Hòa
thượng THÍCH ĐẠT HẢO
1916
– 1996
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
ĐẠT HẢO
(1916
– 1996)
Hòa
thượng Thích Đạt Hảo, pháp húy Tánh Tướng, thế danh Nguyễn
Văn Bân, sinh năm 1916 (Đinh Tỵ), tại ấp Bình Hữu, xã Đức
Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Thân phụ Ngài
là ông Lê Văn Bộn, pháp danh Tánh Từ, tự Đạt Bi; thân mẫu
là bà Ngô Thị Cờ, pháp danh Tánh Niệm, tự Đạt Phật. Ngài
có tất cả 6 anh em, 2 trai, 4 gái. Ngài là con út trong một
gia đình sùng tín Tam bảo, cả 6 anh em đều quy y, xuất gia
tu hành theo đạo Phật.
Năm
1921, khi vừa lên 6 tuổi, Ngài được thân phụ dẫn đến
chùa Pháp Minh (Giồng Dứa – xã Đức Hòa Thượng), lễ Phật
nghe kinh, quy y Tam bảo. Sau đó một thời gian, Ngài được
Hòa thượng Liễu Lạc làm lễ thế phát xuất gia, ban cho pháp
húy là Tánh Tướng, tự Đạt Hảo nối pháp dòng Thiên Thai
Giáo Quán tông, đời thứ 22.
Năm
1933 (Ất Hợi), dưới sự dạy dỗ của Hòa thượng Bổn sư,
thêm căn lành vốn sẵn nên chẳng bao lâu kinh, luật sơ cơ
Ngài đều làu thông, thiền môn nghi tắc Ngài đều vững chải.
Hòa thượng Bổn sư cho Ngài thọ Sa di giới tại giới đàn
chùa Pháp Hoa (Vĩnh Long).
Năm
1935, Ngài được Bổn sư chấp thuận cho đăng đàn thọ Cụ
túc giới tại chùa Tôn Thạnh (Cần Giuộc) do Hòa thượng
Liễu Thiền làm Đàn Đầu truyền giới.
Sau
khi thọ giới xong, được phép của Bổn sư, Ngài bắt đầu
du phương tham học. Trải khắp các chốn tòng lâm, nghe đạo
tràng nào có các bậc cao Tăng thiền đức xiển dương khai
hóa, thì Ngài đều tìm đến cần cầu học hỏi như : Tổ
Từ Phong chùa Giác Hải (Phú Lâm), Tổ chùa Thiền Lâm (Tây
Ninh), Tổ Huệ Đăng chùa Thiên Thai (Bà Rịa)...
Năm
1938, vâng lệnh Hòa thượng Bổn sư, Ngài về xã Lương Hòa,
huyện Bến Lức, Long An kiến tạo ngôi chùa lấy hiệu là
Pháp Vân và trụ trì chùa này trong một thời gian dài.
Năm
1940, Ngài trở lại quê nhà thực hiện việc cải gia vi tự,
lập thành chùa Pháp Bảo ở huyện Đức Hòa, Long An.
Năm
1942, Ngài cùng với Sư bà Đạt Đạo (chị Hai của Ngài) khởi
công xây dựng chùa Pháp Quang ở chân cầu Nhị Thiên Đường,
quận 8, trên một mảnh đất hoang dã, bùn lầy. Ngày 02.5.1955,
chùa bị tàn phá nặng nề bởi cuộc chiến tranh giặc Bình
Xuyên.
Năm
1957, Ngài cùng các pháp lữ : Hòa thượng Đạt Pháp, Hòa thượng
Đạt Đồng, Hòa thượng Đạt Hương tham dự khóa đào tạo
trụ trì Như Lai Sứ Giả do Giáo hội Tăng Già Nam Việt tổ
chức tại chùa Pháp Hội (Chợ Lớn).
Năm
1963, trong phong trào đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô
Đình Diệm, Ngài đã hướng dẫn Tăng Ni, Phật tử tích cực
đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo, cùng
Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo đưa sự nghiệp chung
đến thành công và thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thống nhất.
Năm
1964, Ngài khởi công tái thiết lại chùa Pháp Quang. Đến năm
1966 chùa xây dựng hoàn tất, Ngài tổ chức lễ khánh thành
vô cùng trọng thể dưới sự chứng minh của Hòa thượng
Thích Hành Trụ, thành viên Hội đồng Trưởng Lão Viện Tăng
Thống và Hòa thượng Thích Thiện Hoa, Viện trưởng Viện
Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Năm
1967, Ngài đảm nhận công tác trùng tu chùa Châu Hưng (Thủ
Đức) và sau đó giao lại cho Sư đệ là Hòa thượng Đạt
Đồng trụ trì, kế đến là đệ tử của Ngài, Thượng tọa
Tắc Lãnh kế tục trụ trì ngôi Tam bảo này. Ngoài những
chùa trên, từ năm 1966 – 1996, Ngài còn trùng tu, xây dựng
thêm nhiều chùa khác như : chùa Quảng Tế (Long Xuyên), chùa
Pháp Hưng (Long Thành), chùa Pháp Thạnh (Đức Hòa), chùa Pháp
Giới (Cầu Tre), chùa Linh Phước (Quận 8)...
