế thừa trụ trì Tổ
đình. Từ đấy, Ngài bắt đầu ra sức chỉnh trang mọi mặt,
đưa Tổ đình trở thành một chốn thiền môn sinh hoạt có
quy củ nghiêm tịnh.
Cùng
trong năm này, Ngài được Tăng Ni, Phật tử tín nhiệm suy
cử làm Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống
nhất tỉnh Bình Định. Và từ đây đến cuối đời, Ngài
là vị lãnh đạo đứng đầu của Phật giáo Bình Định,
hướng dẫn Tăng Ni, Phật tử tỉnh nhà chuyên tâm tu học.
Năm
Đinh Mùi 1967, Tổ đình Thập Tháp Di Đà dưới sự hướng
dẫn của Ngài mỗi lúc càng thêm khởi sắc. Vì thế Ngài
bắt tay xây dựng lại khu Đông đường làm nơi tiếp khách
thập phương về chiêm bái Tổ đình và làm nơi giảng dạy
cho Tăng chúng khắp nơi quy tụ về học tập.
Năm
Mậu Thân 1968, để kế vãng khai lai, tục Phật huệ mạng,
Ngài tổ chức khai Đại giới đàn tại chùa Long Khánh, thành
phố Qui Nhơn. Ngài làm Chánh chủ đàn trong giới đàn này.
Năm
Kỷ Dậu 1969, Ngài đứng ra trùng tu khu vườn tháp Tổ, theo
thời gian và do chiến tranh đã dần bị hư hoại. Sau đó,
Ngài cho xây dựng tường rào bao bọc toàn bộ khuôn viên Tổ
đình cho thêm phần khang trang nghiêm tịnh.
Năm
Canh Tuất 1970, Ngài thành lập Phật học viện Phước Huệ
chuyên khoa Trung đẳng Phật học tại Tổ đình Thập Tháp,
do Ngài làm Giám viện. Tăng chúng các nơi trong và ngoài tỉnh
tựu về tu học hơn 100 vị. Ban Giáo thọ gồm chư vị : Hòa
thượng Giác Tánh, Tâm Hoàn, Giác Ngộ, Bửu Quang; chư Thượng
tọa : Đồng Từ; Tâm Hiện. Trường hoạt động cho đến
năm 1975 thì giải tán.
Năm
Nhâm Tuất 1982, sau khi Phật giáo cả nước thống nhất về
một mối, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ngài được
toàn thể Tăng Ni, Phật tử suy cử vào chức Trưởng ban Trị
sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Nghĩa Bình.
Năm
Đinh Mão 1987, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc
lần thứ II, Ngài được Đại hội suy cử làm Ủy viên Hội
đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Năm
Kỷ Tỵ 1989, nhằm tục Phật huệ đăng, truyền trì chánh
pháp. Ngài cùng chư tôn đức tỉnh nhà tổ chức Đại giới
đàn Nguyên Thiều tại chùa Long Khánh, Qui Nhơn. Ngài được
cung thỉnh làm Đàn chủ giới đàn này.
Năm
Giáp Tuất 1994, Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng
trong Đại giới đàn Phước Huệ, tổ chức tại chùa Long
Khánh, Qui Nhơn.
Năm
Ất Hợi 1995, Ngài mở cuộc đại trùng tu Tổ đình Thập
Tháp. Công việc đang tiến hành dở dang thì Ngài sau một cơn
bệnh nhẹ, đã thu thần viên tịch vào ngày mùng 5 tháng Chạp
năm Ất Hợi, nhằm ngày 24 tháng 1 năm 1996, trụ thế 75 năm,
với 55 Hạ lạp. Trước khi viên tịch, Ngài có chấp bút đề
một bài kệ phú pháp để lại cho môn đồ đệ tử như sau
:
Pháp
tánh bổn lai tịch
Diệu
dụng thỉ kiến công
Ngã
kim phú pháp nhữ
Pháp
pháp tự tánh trung.
Trong
suốt quảng đời hành đạo, Ngài đã có công khai sơn những
ngôi chùa : Thừa Ân ở Pleiku, Viên Thông ở Tây Sơn-Bình Định;
Bảo Hoa ở An Nhơn-Bình Định; Bảo Lâm, Bảo Quang, Bảo Giác
ở Long Khánh-Đồng Nai.
Ngoài
việc hoằng dương Phật pháp, đào tạo Tăng tài. Ngài còn
là một thi nhân, một văn sĩ được nhiều người mến mộ.
Thi pháp, liễn đối của Ngài hiện diện khắp nơi tại các
tự viện trong và ngoài tỉnh. Các văn nhân, thi sĩ nổi danh
đều tìm đến luận bàn văn chương thi phú với Ngài.
Ngài
còn để lại cho cuộc những tác phẩm :
- Bách
Thành Yên Thủy của Phật Quốc Thiền sư (dịch và tác thơ)
-
Thập Mục Ngưu Đồ Tụng (dịch và tác thơ)
-
Long Bích thi tập I và II
-
Kim Cang Nghĩa Mạch (dịch)
-
Kim Cang Trực Sớ (dịch)
-
Di Đà Giảng Thoại (dịch)