Hòa
thượng THÍCH BỬU Ý
1917
– 1996
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
BỬU Ý
(1917
– 1996)
Hòa
thượng Thích Bửu Ý, pháp húy Hồng Đạo, pháp tự Thiện
Đắc, thuộc thiền phái Lâm Tế Gia Phổ, đời thứ 40. Ngài
thế danh là Nguyễn Văn Đạt, sinh ngày 03 tháng 3 năm 1917 (nhằm
ngày mồng 8 tháng Giêng năm Đinh Tỵ) tại xã Mỹ Hạnh, huyện
Đức Hòa, tỉnh Chợ Lớn – nay là tỉnh Long An, thân phụ
là cụ Nguyễn Văn Tây, thân mẫu là cụ Đỗ Thị Khéo. Ngài
là người con thứ 3 trong gia đình có 9 anh chị em, 5 trai, 4
gái.
Ngài
sinh trưởng trong một gia đình trung nông, giàu lòng sùng kính
Tam bảo. Trong thân tộc có người cậu ruột xuất gia hành
đạo tại chùa Linh Bửu, xã Mỹ Hạnh quê nhà, nên thuở nhỏ
Ngài thường theo thân mẫu lên chùa lễ Phật tụng kinh, gieo
nhân tích phước sau này.
Vốn
là người thông minh hiếu học, lại có chí hướng thượng,
nên năm 7 tuổi (1924), Ngài theo học tại trường Tiểu học
Đức Hòa, Chợ Lớn, liên tục đến năm 1934, Ngài đã tốt
nghiệp bằng Certificat d’Étude Primaire Indigène. Ngưỡng cửa
thế gian đang rộng mở để cho Ngài bước lên danh vọng và
sự nghiệp như bao lứa tuổi đương thời, nhưng Ngài đã
dừng lại và chọn lựa lý tưởng giải thoát khi nhìn thấy
cảnh áp bức, lầm than do giặc Pháp gây ra tại quê hương
Ngài – vốn là căn cứ khởi nghĩa Tràm Lạc do ông Nguyễn
Văn Hóa đề xướng ngày 17.12.1883 trước đây – lại càng
thúc đẩy tâm nguyện của Ngài đến gần với Phật pháp
hơn nữa.
Năm
1934, khi được 17 tuổi thì hạt giống Bồ đề đã đến
kỳ đâm chồi nảy lộc, Ngài xin phép song thân, xuất gia đầu
Phật tại chùa Long Thạnh, xã Tân Tạo, Trung Huyện, tỉnh
Chợ Lớn; (nay là huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh).
Buổi ban đầu khai tâm học đạo, Ngài được Tổ Quảng Chơn,
trụ trì chùa thu nhận làm đệ tử và đặt pháp danh là Thiện
Đắc và cho thọ giới Sa di tu học, hành đạo tại chùa. Với
tư chất thông minh đĩnh ngộ, tánh nết khiêm cung hòa nhã,
Ngài đặc biệt được Tổ ân cần chỉ dạy, chẳng bao lâu
đã làu thông Nho học, nắm vững giáo lý Phật đà và được
cử làm Giám chúng, để hướng dẫn lại Tăng chúng trong chùa.
Nhận
thấy Ngài có Tăng phong-Pháp khí Đại thừa có thể xiển
dương Phật pháp sau này, Tổ Quảng Chơn đã gởi Ngài xuống
chùa Phước Long ở Nha Mân - Sa Đéc tham học một thời gian
với Tổ Bửu Sơn – một vị đệ tử xuất sắc của Tổ
Minh Hòa - Hoan Hỷ đời thứ 38 thuộc Tổ đình Long Thạnh.
Khi
đến chùa Phước Long tu học, Ngài lại càng tỏ rõ tài đức
song toàn, giới hạnh trang nghiêm, nên rất được Thầy yêu
bạn mến. Sau khi được sự chấp thuận của Tổ Quảng Chơn,
Ngài xin y chỉ cầu pháp nơi Tổ Bửu Sơn và được thọ ký
pháp hiệu là Bửu Ý, húy Hồng Đạo.
