Hòa
thượng THÍCH QUẢNG THẠC
1925
– 1995
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
QUẢNG THẠC
(1925
– 1995)
Hòa
thượng Thích Quảng Thạc, pháp danh Quảng Thạc, đạo hiệu
Tuấn Đức, thế danh Dương Đức Thắng, sinh năm Ất Sửu
(1925), tại làng Quần Phương Hạ, xã Tây, huyện Hải Hậu,
tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là cụ Đỗ Văn Khôi, hiệu
Đa Sĩ, thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Khuyến hiệu Diệu Phương.
Ngài là người con út trong gia đình gồm 6 anh chị em, 3 trai,
3 gái.
Vốn
sinh trưởng trong gia đình có truyền thống nho học, trải
nhiều đời gia tộc đều quy ngưỡng cửa thiền, nên song
thân Ngài một lòng thuần kính Tam bảo. Lúc Ngài còn nhỏ,
trong gia đình đã có người chị cả xuất gia – quy y nơi
Sư cụ chùa Nghĩa Xá, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định,
là Ni trưởng Thích Nữ Đàm Soạn.
Năm
lên 16 tuổi (1941), Ngài sớm nhận thấy cuộc đời ảo mộng,
sanh, lão, bệnh, tử nên một lòng xin phép song thân cho xuất
gia đầu Phật.
Buổi
ban đầu khai tâm học đạo, Ngài được Hòa thượng Thích
Trí Hải trụ trì chùa Mai Xá, tỉnh Hà Nam, một vị cao Tăng
đức độ lúc bấy giờ thu nạp làm đệ tử và trao cho giới
phẩm Sa di. Vốn có sẵn Phật tâm ngay từ thuở nhỏ và có
tư chất thông minh, Ngài đã nhanh chóng tinh thông căn bản
giáo lý Đại thừa.
Năm
Canh Dần 1950, Hòa thượng Thích Trí Hải đưa Ngài lên chùa
Quán Sứ tiếp tục chương trình Cao đẳng Phật học để
nâng cao kiến thức tam tạng giáo điển và trau dồi giới
hạnh. Suốt 3 năm tinh cần tu tập, Ngài luôn được biểu
dương là một học Tăng gương mẫu, rường cột Phật giáo
sau này.
Năm
Quý Tỵ 1953, Ngài tháp tùng Hòa thượng Bổn sư về thành
phố Hải Phòng, kiến tạo ngôi chùa lấy hiệu là chùa Phật
Giáo để phát triển sự nghiệp hoằng dương Phật pháp tại
đây (nay là chùa Nam Hải).
Năm
Giáp Ngọ 1954, khi hiệp định đình chiến Genève được ký
kết chấm dứt chiến tranh Việt Pháp, nhận thấy Ngài có
pháp khí Đại thừa nên Hòa thượng Bổn sư quyết định
cho phép Ngài di cư vào miền Nam đểõ tiếp nối sự nghiệp
hoằng pháp. Vào đến nơi, bước đầu Ngài trú tại chùa
Giác Hoa, quận Bình Thạnh – Gia Định để tu học dưới
sự dẫn dắt của chư tôn đức cùng di cư vào Nam hoằng đạo.
Năm
Ất Mùi 1955, Giáo hội Tăng Già Bắc Việt tại miền Nam ra
đời, chùa Giác Minh được thành lập. Nhân dịp này chư tôn
đức trong sơn môn miền Bắc tổ chức Đàn giới cho Ngài
được lãnh thụ Đại giới, do Tổ Thanh Thạnh làm Hòa thượng
Đàn đầu, Tổ Thanh Thái làm Yết ma và Tổ Yên Bình làm Giáo
thọ A-Xà-Lê. Cũng trong năm này, Ngài được đề cử về
trụ trì chùa Giác Hoa, tỉnh Gia Định để giáo hóa độ sanh.
