Hòa
thượng THÍCH MINH TÁNH
1924
– 1995
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
MINH TÁNH
(1924
– 1995)
Hòa
thượng Thích Minh Tánh, pháp húy Nguyên Chơn, pháp hiệu Minh
Tánh, thuộc dòng Lâm Tế-Liễu Quán đời thứ 44, Ngài thế
danh Từ Phước Thạnh, sinh năm Giáp Tý (1924) tại xã Minh Hương,
huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
Thân
phụ của Ngài là ông Từ Thanh Huy, thân mẫu là bà Lê Thị
Bông. Ngài là con thứ 9 trong gia đình có 9 anh em. Gia đình
Ngài từ nhiều đời, vốn có truyền thống kính tin Tam bảo
và yêu nước nồng nàn.
Năm
Canh Ngọ (1930), khi lên 7 tuổi, Ngài theo thân phụ đến công
quả, học đạo ở chùa Từ Quang (Huế). Đó là nhân duyên
ban đầu phát khởi thiện tâm để làm bậc xuất gia sau này.
Năm
Canh Thìn (1940), lúc 17 tuổi, Ngài xin xuất gia với Hòa thượng
Tâm Thông – Quảng Nhuận, trụ trì chùa Từ Quang. Được
Hòa thượng Bổn sư hứa khả và cho vào làm lễ thế phát
tại chùa Linh Quang (Đà Lạt).
Sau
đó, Hòa thượng Bổn sư gởi Ngài vào học ở Phật học
đường Tây Thiên (Huế). Kế đến là Phật học đường Báo
Quốc (Huế). Ngài đã trải 8 năm theo học tại hai trường
Phật học danh tiếng nhất ở kinh đô thời bấy giờ.
Năm
Mậu Tý (1948), lúc này đã 25 tuổi, nhận thấy Ngài học hành
tạm đủ. Hòa thượng Bổn sư cho Ngài đăng đàn thọ giới
Cụ túc tại Đàn giới “Hộ Quốc Đàn”, tổ chức tại
Phật học đường Báo Quốc, do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết
làm Hòa thượng Đàn đầu.
Sau
khi tốt nghiệp Phật học đường Báo Quốc, từ năm 1948 –
1959, Ngài được bổ nhiệm làm Giảng sư, giảng dạy tại
các Phật học đường Trung Phần; làm trụ trì chùa Tỉnh
hội Bình Thuận; trụ trì chùa Linh Quang (Đà Lạt).
Năm
Kỷ Hợi (1959), Ngài vào Nam, trụ trì chùa Nguyên Thủy tại
thị xã Tân An, tỉnh Long An. Nơi đây, Ngài mở lớp dạy gia
giáo, mở trường tư thục Bồ Đề. Tăng Ni Phật tử theo
học rất đông.
Năm
Giáp Thìn (1964), sau pháp nạn 1963, Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống nhất ra đời, Ngài được Tăng Ni, Phật tử suy
cử làm Chánh đại diện Phật giáo tỉnh Long An, và Ngài đảm
nhiệm chức vụ này liên tiếp nhiều nhiệm kỳ.
Năm
Tân Dậu (1981), khi Phật giáo ba miền thống nhất các hệ
phái, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ngài cùng quý
vị Giáo phẩm địa phương tích cực vận động để thống
nhất Phật giáo tỉnh Long An.
Năm
Quý Hợi (1983), Ban trị sự Phật giáo Tỉnh hội Long An được
thành lập, Ngài được Tăng Ni suy cử làm Phó Ban thường
trực Phật giáo tỉnh Long An.
Năm
Kỷ Tỵ (1989), Ban trị sự Phật giáo Long An mở Đại giới
đàn đầu tiên của Tỉnh hội, Ngài được cung thỉnh làm
Yết ma A Xà Lê.
Năm
Canh Ngọ (1990), trong nhiệm kỳ III của Ban trị sự Phật giáo
tỉnh Long An, Ngài đảm trách chức vụ Phó Ban thường trực
và được đề cử kiêm nhiệm Ủy viên Tăng sự.
Năm
Tân Mùi (1991), Ban trị sự Phật giáo Long An khai Đại giới
đàn làn thứ hai của Tỉnh hội, và Ngài lại được cung
thỉnh làm Yết ma A Xà Lê.
Năm
Nhâm Thân (1992), trường Cơ bản Phật học tỉnh Long An được
thành lập, Ngài được Tăng Ni thỉnh cầu đảm nhiệm chức
vụ Hiệu trưởng.
Năm
Quý Dậu (1993), trong Đại hội Phật giáo tỉnh Long An nhiệm
kỳ IV (1994-1998), Ngài tiếp tục được suy cử làm Phó ban
Thường trực kiêm Ủy viên Tăng sự.
Đầu
năm 1995, chiếc xe tứ đại sau những năm tháng dài truyền
đăng tục diệm, kế thế khai lai, nay đã bắt đầu rệu rã
phân ly, Ngài lâm trọng bệnh. Đến ngày 09 tháng 8 năm Ất
Hợi (1995), Ngài thâu thần thị tịch hưởng thọ 72 tuổi,
47 Hạ lạp. Tang lễ Ngài được Ban trị sự Tỉnh hội Phật
giáo Long An tổ chức vô cùng trọng thể, nhục thân Ngài nhập
Bảo tháp trong khu tháp mộ chùa Thiên Khánh (Tân An – Long
An).
Suốt
cuộc đời hoằng hóa độ sinh, Ngài luôn là tấm gương sáng
thiết tha với tiền đồ đạo pháp, tận tụy với công việc.
Đời sống thanh bần, giản dị, từ bi yêu thương, luôn chăm
lo nhắc nhở đàn hậu tấn, Ngài như đóa Ưu Đàm trong vườn
hoa Phật giáo, xứng đáng cho hậu thế noi theo.