Hòa
thượng OUL SREY
1910
– 1995
HÒA
THƯỢNG
BRAHMAKESARA
OUL
SREY
(1910
– 1995)
Hòa
thượng Brahmakesara (Phạm Trang), thế danh là Oul Srey, sinh ngày
Rằm tháng 4 năm Canh Tuất (1910), nhằm Phật lịch 2453
tại làng On Đôn Pô, huyện Rô Mex Heik, tỉnh Svai Riêng, nước
Cao Miên.
Thân
phụ Ngài là cụ ông Phôk Oul, thân mẫu là cụ bà Dey Pou,
Ngài là con thứ hai trong một gia đình có bảy người con.
Thuở
nhỏ, Ngài sống với gia đình. Năm 13 tuổi (1922), cha mẹ Ngài
cho đi học ở chùa On Đôn Pô với Hòa thượng trụ trì RôsKhuôl.
Trong thời gian theo học, Ngài luôn ngoan ngoản, siêng năng,
học tập chăm chỉ, siêng năng, giỏi dắn, nên rất được
Hòa thượng RôsKhuôl yêu mến.
Năm
1926, Ngài phát tâm muốn xuất gia đầu Phật, song thân Ngài
rất hoan hỉ. Ông bà đưa Ngài đến chùa On Đôn Pô, thỉnh
Hòa thượng Suddhammappanno – Lâc Som làm Thầy tế độ. Sau
khi xuất gia, thọ giới Sa di, Ngài luôn nghiêm trì giới luật,
tinh tấn tu học để xứng đáng là đệ tử Phật.
Năm
1930, ngày Rằm tháng 4 – Phật lịch 2474, Ngài thọ giới Cụ
túc tại giới đàn chùa On Đôn Pô. Hòa thượng Suddhammappanno
– Lâc Som (Thiện Pháp Trí – Lâc Som) làm Thầy tế độ,
Thượng tọa Candatthero-Rum Su (Nguyệt Viên Rum Su) làm Thầy
Giáo thọ, Thượng tọa Dhammaràmo-Tia Ton (Pháp Hỷ Tia Ton) làm
Thầy Yết ma. Và trong đàn giới, Ngài được Thầy tế độ
cho pháp danh là Brahmakesara (Phạm Trang).
Thọ
đại giới xong, Ngài tiếp tục tu học giáo lý tại chùa với
Bổn sư được hai Hạ. Đến Hạ thứ ba, thứ tư, Ngài xin
phép Bổn sư đến thọ học giáo lý tại chùa Khsam, thuộc
tỉnh Kom-Poong-Chnăng. Hạ thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, Ngài
đến chùa Kom-Poong-Siêm thọ học pháp môn thiền với Thiền
sư Pănh Thai. Hạ thứ tám, Ngài trở về chùa On Đôn Pô và
được Hòa thượng Bổn sư giao trách nhiệm hướng dẫn chúng
Tăng và Phật tử bổn tự tu học thiền.
Năm
1944, Ngài xin phép Hòa thượng Bổn sư đến thủ đô Phnom
Pênh để tiếp tục trau dồi kiến thức Phật học với Hòa
thượng Lâm Em tại chùa Sàràvant Tejo.
Năm
1947, Phật tử Sài Gòn thỉnh Hòa thượng Lâm Em và Ngài cũng
một số chư Tăng về dự lễ Chôl Chnăm Thmây ( ). Nhân dịp
này, Phật tử ở đây kính trình nguyện vọng lên chư Tăng,
mong muốn dựng lập một ngôi chùa theo hệ phái Theravàda ở
Sài Gòn, để làm nơi tôn nghiêm thờ phượng Phật, Pháp,
Tăng, cũng như có chỗ cho chư Tăng, con em Phật tử Khmer ở
các nơi đến dừng chân tu học. Nhận thấy đây là nguyện
vọng thiết yếu hợp tình, hợp lý nên Hòa thượng Lâm Em
và Ngài nhất trí. Sau đó, hai Ngài cùng một vài vị Sư khác
hướng dẫn Phật tử tìm đất dựng chùa.
