Hòa
thượng THÍCH BỬU NGỌC
1916
– 1994
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
BỬU NGỌC
(1916
– 1994)
Hòa
thượng Thích Bửu Ngọc, pháp húy Hồng Diệp, pháp hiệu Bửu
Ngọc, nối pháp dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 40. Ngài thế
danh là Lê Văn Nghiệp, sinh năm Bính Thìn 1916, tại làng Ích
Thạnh, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định (nay là quận 9 Tp.
Hồ Chí Minh), thân phụ là cụ Lê Văn Khứ – pháp danh Hồng
Cảnh, thân mẫu là cụ Lê Thị Tân – pháp danh Hồng Tiến.
Ông bà có 5 người con, 3 nam 2 nữ, Ngài là người con thứ
trong một gia đình hết lòng sùng tín Tam bảo.
Sinh
ra và lớn lên từ truyền thống gia đình như thế, như sẵn
gieo trồng hạt giống Bồ đề nhiều kiếp trước, nên Ngài
đã sớm đến với cửa thiền vào năm vừa tròn 10 tuổi (1926)
tại chùa Long Thạnh, nay là chùa Phước Thạnh, xã Phước
Thạnh, huyện Thủ Đức, tập làm chú tiểu công quả sớm
hôm.
Duyên
lành đã đến khi Tổ Pháp Ấn, trụ trì chùa Phước Tường
một hôm đến hóa duyên tại địa phương, nhận thấy Ngài
sau sẽ là bậc pháp khí Đại thừa, có thể làm đống lương
cho Phật pháp, nên Tổ hướng dẫn Ngài về chùa Phước Tường
thế độ xuất gia và ban cho pháp danh là Hồng Diệp.
Năm
Giáp Tuất 1934, khi Phật học đường Lưỡng Xuyên – Trà
Vinh, do chư Tổ Khánh Hòa, Huệ Quang, Khánh Anh, Pháp Hải, Từ
Phong chủ xướng khai giảng, Ngài được Bổn sư giới thiệu
đến nhập chúng tu học. Cùng năm này Phật học đường mở
đàn giới, Ngài đã được đăng đàn thọ giới Sa di, do Hòa
thượng Khánh Hòa làm Đàn đầu truyền giới.
Sau
bốn năm Ban giám đốc Phật học đường Lưỡng Xuyên tổ
chức một kỳ thi tuyển chọn những Tăng sinh xuất sắc, giới
thiệu ra Huế tham học, Ngài đã được chấm đậu thủ khoa,
được Ban giám đốc và Phật tử đài thọ tất cả chi phí
trong suốt thời gian theo học tại Huế.
Năm
Mậu Dần 1938, trước khi lên đường ra Huế dự học, Ban
giám đốc Phật học viện đã tổ chức Đàn giới. Ngài được
thọ Tỳ kheo giới, chính thức dự vào hàng Tăng bảo. Lúc
này Ngài được 22 tuổi.
Sau
khi thọ giới, Ngài cùng chư pháp hữu : Thiện Hoa, Thiện Hòa,
Chí Thiện, Giác Tâm, Hiển Thụy, Hiển Không... lên đường
ra Huế nhập chúng ở Phật học đường Tây Thiên do Hòa thượng
Giác Nguyên làm giám đốc, Quốc sư Phước Huệ làm pháp sư
chủ giảng.
Năm
Canh Thìn 1940, khi chương trình Trung đẳng Phật học ở Phật
học viện Tây Thiên vừa kết thúc, Quốc sư Phước Huệ trở
vào Bình Định giảng dạy tại chùa Bạch Sa, Ngài và chư
pháp hữu cũng theo vào học với Hòa thượng một năm. Sau
đó, Ngài trở ra Huế tiếp tục theo học ở Phật học đường
Báo Quốc do Pháp sư Trí Độ làm Đốc giáo.
Năm
Quý Dậu 1943, Ngài hoàn tất chương trình Đại học Phật
giáo tại Huế, ở lại Tùng lâm Kim Sơn cùng chư học Tăng
tiếp tục trau dồi Phật học. Thời gian này, thực dân Pháp
bắt đầu nghi ngờ bố ráp những người kháng chiến, Tùng
lâm Kim Sơn không còn được yên ổn, chư Tăng phải giải
tán đi các nơi. Năm 1944, Ngài cùng pháp lữ Thiện Hòa lên
đường ra Bắc tham học tại chùa Quán Sứ – Hà Nội với
Tổ Cồn, Tổ Bằng Sở, Tổ Đồng Đắc...