Từ
đây, Ngài chuyên cần tấn tu tuệ nghiệp đến ngày 19 tháng
2 năm Kỷ Mão (1939), Ngài được đăng đàn thọ giới Tỳ
kheo tại chùa Phước Long, huyện Trảng Bàng, Tây Ninh. Sau đó,
Ngài tiếp tục tham học với các bậc cao Tăng thiền đức
khắp nơi như Tổ Từ Phong, Bửu Sơn, Vạn An, Hồng Hưng...
và bắt đầu sự nghiệp hoằng hóa lợi sanh.
Trong
thời gian này, khắp nơi nổi lên các phong trào kháng chiến
chống Pháp. Tổ Quảng Chơn cũng là một Thiền sư yêu nước
trong phong trào Thiên Địa Hội, bị Pháp bắt tra tấn tù đày
nên mang nhiều bệnh duyên. Do đó cuối năm 1940, Ngài phải
về chùa Long Thạnh để thay Bổn sư đảm nhận công việc
sinh hoạt tại chùa.
Năm
1943, Tổ Quảng Chơn thấy sức khỏe yếu dần, nên đã phó
chúc lại cho Ngài trụ trì chùa Long Thạnh tiếp tục xướng
minh đạo pháp, tiếp dẫn hậu lai, Tổ viên tịch vào ngày
mồng 6 tháng 8 năm Quý Mùi.
Năm
1944, sau khi đảm nhận chức vụ trụ trì và kế thừa truyền
thống “phụng sự đạo pháp – dân tộc” của chư Tổ
căn dặn, Ngài đã mở trường Phật học tại Tổ đình Long
Thạnh, để truyền dạy Phật pháp cho Tăng Ni. Trải qua 6 khóa
học, trên 300 Tăng Ni thành tài tại đây, nhiều vị trở thành
lãnh đạo Phật giáo sau này.
Tháng
8 năm 1945, Ngài tham gia Ủy viên Mặt trận Việt Minh xã Tân
Tạo, huy động Tăng Ni, Phật tử cùng chư Hòa thượng ở
vùng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định với danh nghĩa Việt Nam Phật
giáo Tổng hội, tổ chức biểu tình ngày 25.8.1945 để giành
chính quyền về tay nhân dân. Ngoài ra, Ngài đã dùng chùa Long
Thạnh làm cơ sở hậu cần cho cách mạng, cuối cùng bị giặc
phát hiện phá nát cảnh chùa, chúng bắt Ngài tra tấn, giam
cầm; nhưng Ngài kiên quyết không khai báo, chúng phải thả
về.
Năm
1947, Hội Phật giáo Cứu quốc Nam bộ được thành lập, Ngài
được cử làm Ủy viên Ban chấp hành phụ trách Tăng Ni thiện
tín Sài Gòn-Chợ Lớn, trụ sở Hội Phật giáo Cứu quốc
Nam bộ đóng tại chùa Thiên Kim, Tháp Mười.
Năm
1949, theo xu hướng chuyển hoạt động Phật giáo vào thành
thị, Ban chấp hành Phật giáo Cứu quốc tự giải tán, Ngài
lại trở thành Ủy viên Ban chấp hành sáng lập Giáo hội
Lục Hòa Tăng Việt Nam và hoạt động đến năm 1954.
Năm
1954, hòa bình lập lại, Ngài khôi phục Tổ đình Long Thạnh
và trùng tu Tăng đường để thuyết giảng Phật pháp làm
nơi tu học cho Tăng Ni đồ chúng.
Năm
1956, Ngài được cung thỉnh làm Đường đầu Hòa thượng
Đại giới đàn tổ chức tại chùa Linh Nguyên – Đức Hòa
để truyền pháp cho các giới tử.
Năm
1957, Giáo hội Phật giáo Lục Hòa Tăng Việt Nam chính thức
thành lập, Ngài được suy cử làm Phó Tổng thư ký và sau
đó là Tổng Thư ký thay thế Hòa thượng Thích Thiện Hào
đi nhận nhiệm vụ khác. Văn phòng Giáo hội đặt tại chùa
Phật Ấn, nhà in và trường học Lục Hòa đặt tại chùa
Giác Viên.