Cuối
cùng, một cái cốc nhỏ được dựng lên bên bờ kênh Nhiêu
Lộc, thuộc vùng Tân Định. Nhưng không bao lâu sau, với sự
quyết tâm của chư Tăng, cũng như sự trợ duyên tích cực
của đồng bào Phật tử, ngôi cốc nhỏ trên bãi đất đầm
lầy, đầy ô rô, cỏ dại đó đã hình thành một ngôi chùa
uy nghi, đồ sộ, mang đậm kiến trúc văn hóa Khmer. Chùa được
đặt tên là Candaransi (Chăn-Ta-Răng-Sây), có nghĩa là ánh sáng
trăng (Nguyệt Quang). Ánh trăng soi sáng cho đêm vô minh trần
thế mà cũng là ánh trăng soi sáng cho chư Tăng, Phật tử thi
công xây dựng không kể ngày đêm, không quản gian lao để
hoàn thành ngôi bảo tự.
Năm
1948, sau khi chùa khánh thành, Ngài được chư Tăng và quý Phật
tử bầu làm Phó trụ trì. Từ đây, Ngài cùng Hòa thượng
Lâm Em ra sức tu tạo và phát triển chùa Chăn-Ta-Răng-Sây ngày
càng hưng thịnh, khang trang hơn.
Năm
1963, trong cuộc tranh đấu chống chính sách kỳ thị tôn giáo
của chính phủ Ngô Đình Diệm, Ngài cùng Hòa thượng Lâm
Em đại diện cho giới Tăng sĩ Phật giáo Khmer đứng chung
hàng ngũ đấu tranh của Phật giáo đồ. Ngài 3.6.1963, cùng
chung số phận với các chùa bị lệnh phong tỏa, chùa Chăn-Ta-Răng-Sây
cũng bị chính quyền Diệm bao vây gắt gao, bởi Hòa thượng
Lâm Em tham gia trong Ban cố vấn Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật
giáo. Sau cuộc tuyệt thực tại chùa Xá Lợi ngày 15.7.1963,
do Ủy ban đề xướng để cầu siêu cho Đại đức Nguyên
Hương tự thiêu, Ngài cùng các Tăng sĩ Khmer đã bị bố ráp
đàn áp và bắt nhốt rại Rạch Cát 4 ngày.
Năm
1979, Hòa thượng Lâm Em viên tịch, Ngài lên kế vị quyền
trụ trì. Trong thời gian này, Ngài góp phần xây dựng chùa
chiền, tôn tạo Phật tượng cho nhiều tòng lâm, tự viện
khác như : chùa Ka Ôk, chùa Choong Ruk (Tây Ninh), chùa Sa Đo v.v...
Ngày
30 tháng 6 năm 1992, Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí
Minh quyết định bổ nhiệm Ngài chính thức trụ trì chùa
Chăn-Ta-Răng-Sây.
Mặc
dù, Ngài tuổi đã cao, sức khỏe đã kém, nhưng vì lòng thương
đạo mến đời, vì sự nghiệp hoằng hóa độ sinh cao cả
nên Ngài cố gắng tận dụng thời gian ít ỏi còn lại của
mình để hoàn tất Phật sự, kiện toàn liêu xá, trang nghiêm
Phật điện, sửa sang khuôn viên chùa, hầu trợ duyên cho chúng
Tăng an cư tu học.
Vào
lúc 18 giờ 45 phút, ngày 27 tháng 6 năm 1995 (Ất Hợi), Phật
lịch 2539, Ngài viên tịch trong nỗi thương tiếc vô hạn của
bao môn đồ, pháp quyến. Ngài hưởng thọ 87 tuổi, có 65 Hạ
lạp.