Hòa
thượng THÍCH DIỆU QUANG
1917
– 1996
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
DIỆU QUANG
(1917
– 1996)
Hòa
thượng Thích Diệu Quang, pháp danh Tâm Chuẩn, pháp tự Thiện
Pháp, thế danh Huỳnh Phê, sinh năm 1917 tại thôn Vạn Lộc,
xã Hòa Mỹ huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Thân sinh của Ngài
là cụ ông Huỳnh Lương Phương, pháp danh Thị Ninh và cụ
bà Lê Thị Đậu, pháp danh Tâm Cơ. Ngài là người con thứ
7 trong gia đình.
Xuất
thân trong một gia đình trung lưu Nho giáo và thâm tín Tam bảo.
Ngay từ thuở nhỏ, Ngài đã tỏ ra thông minh hiếu học, chí
khí hơn người. Khi lớn lên, Ngài càng uyên thâm nho học,
ham thích văn chương, thi phú và tâm tính thuần hậu.
Năm
12 tuổi, thân phụ Ngài chẳng may bị bệnh nặng qua đời.
Trước cảnh sinh ly, tử biệt, cốt nhục chia lìa, Ngài đau
buồn khổ não và nhận thức rõ hơn cuộc sống tụ tán vô
thường, khổ đau không dứt.
Mãn
tang cha, Ngài được mẹ đưa đến Hòa thượng Vạn Ân, Tổ
đình Khánh Long để học chữ Hán và kinh điển giáo lý Phật
đà. Bẩm tính của Ngài vốn hiền lành, đức độ nên Hòa
thượng Vạn Ân hết sức mến thương, dốc tâm dạy dỗ cho
Ngài nên người hữu dụng.
Năm
14 tuổi (1931), trải qua những năm tháng gần gũi tôn sư, cơ
duyên đến với Phật pháp ngày càng chín muồi, Ngài quyết
tâm xin phép mẫu thân xuất gia đầu Phật. Buổi ban đầu
khai tâm nhập đạo, Ngài thọ giới quy y Hòa thượng Vạn
Ân, với pháp danh Tâm Chuẩn.
Đến
năm 19 tuổi (1936), Ngài được Hòa thượng Bổn sư truyền
giới Sa di và đặt pháp tự là Thiện Pháp. Nhờ kiên tâm
khổ hạnh, tu trì Giới Định Tuệ. Chẳng bao lâu, Ngài được
Bổn sư cho phép thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa Thiên
Đức, tỉnh Bình Định do Hòa thượng Huệ Chiếu làm Đường
đầu truyền giới. Từ đây, Ngài nhận pháp hiệu là Diệu
Quang. Năm ấy, Ngài 27 tuổi (1944).
Sau
khi đắc pháp, Ngài lại càng nỗ lực tấn tu tinh nghiêm giới
luật, khiến cho Bổn sư càng tin yêu, bạn bè thêm mến mộ.
Ngoài ra, Ngài còn tham học kinh, luận với các Hòa thượng
danh tiếng đương thời và được Hòa thượng Bổn sư truyền
thừa pháp môn Du Già tâm ấn để làm phương tiện trong việc
hoằng hóa độ sanh.
Năm
28 tuổi (1945), Ngài tạm đủ khả năng “trụ Pháp Vương
gia, trì Như Lai tạng” nên được kế thừa trụ trì Tổ
đình Khánh Long do Bổn sư Vạn Ân giao phó để hoằng pháp
độ sanh.
Từ
năm 1945 trở đi, Ngài chăm lo Phật sự, công tác từ thiện
xã hội, đóng góp phong trào chấn hưng Phật giáo, làm Thư
ký Hội Phật giáo Cứu quốc, hoằng dương chánh pháp, tiếp
Tăng độ chúng. Nhờ đức độ cảm hóa nên Tăng chúng, thiện
nam tín nữ quy tụ tu học ngày càng nhiều.
Trong
những năm pháp nạn 1963, Ngài tích cực tham gia phong trào bảo
vệ Phật giáo, chống lại chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.
Năm
1964, do chiến tranh ngày càng khốc liệt, Ngài rời Tổ đình
Khánh Long về trụ trì chùa Bảo Tịnh, thị xã Tuy Hòa, Phú
Yên.
Năm
1965, Ngài được Giáo hội suy cử trụ trì chùa Ân Quang, thị
trấn Phú Lâm, Hòa Thành, Phú Yên. Cũng trong thời gian này,
Ngài kiêm nhiệm chức vụ Chánh đại diện Phật giáo quận
Hiếu Xương (huyện Tuy Hòa ngày nay).
Năm
1967, Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài nối tiếp thiền
phái Liễu Quán, dòng Lâm Tế đời thứ 43 tiếp tục kế vãng
khai lai, truyền thừa Tổ ấn.
Năm
1973, Ngài kiêm nhiệm trụ trì thêm cảnh chùa Hồ Sơn tại
thị xã Tuy Hòa.
Năm
1975, đất nước hòa bình độc lập, Ngài quyết định trở
về trùng tu Tổ đình Hương Tích và trụ trì cho đến ngày
viên tịch.
Sức
khỏe theo tuổi tác suy yếu dần, nhưng việc Phật sự Ngài
không xao lảng. Ngài được Tỉnh hội Phật giáo Phú Yên cung
thỉnh vào hàng Chứng minh Ban Trị sự Tỉnh hội.
Ngày
18 tháng 8 năm Bính Tý 928-10-1996) vào lúc 5 giờ sáng, nhân
căn bệnh nhẹ, Ngài đã an nhiên thị tịch, trụ thế 80 năm.
Hạ lạp 55 tuổi đạo.
Suốt
cuộc đời hành đạo, Ngài là một tấm gương sáng, một
bậc Giáo phẩm tôn kính đã khai dẫn dòng thiền Lâm Tế Phật
giáo Trung phần và Phật giáo Việt Nam chảy mãi không ngừng.
Trên đường hoằng hóa chánh pháp, Ngài còn xây dựng, trùng
tu 8 ngôi chùa : Long Thạnh, Bửu Ân, Cảnh Thái, Ân Quang, An
Sơn, Đông Quang, Thanh Hương và Hương Tích. Chính nơi Tổ đình
Hương Tích là nơi dừng chân an nghỉ cuối cùng của Ngài.
Công
đức và hạnh quả của Ngài thật xứng đáng để Tăng Ni,
Phật tử học tập và ghi thêm một nét son đậm trên trang
sử Phật giáo Việt Nam.