Hòa
thượng PHÁP TRI
1914
– 1996
HÒA
THƯỢNG
PHÁP
TRI
(1914
– 1996)
Hòa
thượng Pháp Tri, pháp danh là Dhammmannu Bhikkhu, thế danh là
Nguyễn Thiên Tri, sanh năm Giáp Dần (1914) tại xã Phú An, huyện
Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang), thân phụ
là cụ ông Nguyễn Văn Xuyến, thân mẫu là cụ bà Trần Thị
Hoa. Song thân Ngài đều thuần kính Tam bảo.
Ngài
sinh ra và lớn lên trong một gia đình có nếp sống nho phong,
lễ giáo. Thuở còn ấu thơ, Ngài chăm chỉ học hành, tánh
tình nhu mì, hiền hậu và thường hay cứu giúp mọi người.
Đến tuổi trưởng thành, Ngài lại càng khác hẳn với mọi
người ở thế gian, thích xem kinh sách giáo lý Phật đà, thường
xuyên lui tới cảnh thiền môn và không màng danh lợi trần
tục như những người trang lứa cùng thời.
Thời
gian trôi nhanh, Ngài như một người gieo hạt, cứ kiên trì
chờ đợi hạt giống nảy mầm. Cho đến một ngày cơ duyên
đã đến, Ngài quyết định từ bỏ gia đình thế tục bước
lên con đường giải thoát. Ngài xin nhập môn tu hành theo Giáo
hội Tăng Già Nguyên thủy Theravada Việt Nam (hệ phái Nam Tông),
là một thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Năm
Bính Thân 1956, Ngài được thọ Tỳ kheo giới tại chùa Kỳ
Viên, do Hòa thượng Hộ Tông làm Thầy tế độ. Nhận thấy
Ngài có đủ năng lực truyền trì mạng mạch Như Lai, rường
cột Phật giáo sau này, nên Hòa thượng ban cho Ngài pháp hiệu
là Pháp Tri (Dhammannu Bhikkhu). Năm ấy Ngài 42 tuổi.
Sau
khi thọ giới, Ngài càng tinh tấn tu hành, thực hành đúng
đắn theo giới luật Phật chế, chuyên tâm nghiên cứu kinh
tạng Pàli, nỗ lực thiền định, nên được Phật tử quý
mến, chư Tăng nể trọng lấy làm gương sách tấn.
Song
song với việc tu trì, Ngài bắt đầu sự nghiệp hoằng pháp
lợi sanh. Hội đồng Chưởng quản Giáo hội Tăng Già Nguyên
thủy Việt Nam tín nhiệm đề cử Ngài đảm nhiệm chức vụ
Tổng thư ký kiêm Trưởng ban Kiến thiết của Giáo hội. Ngoài
ra, Ngài còn tham gia tích cực các công tác từ thiện xã hội.
Năm
Quý Mão 1963, Ngài là Thành viên xuất sắc trong Ủy ban Liên
phái Bảo vệ Phật giáo đấu tranh chống lại nạn kỳ thị,
đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm để bảo
vệ sự bình đẳng tôn giáo.
Năm
Giáp Thìn 1964, chính quyền nhà Ngô sụp đổ, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống nhất ra đời, Ngài được suy cử giữ
chức Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo suốt 3 nhiệm kỳ.
Thời gian này Ngài làm việc không ngơi nghỉ, vừa lo việc
Phật sự của Giáo hội, vừa tham gia ủy lạo, ủng hộ từ
thiện xã hội cho đồng bào bị thiên tai lũ lụt...
Năm
Kỷ Dậu 1969, Hòa thượng Thiện Luật, Phó Tăng thống Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất viên tịch, Ban chưởng
quản Giáo hội Tăng Già Nguyên thủy Việt Nam, cung thỉnh Ngài
về trụ trì chùa Pháp Quang, quận Bình Thạnh để tiếp tục
hoằng pháp lợi sanh.
Năm
Nhâm Tý 1972, Giáo hội nhận thấy Ngài có năng lực đối
ngoại, kiến thiết chùa cảnh, nên đã thỉnh Ngài nhận lãnh
trọng trách xây dựng Bảo tháp tôn thờ xá lợi Phật, và
kiến tạo đài hỏa táng tại ấp Vĩnh Thuận, xã Long Bình,
quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định, lấy tên là Xá Lợi Phật
Đài. Nơi đây, Ngài đã bỏ công sức tài trí rất nhiều,
từ một mảnh đất hoang sơ cằn cỗi, cỏ dại um tùm trở
nên một tu viện có thắng cảnh xanh tươi hùng vĩ. Mỗi khi
đến địa phận Thủ Đức để đi Biên Hòa, mọi người
đều ngang qua ngọn đồi Bác sĩ Tín, sẽ thấy một Xá Lợi
Phật Đài nguy nga đồ sộ với một rừng cây thuốc Nam phong
phú, giúp ích thiết thực cho đời và đạo.
Năm
Nhâm Tuất 1982, sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được
thành lập, tuổi già sức yếu, Ngài bàn giao Phật sự, lui
về trụ hẳn nơi Xá Lợi Phật Đà để tịnh tu, nhưng vẫn
được Ban Đại diện Phật giáo huyện Thủ Đức cung thỉnh
Ngài làm Cố vấn Chứng minh cho Ban đại diện.
Từ
tháng 4 năm Canh Ngọ 1990, Ngài nhuốm bệnh nặng, không còn
đi lại được, tuy nằm trên giường bệnh, nhưng tâm trí
Ngài vẫn sáng suốt nhất tâm chánh niệm. Mỗi khi nghe tiếng
chuông chùa hôm sớm, Ngài đều chắp tay thầm niệm hồng
danh đức Thế Tôn.
Nhưng
vô thường là định luật chung, không ai tránh khỏi, nên vào
lúc 8 giờ 30 phút sáng ngày Rằm tháng 10 năm Bính Tý, nhằm
ngày 25 tháng 11 năm 1996, giữa tiết trời đông cuối mùa dâng
y Casa Kathina, Ngài đã thu thần thị tịch, trụ thế 82 tuổi,
hưởng 40 tuổi đạo.
Hòa
thượng Pháp Tri trải qua một đời tu hành công hạnh lưỡng
toàn. Ngài đã tham gia rất nhiều công tác từ thiện, nhất
là giai đoạn đấu tranh của Phật giáo, Ngài có công kiến
tạo Xá Lợi Phật Đài, góp phần cải thiện đạo đức,
nhân sanh, nêu cao tấm gương trí dũng phục vụ chúng sanh tức
cúng dường Tam bảo của một bậc Sứ giả Như Lai.