Năm
1968, Ngài được Viện Hóa Đạo đề cử làm Chánh Đại diện
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất quận 8.
Năm
1970, Ngài mở Phật học viện Pháp Giới, nội trú cho 70 chư
Tăng tu học do Ngài làm Giám viện, theo chương trình giảng
dạy của Hội đồng Trị sự Thiên Thai Giáo Quán Tông.
Năm
1971, Ngài tổ chức Đại hội bầu Ban Trị sự Giáo hội Thiên
Thai Giáo Quán và được Đại hội suy cử làm Phó Ban Trị
sự, Hòa thượng Tắc Nghi làm Trị Sự trưởng.
Năm
1973, Đại hội nhiệm kỳ II, Ngài được suy cử làm Trị
Sự trưởng Thiên Thai Giáo Quán Tông cho đến ngày thống nhất
Phật giáo cả nước.
Năm
1975, sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Ban liên lạc Phật
giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh được thành lập do
Hòa thượng Minh Nguyệt làm Chủ tịch, Ngài được đề cử
làm Ủy viên Đoàn chủ tịch Ban liên lạc Phật giáo Yêu nước
thành phố, kiêm Trưởng Ban liên lạc Phật giáo quận 8.
Bên
cạnh những Phật sự đa đoan do Ban Liên lạc Phật giáo yêu
nước thành phố ủy nhiệm, Ngài còn được đề cử làm
Ủy viên Mặt trận Tổ quốc quận 8 nhiệm kỳ I (1976 – 1978).
Năm
1980, Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam được
thành lập, Ngài được tham gia thành viên, đại diện cho Tông
Thiên Thai Giáo Quán trong 9 tổ chức hệ phái Phật giáo, đã
đóng góp nhiều công sức cho sự nghiệp thống nhất Phật
giáo Việt Nam.
Cuối
năm 1981, Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam được
tổ chức tại thủ đô Hà Nội. Ngài được Đại hội suy
cử làm thành viên Hội đồng Chứng minh nhiệm kỳ I và Ngài
ở ngôi vị này suốt 3 nhiệm kỳ cho đến ngày viên tịch.
Năm
1982, Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh được thành
lập, Ban Đại diện Phật giáo quận 8 ra đời. Ngài được
Tăng Ni Phật tử quận nhà cung thỉnh vào Ban Chứng minh.
Từ
năm 1984, thực hiện chương trình mở khóa An cư kiết Hạ
cho Tăng Ni thành phố, Ban đại diện Phật giáo quận 8 chọn
chùa Pháp Quang là trú xứ của Ngài làm điểm An cư kiết
Hạ trong suốt 10 năm liền và cũng trong suốt thời gian này,
Ngài luôn được cung thỉnh làm Chứng minh và làm Thiền chủ,
Hóa Chủ trường Hạ.
Năm
1987, Ngài được Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo
hội Phật giáo Việt Nam nhiệm kỳ II và III (1987 – 1997) đề
cử làm Ủy viên ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo
Việt Nam.
Ngoài
những Phật sự kể trên, Ngài còn luôn được Tăng Ni quy
ngưỡng là bậc Tòng lâm mô phạm, nên suốt bốn thập niên
từ năm 1956 – 1996, hầu hết Đàn giới, trường Hương, khóa
Hạ nào cũng đều cung thỉnh Ngài làm Giới sư truyền giới,
hoặc làm Pháp sư giáo đạo cho giới tử. Đã biết bao giới
tử từ nơi Ngài mà giới thể được châu viên, tuệ mạng
được thành tựu, trở thành pháp khí Đại thừa, lợi đạo
tốt đời.
Không
chỉ dừng lại ở những hoạt động Phật sự, Ngài còn tham
gia những công tác từ thiện xã hội, cứu trợ thiên tai bão
lụt, giúp đỡ người nghèo, trẻ em mồ côi khuyết tật,
vận động đóng góp xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa
v.v...
Hơn
thế nữa, Ngài còn là một công dân yêu nước nồng nàn,
đã góp phần xứng đáng vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ, được Nhà nước trao tặng thưởng huân chương
Kháng chiến hạng Nhất, huân chương Kháng chiến chống Mỹ
hạng Nhì. Ngoài ra, trong giai đoạn xây dựng đất nước sau
chiến tranh, Ngài cũng được Ủy ban Nhân dân, Mặt trận Tổ
quốc thành phố và quận 8 tặng nhiều bằng khen và giấy
khen.
Nửa
thế kỷ cống hiến tâm lực cho đạo pháp và dân tộc, thân
tứ đại đến lúc hoàn nguyên. Ngày 09 tháng 8 năm 1996 (Bính
Tý), lúc 14 giờ, tay quyết ấn cam lồ, Ngài an nhiên xả bỏ
báo thân, hưởng thọ 80 năm, có 60 Hạ lạp.
Ngài
đã trở về cõi Niết Bàn tịch tịnh, nhưng công đức và
đạo nghiệp của Ngài luôn là tấm gương sáng về hoằng
pháp lợi sanh cho môn đồ, tử đệ noi theo.