Hòa
thượng THÍCH TRÍ TẤN
1906
– 1995
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TRÍ TẤN
(1906
– 1995)
Hòa
thượng Thích Trí Tấn, pháp danh Nhật Quân, pháp tự Nhất
Bổn, thế danh Huỳnh Văn Xông, sanh ngày 15 tháng 2 năm Bính
Ngọ – 1906, tại làng Dư Khánh, tổng Chánh Mỹ Trung, tỉnh
Biên Hòa – nay là ấp 2, xã Thạnh Phước, huyện Tân Uyên,
tỉnh Bình Dương.
Ngài
sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho giáo và
tôn kính Tam bảo. Thân phụ Ngài là cụ đồ Nho Huỳnh Văn
Bẩm, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Nghe. Ngay tuổi ấu thơ Ngài
đã được học chữ nho với cha, cho đến năm 12 tuổi, một
hôm theo cha lên chùa Hưng Long lễ Phật, như có nhân duyên
từ bao kiếp trước, Ngài nảy sinh ý định xuất gia, và được
Hòa thượng Thôi Biện, trụ trì chùa thu nhận làm đệ tử.
Năm
Canh Thân – 1920, Ngài chính thức được thế phát xuất gia,
nhận pháp danh là Nhật Quân, pháp tự Nhất Bổn, sau hai năm
tập sự tu học.
Năm
Quý Hợi – 1923, Ngài được thọ giới Sa di tại chùa Hưng
Long với Hòa thượng Bổn sư và hai năm sau (1925), Ngài được
đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn chùa Hưng
Long do Đại lão Hòa thượng Tái Khai làm Đàn đầu truyền
giới. Năm đó Ngài tròn 20 tuổi.
Năm
Đinh Mão – 1927, Hòa thượng Bổn sư của Ngài viên tịch,
sau khi tang lễ xong, Ngài đứng ra vận động xây dựng tháp
bảy tầng, an trí linh vị Bổn sư rồi sắp xếp công việc
Phật sự giao lại cho huynh đệ đồng môn, tiếp tục tham
phương học đạo.
Với
quyết tâm cầu tiến, Ngài đã đến cầu pháp với Hòa thượng
Tâm Thường tại chùa Long Hưng, huyện Long Thành, tỉnh Đồng
Nai, và được Hòa thượng đặt pháp húy Nhựt Tinh, pháp hiệu
Trí Tấn.
Năm
Tân Mùi – 1931, Ngài được Tổ đình Long Thiền, Biên Hòa
mời về làm tri sự, vừa tu học, vừa hoằng bá đạo pháp
nơi đây.
Năm
Ất Hợi – 1935, Ngài được chư Sơn thiền đức và các huynh
đệ đề cử trụ trì chùa Hưng Long nơi mà trước đây Ngài
đã xuất gia học Phật. Với đức độ và uy tín ngày càng
cao, nên trong mùa An cư kiết Hạ và khai giới đàn năm Canh
Thìn – 1940, Ngài được suy cử Giáo Thọ A Xà Lê tại chùa
Long Hưng, Long Thành, Biên Hòa.
Năm
Ất Dậu – 1945, Ngài là Tổng thư ký Hội Phật giáo Cứu
quốc miền Đông Nam Bộ. Ngài động viên 4 tu sĩ ở chùa Hưng
Long tham gia kháng chiến chống Pháp, và quý vị này đã hy
sinh năm 1947.
Năm
Đinh Hợi – 1947, Ngài hưởng ứng phong trào “tiêu thổ kháng
chiến” của cách mạng đề xướng, cho đốt chùa Hưng Long
để chống sự chiếm đóng của quân Pháp.
Năm
Đinh Dậu – 1957, Ngài được tôn cử làm Yết Ma A Xà Lê
tại trường Hạ – Chúc thọ giới đàn chùa Long Sơn, Thới
Hòa – Tân Uyên – Biên Hòa.
Năm
Mậu Tuất – 1958, Ngài được Giáo hội suy cử làm Tăng Giám
tỉnh Biên Hòa thuộc Giáo hội Phật giáo Cổ truyền – Lục
Hòa Tăng Việt Nam.
Từ
năm 1959 – 1975, trong thời kỳ chính quyền Ngô Đình Diệm
và thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Ngài đã yểm trợ, nuôi
giấu rất nhiều các chiến sĩ giải phóng được bảo toàn
bí mật công tác.
Năm
Canh Tuất – 1970, Ngài được mời làm Pháp sư giảng luật
và làm Chánh chủ kỳ trường Hương chùa Thanh Long, Đức Tu
– Biên Hòa.
Năm
Tân Hợi – 1971, Ngài được chư Sơn đề cử đảm nhận
chức vụ Tăng trưởng Phật giáo Cổ truyền – Lục Hòa Tăng,
tỉnh Biên Hòa.
Năm
Nhâm Tý – 1972, Ngài được toàn thể chư Sơn thiền đức
đề cử lên hàng Giáo phẩm Hòa thượng tại Đại giới đàn
chùa Bửu Phong, núi Bửu Long, Biên Hòa và cử làm chánh Thư
ký Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Cổ truyền – Lục
Hòa Tăng Việt Nam.
Năm
Ất Mão – 1975, sau khi đất nước thống nhất, Ngài được
mời tham gia Ủy viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Tân
Uyên, tỉnh Sông Bé. Ngài ở chức vụ này đến năm 1983.
Năm
Canh Thân – 1980, Ngài làm Hòa thượng Đàn đầu tại giới
đàn chùa Long Vân, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh
Đồng Nai.
Năm
Tân Dậu – 1981, Ngài làm Trưởng đoàn đại diện Giáo hội
Phật giáo Cổ truyền – Lục Hòa Tăng, tham dự Đại hội
Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ I tại thủ đô
Hà Nội. Cũng trong đại hội này, Ngài được suy tôn làm
Thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật
giáo Việt Nam, và là Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương
Giáo hội.
Năm
Quí Hợi – 1983, tại Đại hội Phật giáo tỉnh Sông Bé lần
thứ I, Ngài được suy cử làm Trưởng ban Trị sự tỉnh hội
Phật giáo tỉnh Sông Bé, và là Ủy viên Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam tỉnh Sông Bé cho đến năm 1995.
Suốt
trong bốn nhiệm kỳ từ năm 1983 – 1994, Ngài đều được
tín nhiệm trọng trách này. Trong thời gian này, Ngài đã tổ
chức được 3 lần Đại giới đàn và làm Hòa thượng Đàn
đầu ban truyền giới pháp cho nhiều giới tử, môn đồ.
Trong
Đại hội kỳ III Giáo hội Phật giáo Việt Nam tháng 11 năm
1992, Ngài được Hội đồng Chứng minh và Trị sự của Giáo
hội tín cử làm Chủ tọa cho phiên họp bầu Ban thường trực
của hai hội đồng. Ngoài ra, với phương châm đời sống
: đạo pháp – dân tộc, nên suốt đời Ngài dành trọn vẹn
để chu tất cho cả trong đạo lẫn ngoài xã hội.
Ngày
13 tháng 12 năm Giáp Tuất – 1995, Ngài xả báo an tường, thu
thần thị tịch, trụ thế 89 năm, hưởng 69 tuổi đạo. Bảo
tháp của Ngài được an trí tại khuôn viên chùa Hưng Long
để Tăng Ni, Phật tử chiêm bái thờ phụng.