Năm
Đinh Dậu 1957, Ngài đến tham học tại Phật học đường
Giác Nguyên, quận Tư – Sài Gòn và tái thụ giới pháp nơi
Hòa thượng Thích Hành Trụ, được Hòa thượng tác chứng
để hành trì đạo pháp.
Năm
Canh Tuất 1970, Hòa thượng Thích Chân Thường vì Phật sự
mới ở hải ngoại, đã giao lại cho Ngài trụ trì ngôi chùa
An Lạc ở quận Nhất - Sài Gòn. Nhận thấy chùa còn nhỏ
hẹp, Ngài đã vận động tín đồ đóng góp xây dựng lại
ngôi Tam bảo bằng tâm huyết và ý tưởng của mình với tâm
niệm “Phật pháp bất ly thế gian giác”. Đến năm 1973 chùa
mới hoàn thành một cách uy nguy tráng lệ, khi bước vào cảnh
chùa, mọi người có thể chiêm ngưỡng một cảnh quan Phật
địa, an lành hạnh phúc tại thế gian này.
Song
song với công việc Phật sự, giáo hóa độ sanh, nghiêm tầm
Phật điển, Ngài còn nổi tiếng tinh tường về thư pháp,
thi ca. Bằng những dòng thơ đạo, những câu đối thiền với
nét bút tài hoa, khắp các đạo tràng trong chốn thiền lâm,
nơi nơi đều có dấu ấn bút pháp của Ngài ghi đậm. Sự
nghiệp sáng tác của Ngài còn có một số tác phẩm hơn 200
câu đối, thi vịnh Phật giáo (chưa xuất bản).
Năm
Kỷ Dậu 1979, sau khi đất nước được thống nhất, Ngài
đã cung thỉnh Hòa thượng Bổn sư Thích Trí Hải vào miền
Nam thăm viếng các chốn Tổ và để được chăm sóc, báo
đáp thâm ân giáo dưỡng Bổn sư sau thời gian dài xa cách.
Như đã mãn nguyện, sau khi trở về miền Bắc, Hòa thượng
đã viên tịch.
Năm
Canh Thân 1980, Ban Vận động Thống nhất Phật giáo được
thành lập, Tổ Hòe Nhai – Hòa thượng Thích Đức Nhuận đã
vào miền Nam để vận động và lưu trú tại chùa Vĩnh Nghiêm
- thành phố Hồ Chí Minh, Ngài đến khất cầu giới pháp và
được Hòa thượng truyền trao Bồ Tát giới, ban cho pháp hiệu
là Tuấn Đức.
Vào
cuối năm Ất Hợi (1995), Ngài lâm trọng bệnh, và thị tịch
vào lúc 0 giờ 20 phút ngày 25 tháng 01 năm 1996, nhằm ngày 06
tháng 12 năm Ất Hợi tại chùa An Lạc, đường Phạm Ngũ Lão,
quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Hòa thượng trụ thế 70 năm.
Hạ lạp 40 tuổi đạo.
Trước
khi thị tịch vài ngày, Ngài sai đệ tử lấy giấy bút để
viết chữ đại tự “ Phật” và dặn dò các đệ tử câu
kệ mà Ngài tâm đắc nhất lúc bình sinh :
Luyện
tính bất dung văn vũ hỏa
Tham
thiền tu thế lợi danh quan
Tạm
hiểu:
Luyện
tính tu tâm ấy đạo mầu
Võ
văn lửa dữ gắng qua mau
Tham
thiền yếu lý thường tu niệm
Cửa
ải lợi danh chớ lún sâu.
Bằng
tất cả trí tuệ, tài năng và sức lực, Ngài đã hiến dâng
trọn đời mình cho sự nghiệp tu hành. Với văn chương; bút
pháp, Ngài không những khẳng định sự giác ngộ tâm linh
sở tu, sở chứng, mà còn góp phần không nhỏ cho nền văn
hóa Phật giáo Việt Nam.