Đầu
năm 1963, Giáo hội Lục Hòa Tăng đã tập hợp Tăng Ni, Phật
tử dưới sự lãnh đạo của Ngài, cùng với các đoàn thể
tích cực đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.
Đến
năm 1969, Ngài vận động chư tôn giáo phẩm thuộc hai Giáo
hội Lục Hòa Tăng và Lục Hòa Phật tử hiệp nhất thành
Giáo hội Phật giáo Cổ Truyền Việt Nam, cùng thiết lập
các trường Phật học Lục Hòa ở các chùa Giác Lâm, Giác
Viên, Thiên Tôn, trường Tiểu học Lộc Uyển, Thiên Trường
quận 8 để đào tạo Tăng tài, truyền thừa đạo mạch.
Năm
1971, sau khi Hòa thượng Thích Minh Đức, Viện trưởng Viện
Hoằng Đạo viên tịch, Ngài được Giáo hội tín nhiệm suy
cử làm Phó Viện trưởng, cùng với Hòa thượng Thiện Thuận,
Viện chủ Tổ đình Giác Lâm làm Viện trưởng.
Năm
1973, Hòa thượng Thiện Thuận viên tịch, Ngài được Giáo
hội Phật giáo Cổ Truyền đề bạt làm Viện trưởng Viện
Hoằng Đạo cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Tổ
quốc được thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà, tháng
8 năm 1975, Ngài được giao trọng trách Phó chủ tịch Ban liên
lạc Phật giáo Yêu nước thành phố và tham gia Ủy viên Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc thành phố trong nhiều nhiệm kỳ. Tháng
10 năm 1979, Ngài tham gia phong trào vận động thống nhất Phật
giáo và làm Trưởng đoàn Phật giáo miền Nam ra thăm miền
Bắc.
Tháng
11 năm 1981, Ngài dự Hội nghị Đại biểu Thống nhất Phật
giáo Việt Nam tại Hà Nội và được suy tôn thành viên Hội
đồng Chứng minh kiêm Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo
hội Phật giáo Việt Nam cho tới ngày viên tịch.
Với
giới đức trang nghiêm thanh tịnh, mô phạm chốn Tùng lâm,
nên trong các Đại giới đàn năm 1984, 1988, 1991 do Thành hội
Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh tổ chức, Ngài
luôn được cung thỉnh làm Yết ma A Xà Lê, Pháp sư để truyền
pháp cho các giới tử. Ngoài ra, Ngài còn giữ chức vụ Phó
Trưởng đoàn Đại biểu Phật giáo Việt Nam tham dự Đại
hội Phật giáo Châu Á vì hòa bình tại Mông Cổ, Liên Xô
vào các năm 1982, 1984, 1991.
Trong
những năm cuối đời, Ngài làm việc không lúc nào ngơi nghỉ,
lúc thì đăng đàn thuyết pháp giáo hóa độ sanh, dạy dỗ
Tăng Ni, Phật tử, khi thì tích cực tham gia Phật sự Giáo
hội, các phong trào đoàn thể xã hội, tận lực phục vụ
cho đạo và đời ngày càng tốt đẹp.
Những
tưởng trên lộ trình phụng sự đạo pháp, bóng đại tùng
lâm còn che mát cho thế gian lâu hơn nữa, nào ngờ Ngài đã
theo lẽ vô thường, xả báo an tường, thu thần thị tịch
vào lúc 23 giờ ngày 29 tháng 11 Ất Hợi (nhằm ngày 19-1-1996).
Ngài trụ thế 80 năm, hưởng 56 mùa An cư kiết Hạ.
Hòa
thượng Thích Bửu Ý là một bậc cao Tăng thạc đức, một
Thiền sư yêu nước nồng nàn, trọn đời sống cho lý tưởng
phụng sự đạo pháp – dân tộc. Ngài đã được Giáo hội
Phật giáo Việt Nam trao tặng Bằng tuyên dương công đức,
được Nhà nước ghi nhận công lao “Vì sự nghiệp đại
đoàn kết toàn dân” và hơn nữa đã tô đậm nét hào hùng
cho lịch sử Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn chấn hưng
của thế kỷ 20.