Đầu
năm Tân Hợi 1945, Ngài trở lại miền Nam về Phật học đường
Lưỡng Xuyên, được chư Tổ Huệ Quang, Khánh Hòa, Khánh Anh
giao phó giảng dạy lớp gia giáo, số học Tăng theo học rất
đông. Ngài còn được giao phụ trách Chủ bút tạp chí Duy
Tâm, tiếng nói chính thức của Hội Lưỡng Xuyên Phật học
lúc bấy giờ. Hoạt động một thời gian thì chiến tranh bùng
nổ, lớp học giải tán, Tạp chí Duy Tâm đình bản. Lúc này
Ngài cùng chư tôn túc Giáo phẩm tham gia Hội Phật giáo Cứu
quốc, hoạt động tích cực ở Mỹ Tho và Đồng Tháp trong
công tác vận động các tầng lớp ủng hộ cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp.
Năm
Đinh Hợi 1947, Hòa thượng Pháp Ấn, Bổn sư của Ngài viên
tịch, Ngài rời miền Tây trở về chùa Phước Tường cư
tang Bổn sư và được giao kế nghiệp trụ trì ngôi Tổ đình,
đồng thời chăm lo thêm cho các ngôi chùa thuộc Sơn môn :
chùa Bửu Sơn; Thanh Sơn; Hội Sơn; Tân Hưng; Huê Nghiêm; Long
Nhiễu; Sùng Đức; Phước Thạnh và Thiên Quang.
Ngài
trở về Tổ đình vừa hoằng dương đạo pháp, vừa tiếp
tục hoạt động cho kháng chiến trong Hội Phật giáo Cứu
quốc Sài Gòn – Gia Định do Hòa thượng Minh Nguyệt; Pháp
Dõng; Thiện Hào lãnh đạo. Ngài được phân công làm Thư
ký của Hội trong những năm 1950 – 1960.
Năm
Quý Mão 1963, phong trào Phật giáo đấu tranh đòi tự do tín
ngưỡng của Tăng Ni, Phật tử miền Nam chống chế độ kỳ
thị tôn giáo của Ngô Đình Diệm lan rộng, Ngài đã tham gia
Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo, và bị bắt giam tại
Rạch Cát cùng chư với tôn đức Tăng Ni, Phật tử trong đêm
pháp nạn 20 tháng 8 năm 1963. Đến sau ngày 1 tháng 11 năm ấy,
khi chế độ độc tài Ngô Đình Diệm đã bị lật đổ, Ngài
mới được thả ra cùng chư tôn đức Giáo phẩm trong Ủy
ban Liên phái.
Năm
Ất Mão 1975, đất nước được thống nhất, Bắc Nam sum họp
một nhà. Với tinh thần vì đạo pháp và dân tộc, Ngài đã
tham gia vào Ban liên lạc Phật giáo Yêu nước huyện Thủ Đức.
Năm
Quý Hợi 1983, sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành
lập, rồi các Ban trị sự Phật giáo tỉnh thành, và đến
các Ban đại diện Phật giáo quận huyện, Ngài được cung
thỉnh làm Chứng minh Ban đại diện Phật giáo huyện Thủ
Đức cho đến ngày viên tịch.
Năm
Nhâm Thân 1992, tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc
kỳ III tổ chức ở Hà Nội, Ngài được suy tôn làm Thành
viên Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo
Việt Nam.
Qua
hơn 50 năm thừa hành Phật sự, giáo hòa độ sanh, Ngài đã
thế độ cho hơn 100 đệ tử xuất gia, nhiều vị trong số
đó tiếp nối sự nghiệp của Ngài là rường cột Phật pháp,
phụng sự Giáo hội. Ngài còn tổ chức nhiều Đàn giới,
làm Giới sư để truyền trì mạng mạch Phật pháp, và được
cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới của nhiều
giới đàn như : chùa Thập Phương – Rạch Giá; chùa Phước
Lâm – Tây Ninh; chùa Cửu Thiên – Thủ Đức...
Ngày
25 tháng 11 năm Quý Dậu, nhằm ngày 06 tháng 01 năm 1994, Hòa
thượng xả báo thân an tường viên tịch vào lúc 15 giờ 30
phút tại Tổ đình Phước Tường, xã Tăng Nhơn Phú, huyện
Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Ngài trụ thế 82 năm, Hạ
lạp trải qua 60 mùa An cư kiết Hạ. Môn đồ pháp quyến xây
Bảo tháp tôn trí nhục thân Ngài nơi khuôn viên Tổ đình.